Chương 1. Cơ sở lý luận tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội - Chương 3. Quan điểm và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm Theo quy định tại khoản 1, điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [32]. Theo quy định tại điều 3, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính Phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập: Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công [10].
Theo đó, cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công được hiểu là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong công tác tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Như vậy, cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công được hiểu là các quy định về quyền tự chủ, các đơn vị này tự chịu trách nhiệm đối với những nhiệm vụ mang tính chất thuộc phạm vi cũng như quyền hạn của các đơn vị sự nghiệp công về tổ chức bộ máy và nguồn tài chính của đơn vị. Quyền tự chủ tài chính của các cơ quan nhà nước là việc các cơ quan nhà nước tự đứng ra trực tiếp sử dụng đối với nguồn kinh phí được cơ quan nhà nước cấp, có đầy đủ các thành phần về mặt tài khoản cũng như con dấu riêng đã được cơ quan nhà nước có 9 thẩm quyền quyết định giao về kinh phí hoạt động cũng như số lượng biên chế của đơn vị, cơ quan đó. Pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong việc áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng tới việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập để hoàn thành nhiêm vụ được giao và phát huy mọi khả năng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.
Nội dung pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Một là, đặc điểm, phân loại và kế hoạch lộ trình tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập - Theo khoản 2, điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010, đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập đối với từng lĩnh vực sự nghiệp căn cứ vào khả năng tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và phạm vi hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập [32]. - Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 loại: + Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư 10 + Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên + Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên + Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
Ngoài ra còn căn cứ theo vị trí pháp lý của đơn vị sự nghiệp công lập để phân loại đơn vị sự nghiệp công lập [10]. Phấn đấu đạt các mục tiêu của Trung Ương đề ra: đến năm 2021, phấn đấu có 10% đơn vị tự chủ tài chính, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 – 2015; đến năm 2025 và 2030, phấn đấu có tối thiểu 20% đơn vị tự chủ tài chính, tiếp tục giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 – 2020; đến năm 2030, giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 – 2025 [2]. Hai là, quy định về nguồn tài chính và sử dụng nguồn tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: nguồn thu từ ngân sách nhà nước, nguồn thu phí, lệ phí, nguồn thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp công và các nguồn thu khác [10]. Cụ thể như sau: - Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên: Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí; Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí); Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ 11 chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; Nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật.
- Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công; Nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí); Nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công; Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có); Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. - Đối với đơn vị sự nghiệp công do nhà nước bảo đảm chi thường xuyên: Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Nguồn thu khác (nếu có); Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực 12 hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; Nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật. Các nội dung chi trong đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 02 loại: Chi thường xuyên và chi nhiệm vụ không thường xuyên. Chi thường xuyên gồm: chi tiền lương, chi hoạt động chuyên môn, quản lý, chi cho việc thực hiện thu phí, lệ phí, kể cả trích khấu hao tài sản cố định theo quy định.
Chi nhiệm vụ không thường xuyên gồm: chi từ nguồn thu phí, lệ phí được để lại chi (chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí), chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; chi đầu tư phát triển; chi mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chi thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; chi từ nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định; các khoản chi khác theo quy định. Ba là, quy định về tự chủ trong giao dịch tài chính Đơn vị sự nghiệp công được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước.