Chương I của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/04/2018 về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính có định nghĩa Cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính là phương thức tiếp nhận hỗ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, theo dõi, giám sát, đánh giá việc gidi quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân của một cơ quan có thâm quyền thông qua Bộ phận một cửa. Nguyên ti của cơ chế một cửa. Co che cửa phải tuân theo một số nguyên tắc theo quy chế do Thủ tướng Chính phủ ban hành như: -+ Các thủ tục hành chính đơn giản, rõ rằng, đúng với quy định của pháp luật; + Phải được niêm yết công khai, đầy đủ về các TTHC như giấy tờ, hồ sơ, thời gian giải quyết, lệ phí,. + Phải đảm bảo giải quyết vấn đề nhanh chóng, thuận tiện cho các cá nhân, tổ chức; + Giữa các cơ quan hành chính cần phải được phối hợp chặt chẽ trong việc.
giải quyết vấn đề của cá nhân, tổ chức; + Bắt buộc phận nhận hồ sơ, yêu cầu và trả kết quả sau khi xử lý tại bộ phận.3 Những mô hình phễ biến trong cơ chế một cửa Mặc dù cơ chế một cửa được sử dụng ở tất cả các cơ quan, đơn vị có thâm quyền, tuy nhiên hình thức, mô hình của cơ chế mày lại được bố trí khác nhau: + Sử dụng 1 đến 2 chuyên viên chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của bộ phận một cửa; + Cử nhân viên ở các phòng chuyên môn thay phiên nhau làm việc tại bộ phận một cửa; + Các phòng chuyên môn cử người tới làm việc cố định tại bộ phận một cửa. -12- Hiện nay có một số mô hình đang được áp dụng ở nhiều nơi, tuy nhiên mỗi mô hình lại tồn tại những ưu nhược điềm của riêng mình nên việc lựa chọn mô hình nào cho phù hợp, thuận tiện nhất cho người dân còn phụ thuộc vào chức năng, tính chất của các cơ quan; phải xem xét tới vấn đề địa bàn, dân số, mức độ phức tạp tại khu vực để sắp xếp hình thức chuẩn và có thế hỗ trợ giải quyết các vấn đề của người dân một cách nhanh chóng, mang lại hiệu quả nhất.4 Thực trạng cơ chế một cửa hiện nay tại cơ quan Thuế Cơ chế một cửa đã được thực hiện trong một thời gian dài, chúng ta có thể thấy được sự thay đổi rõ rệt về mặt tích cực trong việc giải quyết vấn đề giữa cơ quan “Thuế và các cá nhân, tô chức. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ tại bộ phận một cửa: ~ Ưu điểm: + Với mục tiêu hỗ trợ giải quyết các TTHC một cách nhanh chóng, mang lại hiệu quả, công chức sẽ hướng dẫn đầy đủ và nhiệt tình cũng như việc chuẩn bị đẩy đủ các loại giấy tờ cần thiết, làm giảm số lần bô sung hồ sơ, tránh lãng phí thời gian đáng kể, chỉ phí tiếp nhận và giải quyết hồ sơ các TTHC được công khai rõ rằng, mình bạch, làm hạn chế tình trạng quan liêu, tham những của cán bộ công chức; + Cán bộ công chức tại bộ phận một cửa luôn được Lãnh đạo Cơ quan Thuế quan tâm, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp và giải quyết công việc để có đủ năng lực phục vụ, trả lời được những vướng mắc của NNT khi liên hệ làm. việc; + Ngoài ra với sự phát triển của các phần mềm quản lý và công nghệ thông tin giúp cho quá trình xử lý hồ sơ nhanh chóng, gọn gàng hơn.
Những thông tin, quy trình, thủ tục được công khai minh bạch trên các trang mạng điện tử cũng giúp cho. NNT tra cứu dé dang hơn để NNT chủ động chuẩn bị ồ sơ đầy đủ trước khi liên hệ làm việc. ~ Những tồn tại cần khắc phục của cơ chế một cửa: -13- + NNT đôi khi vẫn còn gặp trở ngại trong việc xử lý các TTHC khi gặp những. van dé tiêu cực ở cán bộ công chức đòi hỏi NNT; + Chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ công chức vẫn còn hạn chế, chưa.
am hiểu kỹ các TTHC dẫn tới việc tư vấn sai dẫn tới việc NNT phải liên tục sửa và bổ sung hồ sơ. Các hoạt động nâng cao chuyên môn cho cán bộ công chức vẫn còn mang tính đối phó với quy định nhà nước, chưa mang lại nhiều hiệu quả thực tế. + Méi quan hệ giữa các phòng ban các các ban ngành khác vẫn chưa được liên kết chặt chẽ, thủ tục còn rườm rà, phức tạp, thường xuyên bị thay đổi khiến quá trình. phối hợp trở nên khó khăn, kéo dài thời gian giải quyé 2.
Chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ công. Khái niệm Lý thuyết về chất lượng dịch vụ là một phạm trù rộng và có rất nhiều định. nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ, nhưng bản chất của chất lượng địchvụ nói chung được xem là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận vẻ chất lượng dich vu cũng khác nhau.
