ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh răng miệng (BRM) là bệnh khá phổ biến ở mọi lứa tuổi và ở mọi tầng lớp xã hội, với khoảng 90% dân số trên thế giới đƣợc xác định là hiện mắc bệnh này. Trong những năm 70, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã xếp BRM đứng thứ ba trong bảng xếp hạng bệnh tật thế giới vì mức độ phổ biến và thời gian mắc bệnh sớm (6 tháng tuổi, ngay sau khi răng mọc) [11] [26]. BRM nếu không điều trị sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm nhƣ viêm tủy, viêm quanh răng và chi phí cho việc chữa bệnh rất lớn [11] [18]. Trong vòng 20 năm trở lại đây, cùng với sự tiến bộ của y học đồng thời tìm ra căn nguyên của bệnh SR giúp cho việc phòng bệnh và chữa bệnh đạt hiệu quả cao.
Vì vậy, tỷ lệ bệnh SR đã giảm xuống ở các nƣớc phát triển, nhƣ ở Mỹ, Úc và các nƣớc Bắc Âu chỉ số này giảm xuống còn một nửa so với trƣớc [29]. Tuy nhiên ở những nƣớc đang phát triển tỷ lệ này vẫn còn cao và có xu hƣớng tăng lên. Theo báo cáo của TCYTTG vùng Đông Nam Á chỉ số sâu mất trám (SMT) của các nƣớc trong khu vực dao động từ 19,4% đến 48. Tại Việt Nam, có trên 80% dân số mắc BRM.
Năm 2003, TCYTTG đánh giá bệnh SR ở nƣớc ta ở mức cao nhất thế giới và thuộc khu vực các nƣớc có bệnh răng miệng đang tăng lên [48]. Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc (2002), tỷ lệ SR sữa và SR vĩnh viễn ở trẻ 6 - 8 tuổi tƣơng ứng là 84,9%, và 25,4%; trẻ 9 - 11 tuổi tỷ lệ SR sữa 56,3% và SR vĩnh viễn chiếm 54,6% [37]. Nguyên nhân gây bệnh răng miệng là do các yếu tố vi khuẩn, chất đƣờng, vệ sinh răng miệng kém. Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ khác có thể gây BRM nhƣ di truyền, điều kiện kinh tế, yếu tố văn hóa xã hội, phong tục tập quán nhƣ không đi khám răng định kỳ, dùng tăm xỉa răng.Việc phòng BRM phụ thuộc nhiều vào nhận thức và hành vi của con ngƣời [43].
Thành phố Hải Dƣơng nằm ở trung tâm tỉnh Hải Dƣơng có tổng diện tích tự nhiên 7.138,6 ha, dân số 228.766 ngƣời phân bổ trên 21 đơn vị phƣờng xã. Trung tâm y tế Thành phố kết hợp với các bên liên quan tiến hành chƣơng trình Nha học đƣờng từ năm 1987. Theo báo cáo của chƣơng trình tỷ lệ học sinh mắc các BRM ở 2 thành phố tƣơng đối cao là 68,7% [3]. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về bệnh răng miệng hiện nay chủ yếu tập trung các khu đô thị lớn nhƣ thành phố Hà Nội mà chƣa tập trung vào các địa phƣơng đang có sự chuyển dịch kinh tế, xã hội nhƣ tỉnh Hải Dƣơng.
