CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với sự đa dạng hóa thành phần kinh tế, phong phú ngành nghề, quy mô kinh doanh. Song song với việc chuyển đổi nền kinh tế, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước cũng thay đổi, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế mà quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các công cụ, các chính sách quản lý kinh tế nhằm tác động đến cung, cầu, giá cả, việc làm, … nhằm mục đích tạo môi trường kinh doanh ổn định và phát triển. Trong đó, thuế được coi là một trong những công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình.
Vì vậy, thuế là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia, bất kể quốc gia phát triển hay đang phát triển. Thuế mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, góp phần tăng cường công tác kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo tính ổn định và nguồn lực cho ngân sách nhà nước. Thuế không những là nguồn thu quan trọng chủ yếu của ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng to lớn đến công cuộc phát triển kinh tế. Mỗi quyết định về thuế đều liên quan đến tích lũy, đầu tư, tiêu dùng, đến vấn đề phân bổ nguồn lực trong xã hội.
Cụ thể, nó biểu hiện qua các mặt: Tạo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, ổn định tài chính tiền tệ, tạo ra sự đảm bảo an toàn về tài chính cho các hoạt động kinh tế xã hội. Thuế không chỉ góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và động viên một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước, đảm bảo sự đóng góp 2 công bằng, hợp lý giữa tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập. Do đó, thực hiện tốt công cuộc cải cách, hiện đại hóa ngành thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế trong thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước là một trong những mục tiêu chiến lược mà ngành thuế đề ra. Nhằm đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết các yêu cầu hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về dịch vụ thuế được thuận lợi nhất, đồng thời giám sát được công chức thuế trong việc thực hiện giải quyết các yêu cầu, thủ tục hành chính của NNT, ngày 11 tháng 12 năm 2015 Tổng Cục Thuế đã ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TCT “Về việc ban hành quy trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế theo cơ chế một cửa tại cơ quan thuế”.
Tuy nhiên, từ khi thực hiện Quy chế Một cửa đến nay, chưa có một kết quả cụ thể để đo lường mức độ hài lòng của khách hàng DN đối với Chi Cục Thuế Quận Cái Răng nhằm đánh giá đúng đắn, tính hiệu quả của việc thực hiện cơ chế Một cửa hoặc nhận ra những hạn chế, khuyết điểm để có hướng bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. Xuất phát từ thực tế đó bản thân quyết định chọn đề tài “Đánh giá mức độ hài lòng của Doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ nộp thuế tại Chi Cục Thuế Quận Cái Răng” làm đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp thêm thông tin cho nhà lãnh đạo để có cái nhìn tổng quan về kết quả thực hiện công cuộc cải cách, hiện đại hóa ngành thuế trên địa bàn Quận Cái Răng đồng thời có được chính sách phù hợp nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng doanh nghiệp để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.2 Lược khảo tài liệu Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng đối với chất lượng dịch vụ, trong đó có một số dựa trên mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman và các cộng sự, cụ thể: Phan Tấn Nhĩ (2017) “Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ thuế tại Chi Cục Thuế Tỉnh Vĩnh Long” Nghiên cứu dựa trên 3 mô hình chất lượng dịch vụ thang đo SEVQUAL của Parasuraman gồm 05 nhân tố độc lâp: (1) mức độ tin cậy (7 biến); (2) mức độ đáp ứng (7 biến); (3) năng lực phục vụ (7 biến); (4) mức độ đồng cảm (4 biến); (5) phương tiện hữu hình (7 biến) và 01 nhân tố độc lập mức độ hài lòng của doanh nghiệp (5 biến). Với cỡ mẫu là 250 gồm 37 biến quan sát hệ số tương quan biến tổng của các biến đều trên 0,3, hệ số Cronbach Alpha của các nhân tố đều trên 0,6 nên phù hợp để tiếp tục phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy Hệ số KMO = 0,679 > 0,5, hệ số sig = 0,000 do vậy các biến quan sát có tương quan vơi nhau xét trên phạm vi tổng thể.
Phương sai trích bằng 70,564% có nghĩa là 05 nhân tố giải thích được 70,564% biến thiên của sự hài lòng về chất lượng dịch vụ thuế, còn lại 29,436% được giải thích bởi các biến chưa nghiên cứu. Ngô Phương Nam (2016) “Đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp khi khai báo hải quan điện tử tại Cục Hải Quan Thành Phố Cần Thơ“. Nghiên cứu dựa vào mô hình chất lượng dịch vụ SEVQUAL của Parasuraman gồm 07 nhân tố: (1) Hệ thống khai báo hải quan điện tử; (2) Độ tin cậy; (3) Khả năng đáp ứng; (4) Mức độ an toàn; (5) Sự cảm thông; (6) Phương tiện hữu hình; (7) Lệ phí và chi phí. Bảng câu hỏi gồm 33 biến quan sát với 07 nhân tố được giả định với cỡ mẫu 170.