Chất lượng dịch vụ là việc các nhả cung cấp dịch vụ đáp ứng mức độ nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng với dịch vụ đó. Vì thế, chất lượng dịch vụ chủ yếu do. khách hàng xác định, mức độ hài lòng của khách hàng cảng cao thì chất lượng dich 'vụ cảng tốt. “Theo Lehtinen (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ được đánh giá trên 2 khía.
cạnh (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Còn theo Gronroos (1984) cũng đưa ra định nghĩa về chất lượng dịch vụ gồm 2 yếu tố của chất lượng. dịch vụ đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Trong đó chất lượng dịch vụ liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng cho biết chúng được phục vụ thế nào.
Chất lượng dịch vụ còn là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của -I4- khách hàng (Cronin và Taylor, 1992; Yavas va cac cong su, 1997; Ahmad va Kamal, 2002). Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chat lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng. Nói đến CLDV không thể không đề cập đến đóng góp to lớn của Parasuraman. và công sự (1985) về mô hình 5 khoảng cách và 5 thành phần chắt lượng dịch vụ, gọi tắt là SERVQUAL.
Trong đó, chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong. đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ. Đây có lẽ là mô hình phổ biến nhất trong các mô hình của CLDV, “Trên cơ sở khái quát về chất lượng địch vụ nói chung, chất lượng dịch vụ công. được hiểu là mức độ cảm nhận của người dân về các thủ tục hành chính nhà nước và cách thức hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết công việc của công chức nhà nước.
Chất lượng dịch vụ công công được đánh giá dựa trên kết quả thực thi pháp luật và thái độ, trách nhiệm phục vụ của công chức nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của. người dân. Thành phần của chất lượng dịch vụ “Theo Parasuraman và cộng sự (1985), bắt cứ loại hình dịch vụ được cảm nhận bở khách hàng và đánh giá dựa trên 10 thành phần như sau: + Độ tn cậy (reliability) là khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên; + Đắp ứng (responsiveness) đề cập đến sự sẵn sảng, mong muốn của các nhân viên nhằm giúp đỡ khách hàng; + Năng lực phue vu (assurance) la trinh độ, năng lực, kỹ năng và kiến thức của nhân viên đề cung cấp những dịch vụ mong đợi tại tắt cả các cắp trong tổ chức; + Tiếp cận (access) đề cập đến việc tạo điều kiện thuận lợi, dé dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận dịch vụ. + Truyền thông (communication) liên quan đến ngôn ngữ mà khách hàng có.
-1S- thể hiểu và lắng nghe khách hàng một cách chân thành. + Lịch sự (courrtesy) nói lên sự tôn trọng, quan tâm và thân việc với khách hang + Tín nhiệm (eredibility) chính là việc tạo lòng tin cho khách hàng để ho tin vào công ty. + An toàn (security) là khả năng đảm bảo sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, bảo mật thông tin. + Hiểu biết về khách hàng (understanding) nói lên khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi cũng như quan tâm đến họ.
+ Phuong tiện hữu hình (tangibles) gồm các loại tài sản như tài sản hữu hình, vô hình, ngoại hình, trang phục của nhân viên. Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ (Mô hình SERVQUAL) 2. Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ Parasuraman & ctg (1985) đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL hay mô hình SERVQUAL được ghép từ hai từ SERVice- Dịch vụ và QUALity - Chất lượng). -16- { Dich vu ky vong * Khoang cach (5) + KHÁCH Dịch vụ cảm nhận HÀNG Khoảng cách (1) Dịch vụ chuyển giao Thong tin dén : khách hàng.
‡ Khoảng cách (3) : Chuyển đổi cảm nhận NHÀ thành tiêu chí chất lượng TIẾP THỊ + T 4 Khoang cach (2) Nhận thức về kỳ vọng của khách hàng Hình 2. 1: Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ SERVQUAL (Nguôn: Parasuraman và các cộng sự (1985, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2003) Để đo lường CLDV, Parasuraman và cộng sự (1985) đã xây dựng mô hình 5 khoảng cách (KC) chất lượng dịch vụ như sau: ~ Khoảng cách I (Gap 1): khoảng cách về kiến thức thể hiện sự khác biệt giữa. những gì khách hàng mong đợi và những nhà cung cắp nhận th ~ Khoảng cách 2 (Gap 2): khoảng cách về tiêu chuẩn, xuất hiện khi nhà cung cấp chuyển đổi nhận thức về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính chất lượng. của dịch vụ; ~ Khoảng cách 3 (Gap 3): khoảng cách về hoạt động là kết quả từ sự không phù hợp giữa các tiêu chí cung.
ấp dịch vụ theo yêu cầu của nhà quản lý và các dịch vụ thực tế được cung cấp bởi nhân viên; ~ Khoảng cách 4 (Gap 4): khoảng cách về truyền đạt do hiệu ứng truyền thông. làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng bản thân nhân viên không thực hiện được.