CHƯƠNG 1: CHẾ TẠO HẠT NANO SẮT TỪ 1. Hạt nano Vật liệu nano có những tính chất khác biệt khi so với các tính chất của vật liệu ở trạng thái khối. Sự khác biệt về tính chất của vật liệu nano bắt nguồn từ hai hiện tượng: hiệu ứng bề mặt và hiệu ứng kích thước. Các ứng dụng của vật liệu nano có liên quan đến những tính chất khác biệt của nó có thể được kể đến như: Hạt nano vàng được bọc bởi các nguyên tử Gadolinium (Gd, có mômen từ nguyên tử rất lớn) được dùng làm tăng độ tương phản trong cộng hưởng từ hạt nhân; Bạc có tác dụng diệt khuẩn là do các ion bạc đã tác động lên enzym liên quan đến quá trình hô hấp của các vi khuẩn và hạt nano bạc làm tăng hiệu quả diệt khuẩn (Faraji, M.
Hạt nano với tính chất siêu thuận từ, được ứng dụng nhiều trong lãnh vực y sinh như tách chiết DNA/RNA (Melzak, K., 1996), làm giàu kháng nguyên (Liu, X. Hiện nay, các chất siêu thuận từ đang được quan tâm nghiên cứu, dùng để chế tạo các chất lỏng từ (Magnetic Fluid) dành cho các ứng dụng y sinh. Đối với vật liệu siêu thuận từ, từ dư và lực kháng từ bằng không, chúng có các đặc tính như chất thuận từ, nhưng lại nhạy với từ trường hơn, có từ độ lớn như của chất sắt từ. Điều đó có nghĩa là, vật liệu sẽ phản ứng dưới tác động của từ trường ngoài nhưng khi ngừng tác động của từ trường ngoài, vật liệu sẽ không còn từ tính nữa, đây là một đặc điểm rất quan trọng khi dùng vật liệu này cho các ứng dụng y sinh học.
Hạt nano từ tính dùng trong y sinh cần phải thỏa mãn ba điều kiện sau: - Tính đồng nhất của các hạt cao. - Và, vật liệu có tính tương hợp sinh học (không có độc tính). Tính đồng nhất về kích thước phụ thuộc nhiều vào phương pháp chế tạo. Còn từ độ bão hòa và tính tương hợp sinh học liên quan đến bản chất của vật liệu.
Trong tự nhiên, Fe là vật liệu có từ độ bão hòa lớn nhất ở nhiệt độ phòng, không độc đối với cơ thể người và tính ổn định khi được sử dụng trong môi trường 5 luan an không khí nên các vật liệu như oxit sắt được nghiên cứu nhiều để làm hạt nanô từ tính. Hạt nano oxit sắt Hạt nano oxit sắt ứng dụng phổ biến trong y học hiện nay, được phân làm 2 lớp chính dựa trên kích thước của chúng, bao gồm: lớp có đường kính từ 50-100 nm và lớp còn lại có đường kính dưới 50 nm. Cả hai đều là thành phần của các tinh thể nano ferrite là magnetite (Fe3O4) hoặc maghemite (γ-Fe2O3), với Fe3O4 khối có giá trị bão hòa từ lên đến 92-96 emu/g, trong khi γ-Fe2O3 thì vào khoảng 60-80 emu/g. Những vật liệu oxit sắt khác được nghiên cứu phổ biến gồm những oxit hỗn hợp (Fe(3-x)O(4-y); 1≥x, y≥0), các cấu trúc sắt/sắt oxit (Fe/Fe(3-x)O(4-y)), các cấu trúc FePt/Fe(3-x)O(4-y) hoặc những ferrite (MFe2O4 với M = Mn2+, Co2+, Ni2+, …) với giá trị bão hòa từ từ 52 emu/g đến 110 emu/g [19].
