Chương 1: Giới thiệu Chương này nêu rõ lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của luận văn và cấu trúc bài báo cáo luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Giới thiệu các khái niệm và lý thuyết làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, trình bày một số khái niệm về chất thải, về sự hài lòng và yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng. Trên cơ sở kết quả một số nghiên cứu có trước của các tác giả trong và ngoài nước, luận văn tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được thực hiện để xây dựng và đánh giá thang đo đo lường các khái niệm nghiên cứu và kiểm định mô hình lý thuyết đã đề ra, gồm thiết kế nghiên cứu (thiết kế bảng hỏi, thiết kế mẫu, thiết kế thang đo), nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức và các bước phân tích dữ liệu thu thập được.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung chương này sẽ trình bày là mô tả dữ liệu thu thập được, đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố và hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu, phân tích hồi quy đa biến và kiểm định các giả thuyết đề ra. Một số đề xuất kiến nghị để nâng cao sự hài lòng của người dân đối với công tác thu gom rác trên địa bàn thành phố Đà Lạt. 5 Chương 5: Kết luận và kiến nghị Chương tóm tắt kết quả nghiên cứu, đưa ra kết luận từ nghiên cứu. Gồm các nội dung chính: tóm tắt nội dung nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu, và một số hạn chế của nghiên cứu, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG 2 CƠ CỞ LÝ THUYẾT Chương này tập trung nghiên cứu các khái niệm về chất thải, sự hài lòng của khách hàng, các nghiên cứu có trước để làm nền tảng đưa ra được một mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ thu gom rác và sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ thu gom rác. Đặt ra các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu.1 Các khái niệm về chất thải 2.1 Khái niệm về chất thải Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên và thải ra môi trường. Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng. Ngoài ra chất thải còn được định nghĩa là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng.
Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn, quán ăn…Lượng chất thải phát sinh thay đổi do tác động của nhiều yếu tố như tăng trưởng và phát triển sản xuất, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và sự phát triển điều kiện sống và trình độ dân trí.2 Khái niệm về chất thải rắn Chất thải rắn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay không còn muốn sử dụng nữa. Phần lớn chất thải rắn là thể rắn và có ở khắp mọi nơi trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỉ lệ cao nhất.3 Một số nguồn phát sinh chất thải rắn chủ yếu tại Đà Lạt 2.1 Chất thải sinh hoạt 7 Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre gỗ, lông gà, vịt, vải, giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả…Theo phương diện khoa học có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau: - Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn dư thừa, rau quả…loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các chất có mùi khó chịu, đặc biệt là trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ gia đình còn có các loại thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc xá, chợ… - Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của các động vật khác - Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các vật liệu thải bỏ sau khi đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than.
- Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là các lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói… 2.2 Chất thải trong lĩnh vực nông nghiệp Chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, … cần được quản lý vì nó tác động trực tiếp đến đời sống sức khỏe của con người. Chất thải trong lĩnh vực nông nghiệp là lương thực, thực phẩm,… bị loại bỏ thường bị thối rữa lây lan dịch bệnh cho người và động vật. Nếu quản lý nghiêm ngặt, thu gom, xử lý, tái chế các loại chất thải từ nông nghiệp thì đây cũng là nguồn tài nguyên có lợi ích kinh tế đáng kể.3 Chất thải trong lĩnh vực dịch vụ Dịch vụ bao gồm thương mại, dịch vụ… là nơi phát sinh nhiều loại chất thải có thế xử lý, tái chế mang lại nhiều lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường nơi tập 8 trung nhiều người. Lượng chất thải thương mại dịch vụ tỷ lệ thuận với lượng hàng hóa, sản phẩm lưu thông trên thị trường nhưng tỷ lệ nghịch với trình độ công nghệ của loại hình thương mại dịch vụ đó.