Theo các nghiên cứu trên thế giới thì khi kinh tế và xã hội phát triển thì tình hình răng miệng có thể tăng do cộng đồng có cơ hội tiếp xúc với nhiều loại thức ăn làm tăng khả năng mắc BRM nhƣ kẹo, thuốc lá [41] [45] [46].Vì vậy, một nghiên cứu về vấn đề bệnh răng miệng và các yếu tố ảnh hƣởng đến vấn đề răng miệng có thể giúp Hải Dƣơng xây dựng những biện pháp can thiệp phù hợp với địa phƣơng. Lứa tuổi THCS (từ 12 đến 15 tuổi), các em có thể tự quyết định việc chăm sóc răng miệng nếu đƣợc trang bị kiến thức thực hành chăm sóc răng miệng đúng. Việc cung cấp kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh ở lứa tuổi này là cần thiết để có những can thiệp kịp thời giúp các em có một bộ răng khỏe mạnh suốt đời. Nghiên cứu về thực trạng răng miệng của các em học sinh ở đây để cung cấp thêm bằng chứng làm cơ sở để các cơ quan chức năng có các biện pháp can thiệp kịp thời cũng nhƣ phƣơng pháp giáo dục nha khoa hợp lý cho từng đối tƣợng nhằm nâng cao hiểu biết, giúp cho việc chăm sóc sức khỏe răng miệng cho các em một cách hiệu quả và đặc biệt là giảm tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh trong thời gian tới.
Trƣờng THCS Tân Bình nằm ở ngay trung tâm thành phố với số lƣợng học sinh 1113, đông nhất trong các trƣờng THCS trên địa bàn. Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo của trƣờng Tân Bình và đặc biệt là các bậc phụ huynh mong muốn có một nghiên cứu đánh giá về sức khỏe răng miệng của học sinh trong trƣờng. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường Trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải Dương, năm 2015” nhằm mô tả thực trạng bệnh SR, VL của học sinh THCS đồng thời tìm hiểu các yếu tố liên quan đến bệnh SR,VL từ đó đề ra các giải pháp, khuyến nghị xây dựng chính sách trong chƣơng trình NHĐ làm giảm tỷ lệ học sinh mắc các bệnh răng miệng. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh Trƣờng Trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng năm 2015. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc răng miệng và một số yếu tố liên quan ở học sinh Trƣờng Trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng năm 2015. Mô tả một số yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng, viêm lợi ở học sinh Trƣờng Trung học cơ sở Tân Bình, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng năm 2015. Bệnh sâu răng, viêm lợi 1.
Bệnh sâu răng 1. Định nghĩa bệnh sâu răng Có nhiều định nghĩa về bệnh SR dựa trên những nghiên cứu hoặc nhận xét khác nhau về nguyên nhân cũng nhƣ tiến trình của bệnh. Quan niệm trong thế kỷ qua: Bệnh SR là một quá trình động diễn ra trong mảng bám vi khuẩn dính trên mặt răng, đƣa đến mất cân bằng giữa mô răng với chất dịch xung quanh và theo thời gian. Hậu quả là sự mất khoáng của mô răng.
Theo hội nghị quốc tế về thử nghiệm lâm sàng SR, hội thảo ORCA lần thứ 50 năm 2003, các tác giả cho rằng: Tiến trình SR xảy ra từ sự tác động giữa lớp màng sinh học và bề mặt cũng nhƣ dƣới bề mặt răng; tổn thƣơng SR biểu hiện một giai đoạn của tiến trình tại một thời điểm nào đó. Tiến trình SR xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa khử khoáng và tái khoáng, dẫn tới mất chất khoáng và tái khoáng có thể làm ngƣng hoặc đảo ngƣợc tiến trình bệnh và có thể dẫn tới sự thay đổi chất lƣợng của khoáng chất, hiểu biết về tiến trình SR vƣợt quá quan điểm giới hạn bằng chứng trong SR tới mức D2 (chỉ sâu men) hoặc thành lỗ D3 (sâu men và ngà) [26]. SR sớm là hiện tƣợng giảm độ pH dẫn tới sự khử khoáng làm tăng khoảng cách giữa các tinh thể, mất khoáng bắt đầu ở dƣới bề mặt men, tổn thƣơng lâm sàng mất 10% lƣợng chất khoáng [10]. Căn nguyên bệnh sâu răng [4] [20] SR là kết quả của sự hủy khoáng tổ chức cứng của răng thành hố bởi sản phẩm cuối cùng của sự acid hóa các chất thức ăn có đƣờng lên men vi khuẩn.
