CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Tổng quan về kế toán quản trị 1. Khái niệm về kế toán quản trị Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã hình thành nhiều chủ thể cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ nhằm tìm kiếm các lợi ích kinh tế. Các chủ thể này có quan hệ với nhau ở các mức trách nhiệm và quyền hạn khác nhau nên nhu cầu sử dụng thông tin về hoạt động của tổ chức cũng khác nhau.
Ví dụ như, các nhà đầu tư quan tâm đến năng lực tài chính, hiệu quả sản xuất kinh doanh để phân tích, đánh giá những lợi ích có thể nhận được trong tương lai. Các chủ nợ quan tâm đến khả năng thanh toán của đơn vị. Cơ quan quản lý nhà nước quan tâm đến tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước…. Các nhà quản trị sử dụng thông tin để ra các quyết định điều hành hoạt động của tổ chức.
Từ nhu cầu đa dạng về thông tin của các chủ thể trong và ngoài đơn vị, hệ thống kế toán được chia thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. Mục đích của kế toán tài chính nhằm thiết lập các báo cáo tài chính theo các chuẩn mực và nguyên tắc kế toán đã được luật hóa để cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng. Mục đích của kế toán quản trị được hình thành nhằm cung cấp thông tin phục vụ quản trị tổ chức. Kế toán quản trị ra đời từ những năm 1850 ở Mỹ và nó đã trở thành một công cụ của các nhà quản trị.
Hoạt động của KTQT luôn thay đổi và hoàn thiện không ngừng, bị tác động bởi sự thay đổi của môi trường kinh doanh, phương pháp quản trị, sự phát triển của công nghệ và trình độ của các nhà quản trị. Vậy kế toán quản trị là gì? Theo Viện KTQT Hoa Kỳ, KTQT được định nghĩa như sau: “Kế toán quản trị là quá trình hoàn thiện không ngừng và gia tăng giá trị các hoạt động lập kế hoạch, thiết kế, đánh giá và vận hành các hệ thống thông tin tài chính và phi tài chính nhằm định hướng các hành động quản trị, tạo động lực, hỗ trợ và tạo ra giá trị văn hoá cần thiết để đạt được những mục tiêu chiến lược, chiến thuật và hoạt động của một tổ chức” (A. Atkinson và cộng sự, 2001). 6 Luan van Cho đến thời điểm hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị: Theo bộ luật Kế toán Việt Nam (năm 2003) và thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hướng áp dụng kế toán quản trị đơn vị: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Theo nhóm tác giả Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson thì “Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị. Hoạt động của kế toán quản trị bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý phân tích và báo cáo thông tin cho các nhà quản trị. Không như thông tin do kế toán tài chính cung cấp cho những người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp và cơ quan thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị”. Có thể thấy, tùy thuộc vào các quan điểm khác nhau, có thể có những định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị, tuy nhiên tác giả các định nghĩa đều nhìn nhận kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống kế toán, có nhiệm vụ tổ chức thông tin kế toán trong đơn vị, KTQT có quan hệ chặt chẽ với KTTC trong việc sử dụng số liệu kế toán chi tiết của KTTC, song KTQT không phải là kế toán chi tiết.
Nhìn từ góc độ phục vụ cho việc quản lý và ra quyết định thì kế toán quản trị là công việc ghi chép, thu thập, đo lường, phân tích và xử lý các thông tin kinh tế tài chính nhằm phục vụ cho các nhà quản lý đơn vị trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh. Lịch sử phát triển của kế toán quản trị 1. Trên thế giới Về sự ra đời của KTQT thì có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng KTQT ra đời từ những năm đầu thế kỉ 19, nhưng cũng có ý kiến cho rằng KTQT mới ra đời từ những năm 50 của thế kỉ 20.
Sự khác nhau trên thực tế chỉ là do cách tiếp cận khi xét sự hình thành đầy đủ của kế toán quản trị. Kaplan và Anthony A.Atkinson, KTQT ra đời ở Mỹ từ những năm đầu của thế kỉ 19. Xuất phát từ sự lớn mạnh về quy mô, sự phức tạp trong hoạt 7 Luan van động và áp lực cạnh tranh, KTQT được áp dụng trước tiên là trong hệ thống các nhà máy dệt ở Lowell (1814), sau đó là ngành đường sắt (1840), ngành luyện kim (1872). Tuy nhiên các kỹ thuật KTQT lúc này chỉ chú trọng vào việc phát triển các phương pháp xác định chi phí phục vụ cho mục tiêu đánh giá tài sản và đo lường lợi nhuận.Hilton thì trước những năm 1950 của thế kỉ 20 chưa có khái niệm về KTQT mà trong giai đoạn này trọng tâm là kế toán chi phí.
