đặt vấn đề nghiên cứu về phân công lao động theo giới và lao động của phụ nữ. Tác giả Đào Thế Tuấn trong nghiên cứu có tên “Phụ nữ trong kinh tế hộ nông dân” ( 1992) cũng đã khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong sản xuất và tái sản xuất. Tác giả cho rằng cần thay đổi kiểu phân công lao động theo giới hiện tại để giảm gánh nặng công việc và nâng cao địa vị xã hội cho phụ nữ. Tác giả Lê Thị Quý với đề tài “ Vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” ( 1994) đã cho thấy cƣờng độ lao đông quá cao của phụ nữ dƣới tác động của cơn lốc kinh tế thị trƣờng để mƣu sinh và những mặt trái của thực trạng ấy.
Đề tài “Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân” ( 1997) của tác giả Lê Ngọc Văn đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới ở khu vực nông thôn trong thời kỳ kinh tế thị trƣờng. Với xu thế nam giới đƣợc khuyến khích chuyển sang các hoạt động tạo thu nhập tiền mặt, phụ nữ gắn với công việc tái sản xuất và sản xuất các sản phẩm tiêu dùng của gia đình. Sự phân công lao động ấy tạo ra sự bất lợi cho phụ nữ trong việc nâng cao học vấn, sức khoẻ và vị thế xã hội của họ. - 19 - z LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc Với tên đề tài: “ Gia đình phụ nữ nghèo: Phân công lao động và mối quan hệ giữa các thành viên” ( 1997), tác giả Ngô Thị Ngọc Anh đã khảo sát 500 phụ nữ nghèo thành thị và chứng minh rằng họ là những ngƣời trụ cột trong việc nuôi sống gia đình và các công việc nội trợ, chăm sóc và nuôi dạy con cái.
Tác giả Vũ Tuấn Huy và Deborah S. Carr với nghiên cứu “ Phân công lao động nội trợ trong gia đình” ( 2000) đã khẳng định sự bất bình đẳng trong phân công lao động nội trợ- phụ nữ đẩm nhận là chủ yếu. Nghiên cứu của Đặng Thị Hoa về “ Vị thế của người phụ nữ H’Mông trong gia đình và trong xã hội” (2001) đã đề cập đến sự bất bình đẳng giữa đóng góp lao động và vị thế xã hội thấp kém của phụ nữ H’Mông. Nguyễn Linh Khiếu với công trình nghiên cứu có nhan đề “ Khía cạnh quan hệ giới trong gia đình nông thôn miền núi” ( 2002) đã phác thảo những nét cơ bản về phân công lao động theo giới của một số dân tộc thiểu số ở Miền Bắc và sự bất bình đẳng giới trong gia đình của họ.
Nghiên cứu của Lê Thị Quý về “ Vấn đề giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La, lai Châu hiện nay” ( 2004) đã đề cập khá rõ nét về mối quan hệ giới của các dân tộc ít ngƣời thông qua phân công lao động theo giới. Tác giả Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn với công trình nghiên cứu: “ Phân công và hợp tác lao động theo giới trong phát triển hộ gia đình và cộng đồng ngư dân ven biển Việt Nam hiện nay- Thực trạng và xu hướng biến đổi” đã chỉ ra mô hình phân công lao động theo giới ở cộng đồng ven biển trong đánh bắt, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp, nội trợ,v.v… Gia đình học (2007) của tác giả Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý. Các tác giả đã chỉ ra 4 chức năng chính của gia đình là : 1) Xã hội hoá, chăm sóc và giáo dục con cái; 2) Chức năng kinh tế; 3) Chức năng tái sản xuất ra con ngƣời và xã hội; 4) Chức năng tình cảm. Các tác giả cho rằng đây là những chức năng cơ bản nhất mà gia đình đã thực hiện mà không thể thiếu đƣợc trong - 20 - z LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc sự vận động của xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, các chức năng của gia đình đang bị biến đổi, nảy sinh nhiều vấn đề, cả tích cực và tiêu cực, vì vậy chức năng gia đình vẫn đang là điểm nóng của những cuộc tranh luận khoa học hiện nay Liên hệ với vấn đề nghiên cứu mà luận văn này sẽ triển khai, hy vọng sẽ góp thêm vào những kiến thức rộng lớn về gia đình Việt Nam một số hình ảnh về nhóm gia đình kinh doanh nhỏ ở thành phố Hà Nội, nhóm gia đình này sẽ ngày càng đông đảo thêm trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Những nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vai trò giới trong các gia đình buôn bán nhỏ còn rất ít. Trong khi đó loại hình gia đình này đang có xu hƣớng phát triển, mở rộng trong tƣơng lai. Vì vậy, việc chọn đề tài này là chúng tôi muốn tìm hiểu vai trò giới trong gia đình buôn bán nhỏ để có thể góp phần vào việc mô tả bức tranh chung về gia đình Việt Nam nói chung và nghiên cứu về giới nói riêng.
Luận văn này kế thừa các nghiên cứu trƣớc và tìm tòi cái mới về một loại hình gia đình còn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Khái niệm then chốt: 1.1 Khái niệm Vai trò Theo quan điểm xã hội học, vai trò là “các mẫu hành vi tƣơng ứng với địa vị cụ thể” [10, 192]. Mỗi địa vị bao gồm các quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau, những ai nắm địa vị thƣờng đƣợc nghĩ là phải có vai trò hành xử theo những cách phù hợp với địa vị đó. Vai trò có mối quan hệ quan hệ trong khi tổ chức hành vi của chúng ta đối với một số ngƣời khác.