Hạt nano được chế tạo theo nhiều phương pháp, mỗi phương pháp có những thuận lợi và khó khăn nhất định. Và, tùy vào mục đích sử dụng các hạt nano cho mỗi ứng dụng mà các phương pháp khác nhau được dùng nhằm đáp ứng yêu cầu của mỗi ứng dụng. Các phương pháp chế tạo hạt nano Vật liệu nano được chế tạo bằng hai phương pháp là từ trên xuống (top- down) và từ dưới lên ( bottom-up ). Phương pháp từ trên xuống là phương pháp tạo vật liệu nano từ vật liệu khối ban đầu gồm phương pháp nghiền, sử dụng các kỹ thuật lazer.
Phương pháp từ dưới lên là tạo hạt nano, từ các ion hoặc các nguyên tử, phân tử kết hợp lại với nhau. Các ion, nguyên tử, phân tử sau khi được xử lý bằng các tác nhân hóa học, vật lý sẽ kết hợp với nhau hình thành các hạt nano. 6 luan an Hình 1. Hai cách chế tạo hạt nano: từ trên xuống và từ dưới lên [44] Hạt nano từ tính có thể được chế tạo theo hai phương pháp cơ bản: một là từ vật liệu khối được nghiền nhỏ đến kích thước nano, hai là hình thành hạt nano từ các nguyên tử.
Phương pháp thứ nhất gồm các phương pháp nghiền và biến dạng như nghiền hành tinh, nghiền rung. Phương pháp thứ hai được phân thành hai loại là phương pháp vật lý (phún xạ, bốc bay,.) và phương pháp hóa học (phương pháp kết tủa từ dung dịch, hình thành từ pha khí).Phương pháp Laser Ablation Đây là phương pháp từ trên xuống, vật liệu ban đầu ở dạng khối. Dưới tác động của chùm laser, các nguyên tử, phân tử bứt ra khỏi vật liệu khối và đi vào dung dịch. Tại bề mặt của mẫu, nơi được chiếu xạ bởi chùm laser và tại đây hình 7 luan an thành chùm plasma.
Quá trình hình thành mầm và phát triển mầm thành các hạt nano xảy ra chủ yếu trong chùm plasma, nơi có nhiệt độ và áp suất cao. Sơ đồ minh họa quá trình tạo hạt nano bằng phương pháp laser ablation [Klotz, M. 2012) đã sử dụng vật liệu khối Fe3C trong môi trường ethanol, nguồn laser Nd:YAG, bước sóng 1064 nm, bề rộng xung 750 ps (The pulses had a duration of 750 ps), tần số 10 Hz, năng lượng mỗi xung 12 mJ, tốc độ ăn mòn 0,3 mg/h và thu được các hạt nano có kích thước khoảng 1-20 nm, giá trị bão hòa từ Ms = 124 emu/g. Các hạt nano thu được là sự pha trộn của các hạt Fe3C và Fe3O4.
Thuận lợi của phương pháp: - Không sử dụng hóa chất và vì thế loại trừ được những bước làm tinh sạch sản phẩm như những phương pháp hóa ướt phải sử dụng hóa chất (Franzel, L. - Các hạt nano thu được tinh khiết. - Sự kết tụ hoặc phân tán của các hạt nano có thể điều khiển được tùy thuộc loại dung dịch. Khó khăn: - Thiết bị đắt tiền và sản lượng thu được thấp (4,4 mg/h, hạt nano phát triển trong nước).
8 luan an - Khi các hạt nano được hình thành, nó sẽ làm giảm sự ăn mòn mẫu do các hạt nano hấp thụ hoặc tán xạ một phần của chiếu xạ laser. Phương pháp khử: Phương pháp khử có thể sử dụng tác nhân vật lý, hóa học, hóa lý… để khử các ion kim loại thành các kim loại. - Tác nhân vật lí: Điện tử, tia gamma, tia tử ngoại, tia laser khử ion kim loại thành kim loại. Dưới tác dụng của các tác nhân vật lí, làm xuất hiện sự biến đổi của dung môi và các phụ gia trong dung môi để hình thành các gốc hóa học có tác dụng khử ion thành kim loại.
