Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án; Chương 2. Cơ sở lý luận về quản trị tài chính tại các trƣờng đại học công lập ngành y; Chương 3. Thực trạng quản trị tài chính tại các trƣờng đại học công lập ngành Y hiện nay; Chương 4.
Một số giải pháp hoàn thiện quản trị tài chính tại các trƣờng đại học công lập ngành y ở Việt Nam trong cơ chế tự chủ. 9 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài Trên Thế giới, mỗi nƣớc có một nền giáo dục đại học khác nhau, nhƣng dù nhƣ thế nào thì vai trò của tài chính cho giáo dục luôn giữ một vị trí quan trọng quyết định đến sự phát triển của Nhà trƣờng. Các nhà khoa học, các nhà quản lý ở các nƣớc trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tài chính đối với các trƣờng đại học.
Các nghiên cứu đã dựa trên hai nguyên lý cơ bản là: nghiên cứu về tài chính công trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu về quản lý tài chính trong trƣờng đại học. a) Nghiên cứu về tài chính công trong lĩnh vực giáo dục Milton Friedman (1955) là một nhà kinh tế học ngƣời Mỹ đoạt giải Nobel, ngƣời đầu tiên nghiên cứu về vai trò của Chính phủ trong giáo dục và qua đó lý giải cơ sở khoa học cho phân bổ ngân sách Nhà nƣớc cho các trƣờng đại học công. Ông đƣa ra vai trò của Nhà nƣớc trong quản lý giáo dục theo nguyên tắc: Nhà nƣớc xây dựng luật - xử lý vi phạm và hỗ trợ một phần kinh phí cho nhà trƣờng, ngƣời học; phần còn lại thì để cho Nhà trƣờng đƣợc tự chủ và ngƣời giám sát sẽ là những quy luật của thị trƣờng, Nhà nƣớc không cần can thiệp sâu. Theo ông, khi Nhà nƣớc can thiệp quá nhiều vào giáo dục, điều đó không những không tốt mà còn có thể có hại.
Nhà nƣớc chỉ can thiệp trong một số trƣờng hợp đặc biệt [107]. Schultz (1961) là ngƣời phát triển tiếp với nghiên cứu: “Investment in Human Capital”, nhấn mạnh đầu tƣ công cho giáo dục, đặc biệt giáo dục đại học. Ông cho rằng đầu tƣ nguồn nhân lực đã mang lại hiệu quả vốn nhân lực lớn hơn các nguồn vốn khác và càng ngày ngƣời ta càng đầu tƣ nhiều hơn cho giáo dục so với các loại hình đầu tƣ khác [116].(1979), đã cho tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn”. Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công đƣợc tác giả bàn rất chi tiết.
Một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở nƣớc Anh đã đƣợc đƣa ra phân tích và lồng ghép vào các nội dung lý thuyết [97].(2007) cũng cho tái bản lần thứ hai cuốn sách cùng tên là “Tài chính công - Lý thuyết và thực tiễn” của mình. Holley đƣa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Hoa Kỳ. Trong các nghiên cứu đó, khi đƣa vấn đề thực tiễn vào phân tích tác giả cũng đƣa vấn đề giáo dục công lập và tài chính cho giáo dục công lập, đặc biệt ở Hoa Kỳ các nghiên cứu mang tính học thuật cao [103]. Các nghiên cứu trên tập trung phân tích về sự quản lý tài chính công đối với giáo dục, phân tích chính sách vĩ mô của các nƣớc trong việc hỗ trợ và khuyến khích gắn với hoạt động quản lý tài chính công trong giáo dục.
Các nghiên cứu đã đƣa ra quan điểm: tự chủ đại học dù ở quốc gia nào Nhà nƣớc vẫn duy trì sự kiểm soát ở một mức độ nhất định. Ở hầu hết các nƣớc trên Thế giới, nguồn tài chính công của Chính phủ cho các trƣờng đại học công ngày càng giảm và chính sách học phí có nhiều thay đổi theo xu hƣớng tăng nhằm đảm bảo nguồn cho các chi phí ngày càng tăng cao của giáo dục đại học. b) Nghiên cứu về tài chính trong các trƣờng đại học Tsang, MC. Marianne và Lesley (2000), mở rộng đối tƣợng nghiên cứu không chỉ tài chính mà các nguồn lực khác cho giáo dục [106].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu theo hƣớng này mang tính ứng dụng và tác nghiệp, đôi khi cũng lồng ghép lý thuyết tài chính công. 11 z Malcolm Prowle và Eric Morgan (2005), một công trình nghiên cứu về quản lý và kiểm soát tài chính đối với giáo dục đại học. Cuốn sách này đƣợc coi là cẩm nang nghề nghiệp của những ngƣời quản lý tài chính trong các trƣờng đại học ở Mỹ [105]. Phạm Đỗ Nhật Tiến (2007), nghiên cứu nƣớc ngoài tiếp cận cơ chế quản lý tài chính của các trƣờng đại học, cho thấy nguồn kinh phí hoạt động của từ các nguồn: Nhà nƣớc hỗ trợ, nguồn thu học phí và nguồn thu khác từ bên ngoài.
Ở nhiều nƣớc phát triển, các trƣờng đại học công lập có quyền tự chủ rất cao và có một nguồn thu khá lớn từ ngân sách của Chính phủ. Chẳng hạn nhƣ ở nƣớc Pháp, nguồn ngân sách của Chính phủ chiếm khoảng 80% ngân sách của các trƣờng đại học, trong đó chủ yếu là các trƣờng đại học công lập. Ở Hoa Kỳ, nguồn thu của các trƣờng đại học công lập từ ngân sách Chính phủ là khoảng 60%, trong đó Chính phủ các bang chiếm khoảng 45%, tiếp đó là Chính phủ liên bang và địa phƣơng. Ở nƣớc Anh, từ sau chiến tranh Thế giới thứ hai, nguồn thu của các trƣờng đại học cũng chủ yếu là từ nguồn ngân sách của Chính phủ, năm 1976 là 76,2%.