Vai trò của bố mẹ đƣợc định nghĩa là theo lý tƣởng là tinh thần trách nhiệm với con cái, và cũng nhƣ vậy, vai trò của con cái đƣợc định nghĩa là nghĩa vụ với bố mẹ. Vì cá nhân nắm giữ nhiều địa vị trong cùng một thời điểm, vì thế họ phải thực hiện nhiều vai trò cùng một lúc, và do một địa vị có thể có nhiều vai trò, - 21 - z LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc nên ngƣời ta thƣờng có nhiều vai trò hơn địa vị của ngƣời đó. Ví dụ, xem xét ngƣời phụ nữ trong gia đình: ngƣời phụ nữ này có địa vị là “ngƣời vợ”, và tƣơng ứng với địa vị này là tập hợp hành vi đối của vai trò vợ chồng; trách nhiệm trong việc chăm sóc việc nhà nên thực hiện vai trò nội trợ; cô ta còn có địa vị là “ngƣời mẹ”, kèm theo nó là tập hợp hành vi của vai trò chăm sóc con cái, giáo dục con cái. Do con ngƣời có nhiều địa vị, phải thể hiện nhiều vai trò cùng lúc nên nhiều khi họ thể hiện những vai trò khác hẳn nhau và có thể mâu thuẫn nhau trong cùng một lúc.
Ví nhƣ một ngƣời vừa cho con ăn, vừa phải trả lời điện thoại: cô ta thực hiện vai trò làm mẹ đối với đứa con trong cùng lúc đó thể hiện vai trò làm chủ gia đình để trả lời khách, nếu làm tốt vai trò làm mẹ (cho con ăn) thì việc trả lời khách sẽ không đƣợc thuận tiện và ngƣợc lại. Các nhà xã hội học sử dụng khái niệm xung đột vai trò để ám chỉ sự xung khắc giữa các vai trò tƣơng ứng với hai địa vị trở lên. Trong cuộc sống, ai cũng đã từng trải qua xung đột vai trò khi nhận thấy bản thân không thể thực hiện tất cả các vai trò tƣơng ứng với các địa vị mà chúng ta nắm giữ ở một thời điểm bất kỳ nào đó. Ngay ở một địa vị riêng lẻ cũng có trƣờng hợp tạo cho cá nhân cảm giác không thể thực hiện hết các vai trò của nó, vì ở địa vị này, các vai trò cạnh tranh với nhau để giành đƣợc sự ƣu tiên.
Khái niệm căng thẳng vai trò ám chỉ sự xung khắc giữa các vai trò tƣơng ứng với một địa vị riêng lẻ. Ví dụ, địa vị ngƣời mẹ mong muốn duy trì mối quan hệ thân thiết với con nhƣ một ngƣời bạn, không có khoảng cách để con cái dễ dàng tâm sự, trao đổi ý kiến với mình; nhƣng cùng lúc là trách nhiệm của ngƣời mẹ là phải duy trì một quan hệ có kỷ luật với con cái do đó họ lại phải tạo ra một khoảng cách với con mình. Các cá nhân thƣờng phải tìm cách để giải quyết trong các trƣờng hợp căng thẳng vai trò hay xung đột vai trò. Một trong những cách đó là ƣu tiên vai trò này quan trọng hơn các vai trò khác, hoặc cách ly các vai trò khác; thậm chí có cách giải quyết là từ bỏ những vai trò ít quan trọng đối với họ.
- 22 - z LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc Xung đột vai trò và căng thẳng vai trò thƣờng phát sinh trong xã hội công nghiệp. Đời sống xã hội trong các xã hội hiện đại đều phức tạp và tạo ra nhiều vấn đề, chúng ta thƣờng đảm nhận cùng một lúc nhiều địa vị và thực hiện nhiều vai trò nhƣng chúng ta không thể rời bỏ tất cả địa vị và vai trò vì địa vị và vai trò là phƣơng tiện qua đó các mối quan hệ đƣợc tổ chức và rõ ràng hoá sao cho tƣơng tác xã hội có thể xúc tiến theo cách tƣơng đối hiệu quả.2 Khái niệm giới Giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc điểm và sự khác nhau về mặt xã hội giữa phụ nữ và nam giới. Giới: Do quá trình xã hội hoá mà có. Đứa trẻ thƣờng học hỏi, bắt chƣớc những ngƣời cùng giới tính với nó Ở gia đình: thƣờng có cách ứng xử đối với con trai và con gái cũng nhƣ hƣớng dẫn cho trẻ em trai và trẻ em gái khác nhau theo những giá trị, chuẩn mực cụ thể của xã hội.
Ở nhà trƣờng: cũng có cách ứng xử với nhau đối với hai giới dựa theo những giá trị, chuẩn mực của xã hội. Ở xã hội: cũng có những cách ứng xử khác nhau giành cho mỗi giới Vì thế, con trai và con gái luôn phải điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với suy nghĩ và sự mong đợi của mọi ngời về tính nam hay tính nữ đã đƣợc chấp nhận phù hợp với khuôn mẫu xã hội đó. Giới mang tính đa dạng và khác nhau giữa các nền văn hoá. Trong các nền văn hoá có những giá trị, chuẩn mực khác nhau.
Vì thế, các đặc trng xã hội của phụ nữ và nam giới ở những nền văn hoá khác nhau có thể khác nhau. - 23 - z LuËn v¨n Th¹c sü X· héi häc Mối quan hệ về giới là mối quan hệ xã hội và quan hệ quyền lực.