2002) đã sử dụng nguồn laser Nd3+-YAG có bước sóng 500 nm, độ dài xung 6 ns, tần số 10 Hz, năng lượng trung bình của mỗi xung 12-14 mJ chiếu vào dung dịch chứa AgNO3 như là nguồn ion kim loại và Sodium Dodecyl Sulfate (SDS) như là chất hoạt hóa bề mặt để thu được hạt nano bạc có kích thước khoảng 15 nm. Cơ chế hình thành hạt nano bạc như sau: Dưới tác dụng chiếu xạ của chùm laser các phân tử AgNO3 trong dung dịch bị tách thành các gốc Ag+ và (NO3)-; Hơn nữa, sự chiếu xạ của chùm laser vào dung dịch mà dung môi là nước cũng tạo các gốc OH, H. Qua đó các hạt nano Ag được hình thành: Ag+ + e- Ag0 nano Ag (1) + 0 0 + Ag + H Ag + H nano Ag (2) - Tác nhân hóa học: Các tác nhân hóa học sẽ khử các ion kim loại thành các kim loại và sau đó chúng hình thành nên hạt nano kim loại. Nguyên lý cơ bản được thể hiện như sau: Mn+ X M0 nano kim loại M Ion Mn+ dưới tác động của chất khử X, sẽ bị khử thành các kim loại M 0 và sau đó chúng kết hợp lại hình thành nên hạt nano kim loại.
Các chất hóa học như Citric acid, Sodium Borohydride NaBH4, Ethylene Glycol với vai trò là các chất khử, khử ion kim loại thành kim loại. Các hạt nano kim loại được hình thành trực tiếp từ dung dịch muối của kim loại đó. Nhiệt độ của dung dịch được điều khiển để làm thay đổi động học của quá trình kết tủa để thu được các hạt có hình dạng và kích thước xác định. 9 luan an Các nguyên tử Ag được hình thành bằng cách Ethylenglycol khử AgNO3 theo cơ chế sau (Khodashenas, B.
2015): 2HOCH2CH2OH 2CH3CHO + 2H2O 2Ag+ + 2CH3CHO CH3CO–OCCH3 + 2Ag + 2H+ Dung dịch ban đầu chứa các muối của các kim loại như HAuCl4, H2PtCl6, AgNO3, các tác nhân sẽ khử ion kim loại Ag+, Au+, Pt2+ thành các Ag0, Au0, Pt0 và sau đó các nguyên tử này kết hợp lại hình thành nên các hạt nano Ag, Au, Pt. Bằng phương pháp này người ta có thể chế tạo được các hạt nano kim loại Ag, Au, Pt, Pd, Rh với kích thước từ 10 nm đến 100 nm (Kim, D. - Tác nhân hóa lý: Đây là phương pháp kết hợp giữa hóa học và vật lí, nguyên lí là dùng phương pháp điện phân kết hợp với siêu âm để tạo hạt nano. Phương pháp điện phân, thông thường được dùng để chế tạo màng mỏng kim loại.
Dưới sự tác động của quá trình điện phân, các nguyên tử kim loại sẽ bị tan ra khỏi điện cực dương và bám lên điện cực âm để hình thành các hạt nano trước khi hình thành màng mỏng. Cùng lúc này người ta tác dụng một xung siêu âm đồng bộ với xung điện phân thì hạt nano kim loại sẽ rời khỏi điện cực và đi vào dung dịch (Zhu, J. Thuận lợi của phương pháp: Chế tạo được các hạt nano từ nhiều loại vật liệu với nhiều kích cỡ khác nhau. Khó khăn: - Tác nhân vật lý: Thiết bị đắt tiền, sử dụng nguồn năng lượng lớn.
- Tác nhân hóa học: Sản phẩm chứa các tạp chất, phải qua các bước làm tinh sạch sản phẩm. Phương pháp kết tủa từ dung dịch Cơ chế hình thành: Khi nồng độ các phân tử của các chất được tạo thành đạt đến trạng thái bão hòa tới hạn, trong dung dịch sẽ xuất hiện các mầm. Các mầm đó sẽ phát triển thành các hạt nano theo các khả năng như sau (Faraji, M. Ba khả năng phát triển mầm thành hạt nano: Mầm phát triển nhờ sự khuếch tán của các phân tử lên mầm (đường cong I); Do sự kết tụ của các phân tử với mầm (đường cong II) và do sự kết tụ của nhiều mầm với nhau (đường cong III).