Chất thải thương mại, dịch vụ nếu không được thu gom, lưu trữ và xử lý hợp lý sẽ gây tác động tiêu cực đến sức khỏe con người như các vụ ngộ độc thực phẩm khi sử dụng phải những hàng hóa, sản phẩm hết hạn sử dụng hay kém chất lượng, các bệnh về đường hô hấp, viêm da vì những người dân nghèo nhất là phụ nữ và trẻ em làm công việc thu gom nhặt những túi nilon và các loại phế thải được thu gom và chở đến những bãi rác, họ thường xuyên phải tiếp xúc với môi trường độc hại của bãi rác. Vấn đề này đòi hỏi các nhà chức năng xem xét trong hoạt động quản lý và xử lý chất thải rắn dịch vụ.4 Ảnh hưởng của chất thải đến môi trường và con người Chất thải rắn sau khi được phát sinh có thể thâm nhập vào môi trường không khí dưới dạng bụi hay các chất khí bị phân hủy như H2S, NH3…theo đường hô hấp đi vào cơ thể con người hay động vật. Một bộ phận các chất thải khác, đặc biệt là các chất hữu cơ gây hôi thối, phát triển vi khuẩn làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất, làm mất vệ sinh môi trường. Ngoài ra, chỗ tập trung các chất thải hữu cơ còn là nơi thu hút, phát sinh và phát triển chuột, ruồi, muỗi, gián và các loại vi trùng gây nhiều chứng bệnh truyền nhiễm cho con người, vật nuôi trong gia đình và lây lan gây thiệt hại lớn; nước thải từ bãi rác độc hại nếu thải ra nguồn nước sẽ gây ô nhiễm lây lan.
Các chất thải kim loại nặng khi thải ra có nguy cơ thâm nhập vào nguồn nước hay môi trường đất rồi vào cơ thể con người qua thức ăn, thức uống. Ngoài những chất hữu cơ có khả năng phân hủy nhanh chóng, chất thải rắn còn chứa những chất rất khó phân hủy hoặc mất rất lâu thời gian để có thể tự phân hủy (như nhựa hay túi nilon). Mặt khác, việc xử lý chất thải rắn luôn phát sinh những nguồn ô nhiễm mới, nếu không có biện pháp xử lý triệt để, các chất ô nhiễm dạng rắn có thể dịch chuyển thành các chất ô nhiễm dạng khí hay dạng lỏng.5 Quy trình thu gom rác thải đô thị Công đoạn gom rác thải được thực hiện bắt đầu từ điểm phát sinh, gồm những phần việc sau: Chứa rác tạm thời tại nguồn (hộ dân cư, cơ quan, trường học, chợ, cửa hàng. Dụng cụ để chứa thường là bao nhựa, thùng nhựa hoặc sắt, container.
Kích thước và đặc điểm từng loại phụ thuộc vào mức độ phát sinh và tần số thu gom. Việc thu gom được tiến hành thủ công hay cơ giới tuỳ vào khả năng kinh tế và mức độ phát triển kỹ thuật. Thu gom thủ công là chuyển bằng tay các bao rác, thùng rác đổ lên xe tải hoặc xe tay. Thu gom cơ giới áp dụng được khi các loại thùng chứa phải được tiêu chuẩn hoá.
Tần số thu gom phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và thành phần rác. Đối với địa phương có đặc điểm nhiệt độ cao, rác có thành phần hữu cơ lớn thì mức độ phân huỷ rác do vi sinh sẽ nhanh hơn, gây mùi khó chịu tại điểm chứa rác và do vậy việc gom rác phải được làm thường xuyên hơn. Rác có thể được chuyển trực tiếp từ nơi chứa tạm thời đến điểm xử lý nếu điều kiện về giao thông cho phép (khoảng cách đến bãi rác gần). Khi nơi xử lý cách xa khu đô thị thì có thể thành lập các điểm trung chuyển gom rác trong thời gian ngắn nhất về đây, sau đó dùng các phương tiện có công suất lớn chuyển rác đến nơi xử lý.
Những phương pháp xử lý chính là tái chế, đốt, chôn lấp, làm phân rác. Tuỳ điều kiện cụ thể và thành phần rác mà người ta lựa chọn phương pháp phù hợp từ các phương pháp cơ bản trên.6 Phí dịch vụ môi trường "Phí dịch vụ môi trường là một dạng phí phải trả khi sử dụng một số dịch vụ môi trường. Mức phí tương ứng với chi phí cho dịch vụ môi trường đó. Bên cạnh đó, phí dịch vụ môi trường còn có mục đích hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ môi trường" (*) (*) http://vea.