Mãi đến những năm 1950 thì KTQT mới ra đời và kể từ thời điểm này trở đi mới xuất hiện khái niệm KTQT, một bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho các nhà quản trị hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Theo IFAC (2002), quá trình phát triển của KTQT diễn ra theo 4 giai đoạn sau: (Nguồn: Đào Thị Thu Giang, 2012) 8 Luan van - Giai đoạn 1 – trước những năm 1950 đến năm 1965, trọng tâm của KTQT ở giai đoạn này là xác định chi phí và kiểm soát tài chính thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Các hoạt động KTQT trong giai đoạn chỉ mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật. - Giai đoạn 2 – từ năm 1965 đến 1985, trọng tâm của KTQT là lợi nhuận.
KTQT lúc này phải cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích các quyết định; thiết kế và vận hành hệ thống kế toán trách nhiệm nhằm thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết cho việc đánh giá trách nhiệm quản lý. Vị trí của KTQT trong tổ chức lúc này đã được nâng lên một bậc, từ chức năng nghiệp vụ chuyển thành hoạt động với chức năng tham mưu, báo cáo cho các nhà quản trị. - Giai đoạn 3 – từ năm 1985 đến năm 1995, KTQT tập trung cắt giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua chiến lược quản trị chi phí. Kỹ thuật kế toán được phát triển trong giai đoạn này là phân tích các quá trình và quản lý chi phí.
- Giai đoạn 4 – từ 1995 đến nay, trọng tâm của KTQT là quản trị nguồn lực và tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Kỹ thuật KTQT tập trung vào việc phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và cải cách tổ chức. Tóm lại, quá trình phát triển của KTQT được ghi nhận theo 4 giai đoạn nhưng thực ra sự phát triển của nó có sự chuyển hóa và hoàn thiện dần từ giai đoạn này đến giai đoạn khác. Mỗi quá trình của sự phát triển thể hiện sự đáp ứng của kế toán đối với yêu cầu quản trị trong môi trường mới.
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, KTQT đã không ngừng hoàn thiện và phát triển, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin hỗ trợ các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình quản trị hiện đại. Ở Việt Nam Hệ thống kế toán ở Việt nam gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chính vì vậy đã tạo nên sự chuyển biến hệ thống kế toán, KTQT ở Việt Nam với những đặc trưng khác nhau qua 3 giai đoạn: 9 Luan van - Giai đoạn trước năm 1986, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp do đó mục đích của hệ thống kế toán chủ yếu là cung cấp thông tin kinh tế cho Nhà nước kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của đơn vị. Chính vì vậy chỉ có duy nhất một phận kế toán với các nội dung công việc của kế toán tài chính. - Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1991, Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế, thiết lập và tạo dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Và chính sự chuyển biến này đã làm ảnh hưởng đến hệ thống kế toán. Lúc này, nó không chỉ cung cấp thông tinh kinh tế, tài chính để các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát mà còn có các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm, các yếu tố làm tăng, giảm giá thành… Những năm đầu 1990 KTQT được đưa vào giảng dạy tại trường ĐHKT TP.Hồ Chí Minh. - Giai đoạn từ năm 1991 đến nay Ngày 17/6/2003 Luật kế toán Việt Nam chính thức được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua, trong đó đã có đề cập đến KTQT. Đến ngày 12/6/2006, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 53/2006/TT-BTC hướng dẫn áp dụng KTQT trong đơn vị.
Nhưng trên thực tế, KTQT đã xuất hiện ẩn trong kế toán tài chính (kế toán chi phí và tính giá thành, một số lĩnh vực kế toán chi tiết về hàng tồn kho, bán hàng, chi phí,…). Tuy nhiên, nhận thức về tầm quan trọng cũng như vận dụng kế toán quản trị thực tế trong các doanh nghiệp vẫn chưa thật sự phổ biến, đặc biệt là trong các bệnh viện công. Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu. Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị KTQT không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế thực sự phát sinh và đã thực sự hoàn thành, mà còn xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc đưa ra các quyết định quản lý.