Sau khi thực hiện kiểm định Bartlett’s cho thấy giữa các biến trong tổng thể có mối tương quan với nhau (sig = 0,000 < α= 0,05), đồng thời hệ số KMO = 0,71 thỏa điều kiện (0,5 < KMO < 1) chứng tỏ phân tích nhân tố cho việc nhóm các biến này lại với nhau là thích hợp. Qua phân tích nhân tố khám phá EFA đã loại bỏ 07 biến không phù hợp với mô hình và còn lại 26 biến quan sát tương ứng với 07 nhân tố. Sau khi phân tích hồi quy R2 = 0,6879 > 0,5 mô hình đạt giá trị thích hợp nghĩa là 7 nhân tố giải thích được 68,79% biến thiên của sự hài lòng về chất lượng dịch vụ hải quan điện tử của doanh nghiệp, còn lại 31,03% được giải thích bởi các biến chưa nghiên cứu. Cần có những nghiên cứu tiếp theo để tìm ra các nhân tố chưa đưa vào mô hình này.
Đinh Phi Hổ & Nguyễn Thị Bích Thủy (2011) “ Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với dịch vụ hỗ trợ thuế ở tỉnh Đồng Nai”. Nghiên cứu dựa vào mô 4 hình phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy bội, nhóm tác giả nhận diện được một hệ thống thang đo nhằm đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với dịch vụ hỗ trợ thuế gồm 5 nhân tố: (1) Sự tin cậy của doanh nghiệp đối với cơ quan thuế; (2) Đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp; (3) Năng lực phục vụ của cơ quan thuế; (4) Sự đồng cảm đối với doanh nghiệp; (5) Phương tiện vật chất của cơ quan thuế. Bảng câu hỏi bao gồm 41 biến quan sát với 5 nhân tố được giả định, sau khi phân tích EFA có 15 biến quan sát đã bị loại bỏ, còn lại 26 biến quan sát đưa vào hình thành 6 nhân tố mới. Kết quả phân tích hồi quy có R2 = 0,656; mức độ hài lòng phụ thuộc vào 4 nhân tố theo thứ tự tầm quan trọng ảnh hưởng: sự đồng cảm, phương tiện vật chất, năng lực phục vụ và sự tin cậy.
Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Huệ (2010) “Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng phục vụ của ngành thuế tỉnh An Giang”, có 5 yếu tố với 22 biến quan sát (cở mẫu 114 phiếu). Sau khi thực hiện kiểm định Bartlett’s cho thấy giữa các biến trong tổng thể có mối tương quan với nhau (sig = 0,000 < α= 0,05), đồng thời hệ số KMO = 0,815 thỏa điều kiện (0,5 < KMO < 1) chứng tỏ phân tích nhân tố cho việc nhóm các biến này lại với nhau là thích hợp. Kết quả p hân tích hồi quy R2 = 0,559, đã rút ra được 4 nhân tố chính ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của doanh nghiệp là: Độ tin cậy, sự đáp ứng, sự thuận tiện và tính công tâm khách quan của cán bộ thuế. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đức (2011) “Đánh giá mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang”, có 5 yếu tố của chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của doanh nghiệp là: Cơ sở hạ tầng, sự tin cậy, mức độ đáp ứng, sự đảm bảo và sự cảm thông.
Với 21 biến quan sát độc lập (cở mẫu 126 phiếu), sau khi thực hiện kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach Anpha, qua các lần kiểm định, phân tích nhân tố loại bỏ các biến không đạt yêu cầu. Còn lại 11 biến được rút gọn thành 3 nhân tố, bao gồm: Nhân tố thứ nhất: Chính sách hỗ trợ đầu tư và tính chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ tại khu công nghiệp; nhân tố thứ hai: Cơ sở hạ tầng; nhân tố thứ 3: Khả năng thực hiện các 5 cam kết. Kết quả phân tích R2 = 0,608 và hệ số tải của các nhân tố đều cho kết quả phù hợp (> 0,5), hệ số KMO = 0,764 thỏa điều kiện 0,5 ≤ KMO ≤ 1, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê với Sig = 0,000 < 0,05. Lê Minh Nhựt (2011) “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng Doanh nghiệp đối với dịch vụ hành chính thuế tại Văn phòng Cục Thuế tỉnh Kon Tum”, Luận văn thạc sĩ Đại học Đà Nẵng.