Bệnh SR là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng[10] [42]. Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi nhƣ chế độ ăn uống nhiều đƣờng, vệ sinh răng miệng không tốt, tình trạng khấp khểnh của răng, chất lƣợng 5 men răng kém, môi trƣờng tự nhiên, nhất là nƣớc dùng ăn, uống có hàm lƣợng fluor thấp (hàm lƣợng fluor tối ƣu là 0,8 - 0,9 ppm/lít) đã tạo điều kiện cho SR phát triển. Trƣớc năm 1970 ngƣời ta coi SR là một thƣơng tổn không thể hồi phục và khi giải thích bệnh căn SR, ngƣời ta chú ý nhiều đến chất đƣờng và vi khuẩn Streptococus mutans nên việc phòng bệnh SR tập trung vào chế độ ăn hạn chế đƣờng, tiến hành vệ sinh răng miệng kỹ, nhƣng hiệu quả phòng SR hạn chế. Nguyên nhân SR đƣợc giải thích bằng sơ đồ Keys: Hình 1.
Sơ đồ Keys Sơ đồ Keys [42] thể hiện sự tác động phối hợp của ba yếu tố nói trên gây SR, nếu thiếu một yếu tố nào đó thì không thể gây SR. Sau năm 1975, SR đƣợc coi là một bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, các nguyên nhân này đƣợc chia làm hai nhóm: - Nhóm chính: Có ba yếu tố phải cùng đồng thời xảy ra + Vi khuẩn thƣờng xuyên có trong miệng, trong đó có Streptococus mutans là tác nhân chính. + Chất bột và đƣờng dính vào răng sau ăn sẽ lên men biến thành a-xít do tác động của vi khuẩn. + Răng có khả năng bị sâu nằm trong môi trƣờng miệng.
Ở đây ngƣời ta cũng thấy rằng cấu tạo men răng giữ một vai trò trọng yếu trong nguyên nhân SR vì men răng có fluor thì có khả năng phòng chống SR. 6 - Nhóm yếu tố phụ trợ có rất nhiều nhƣ: Vai trò của nƣớc bọt, di truyền, đặc tính vi sinh hóa của răng… Nhóm này tác động làm tăng hay giảm SR và gây ra các vị trí lỗ sâu khác nhau. + Răng: Tuổi, fluor, hình thái, các vi tố, độ Cacbonat v. + Vi khuẩn: Streptococus mutans.
Vi khuẩn + Chất nền: Răng SR - VSRM sử dụng fluor. - pH vùng trao đổi quanh răng thấp 4,5 - 5 Chất nền sẽ gây thƣơng tổn dƣới bề mặt. ChÊt nÒn - Khả năng trung hoà (đệm) của nƣớc bọt. Sơ đồ White Sau năm 1975, White [42] đã thay thế một vòng tròn (chất đƣờng) của sơ đồ Keys bằng vòng tròn chất nền và nhấn mạnh vai trò nƣớc bọt và pH của dòng chảy môi trƣờng xung quanh răng.
Sinh lý bệnh quá trình sâu răng * Sự hủy khoáng Hydroxyapatite [Ca10(PO4)6(OH)2] và Fluorapatite - thành phần chính của men, ngà bị hòa tan khi pH giảm dƣới mức pH tới hạn. pH tới hạn của hydroxyapatite là 5,5 và pH tới hạn của fluorapatite là 4,5 [20] [41]. * Sự tái khoáng Quá trình tái khoáng ngƣợc với quá trình hủy khoáng, xảy ra khi pH trung tính, có đủ ion Ca2+ và PO43- trong môi trƣờng nƣớc bọt. Fluor + Hydroxyapatite → Fluoroapatite có sức đề kháng cao hơn, có khả năng đề kháng sự phá hủy của H+ → chống SR.