Ở Nhật Bản, nguồn tài trợ của Nhà nƣớc chiếm khoảng gần 50% tổng nguồn thu của các trƣờng đại học công lập (1984), ở CHLB Đức, tỷ lệ này trong những năm gần đây là khoảng 72%, trong đó có một tỷ lệ đáng kể dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trƣờng đại học [62]. Nhìn chung, các nghiên cứu ngoài nƣớc đã làm rõ một khung khổ lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động quản lý tài chính của các trƣờng đại học trên Thế giới và các nghiên cứu về tài chính tại một trƣờng đại học cụ thể đều mang tính tác nghiệp cao. Tuy nhiên, đây là những nghiên cứu mô hình quản lý ở những trƣờng đại học của các nƣớc nền kinh tế phát triển. Đối với cơ chế và điều kiện của Việt Nam, luận án cần nghiên cứu để vận dụng, 12 z đề xuất các giải pháp quản trị tài chính phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và đặc biệt là đối với đặc thù của các trƣờng đại học công lập ngành y.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Việt Nam, cùng với sự phát triển của đất nƣớc, công cuộc đổi mới giáo dục đại học trong những năm qua đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là đổi mới cơ chế tài chính theo xu hƣớng tự chủ và hội nhập quốc tế. Cùng với quá trình phát triển đó đã có nhiều công trình nghiên về tài chính đối với giáo dục đại học công, dựa trên hai nguyên lý cơ bản: tài chính công đối với giáo dục và quản lý tài chính trong trƣờng đại học. Tổng quan các công trình nghiên cứu theo nội dung từng chuyên đề nhƣ: a) Nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính của trƣờng đại học công lập Các công trình nghiên cứu về cơ chế tự chủ của các trƣờng đại học công lập đã phân tích rõ về cơ sở lý luận, thực trạng cơ chế tự chủ tài chính đối với các trƣờng ĐHCL, vai trò của Nhà nƣớc và trƣờng đại học trong tự chủ tài chính. Nội dung này không những đƣợc các nhà nghiên cứu mà cả các nhà quản lý, ngƣời học và nhiều ngƣời dân khác quan tâm.
Phan Huy Hùng (năm 2009), nghiên cứu về: “Quản lý Nhà nƣớc theo hƣớng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trƣờng đại học ở Việt Nam”. Tác giả đã làm rõ một số vấn đề về tầ m quan tro ̣ng , vai trò của Nhà nƣớc về quản lý GDĐH theo hƣớng giám sát, tài trợ hệ thống và đảm bảo tự chủ của Nhà trƣờng về học thuật, tổ chức bộ máy học thuật và tài chính; trách nhiệm xã hội của trƣờng đại học tự chịu trách nhiệm của các trƣờng đại học. Từ đó tác giả đƣa ra một số giải pháp quản lý Nhà nƣớc bảo đảm đƣợc sự tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trƣờng đại học, trong đó vai trò của Nhà nƣớc thiết lập môi trƣờng cung cấp dịch vụ GDĐH thuận tiện, chủ động và bình đẳng cũng nhƣ thể chế, chính sác h điề u hành GDĐH tić h cƣ̣c [64]. Vũ Thị Thanh Thủy (2012), nghiên cứu về: “Quản lý tài chiń h c ác trƣờng đại học công lập ở Việt Nam ”.
13 z Tác giả đã chỉ rõ quyền tự chủ của các trƣờng đại học còn hạn chế, cơ chế quản lý của Nhà nƣớc thiếu tính đồng bộ chƣa gắn với thực tế, cứng nhắc. Qua đó tác giả đề xuất giải pháp nhấn mạnh quản lý tài chính các trƣờng đại học công lập theo hƣớng tự tăng cƣờng chủ tài chính cần đƣợc chú trọng trong điều kiện hạn hẹp về Ngân sách Nhà nƣớc; đề xuất thiết lập rõ điều kiện cần và điều kiện đủ để tự chủ tài chính, trong đó điều kiện cần là các trƣờng đại học công lập cần xác định rõ mục tiêu để đƣợc tự chủ tài chính là thu đủ bù đắp chi tƣơng ứng với chất lƣợng đào tạo và điều kiện đủ là Chính phủ cho phép các trƣờng đại học công lập đƣợc thỏa mãn những điều kiện: tự chủ về đào tạo; tự chủ về tuyển sinh; tự chủ tuyển dụng; tự chủ về nguồn thu [81]. Trần Đức Cân (2012), nghiên cứu về: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam”. Tác giả đã làm rõ khái niệm, bản chất và nhân tố tác động tới tự chủ tài chính, cơ chế tự chủ tài chính trƣờng ĐHCL; thực trạng trƣờng đại học còn chịu sự kiểm soát nhiều của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc.
Qua đó, tác giả đề xuất trao quyền tự chủ cao cho các trƣờng và đã đƣa 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế tự chủ tài chính, bao gồm: tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, công bằng, ràng buộc tổ chức, sự chấp nhận của cộng đồng [74]. Nguyễn Minh Tuấn (2015), trong nghiên cứu về “Tác động của quản lý tài chính đến chất lƣợng giáo dục đại học - Nghiên cứu điển hình tại các trƣờng đại học thuộc Bộ Công Thƣơng”.