CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAY ĐỔI VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI DI CƯ MÙA VỤ Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau mà hình thức, quy mô, tính chất di cư ở nước ta diễn ra khác nhau. Trong những năm 1960 - 1980, di cư ở Việt Nam được hiểu là di dân có tổ chức, được Nhà nước sắp xếp, vận động người dân di chuyển vùng cư trú lên khai hoang, xây dựng những vùng kinh tế mới. Di cư tự do và di cư mùa vụ vì những đặc điểm kinh tế - xã hội của thời kỳ bao cấp đã chưa được chú ý nghiên cứu. Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới (1986) cho đến nay, di cư có nhiều hình thức phong phú và có sự thay đổi mạnh mẽ về loại hình, quy mô, tính chất.
Với riêng luồng di cư từ nông thôn ra đô thị, kết quả Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kỳ 2014 ghi nhận trong 5 năm trước thời điểm 1/4/1999, luồng di cư nông thôn – đô thị chiếm 27,1% và tăng lên 31,4% trong 5 năm trước thời điểm 1/4/2009, tuy nhiên, đến giai đoạn di cư 2009 – 2014 thì tỉ trọng luồng di cư này lại giảm xuống còn 29%. Mặc dù vậy, đồng bằng sông Hồng vẫn là khu vực đứng thứ 2 cả nước về thu hút luồng di cư nông thôn – đô thị (296,9 nghìn người, chiếm 18,1% tổng số người di cư từ nông thôn đến thành thị). Nghiên cứu cũng đồng thời đưa ra kết luận: 44,8% người di cư đi với lý do tìm kiếm việc làm hoặc bắt đầu việc làm mới [76; tr. Điều tra về di cư nội địa quốc gia Việt Nam 2015 tại 20 tỉnh thuộc 6 vùng kinh tế kết luận 13,4% dân số của khu vực nông thôn là người di cư, xét theo 4 luồng di cư (Nông thôn – đô thị; Đô thị – Nông thôn; Nông thôn – Nông thôn; Đô thị – Đô thị) thì luồng di cư nông thôn – đô thị chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các dòng di cư trong nước.
Điều đó cho thấy di cư góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng tăng của lực lượng lao động thành thị, đồng thời làm giảm lực lượng lao động ở nông thôn [79; tr. Tuy nhiên các tác động của loại hình di cư mùa vụ đến sự thay đổi vai trò giới trong gia đình có người di cư mùa vụ còn chưa có nhiều nghiên cứu, chỉ có một số ít công trình và tài liệu có nội dung ít nhiều liên hệ với đề tài của tác giả. Các tài liệu này bao gồm các nghiên cứu trong và ngoài nước, tập trung vào một số nội dung chính như sau: Một là: Nghiên cứu về tác động tiền gửi của người di cư đến đời sống kinh tế gia đình. Hai là: Nghiên cứu về những thách thức của các gia đình có người di cư.
Ba là: Di cư và các chính sách di cư. 13 Qua rất nhiều các nghiên cứu trước đó đều cho thấy di cư chính là cách thức hỗ trợ gia đình, là con đường lao động giúp người di cư có thể cung cấp tài chính và góp phần nâng cao chất lượng sống cho gia đình. Tuy nhiên, di cư (đặc biệt là di cư lâu dài) có tác động không nhỏ đến việc tổ chức cuộc sống và phân công công việc giữa các thành viên trong gia đình. Sự thiếu vắng một hay nhiều lao động chính sẽ khiến gia đình họ phải đối mặt với những thách thức về tổ chức cuộc sống, thực hiện các chức năng gia đình.
Để giải quyết những tồn tại đó, các công trình nghiên cứu trước đây đều ít nhiều đề cập và phân tích những điểm còn hạn chế về mặt chính sách có liên quan đến di cư lao động và đưa ra các khuyến nghị từ góc độ nghiên cứu của riêng mình. Nghiên cứu về những tác động xã hội của di cư đến các thành viên trong gia đình có người di cư Di cư lao động luôn để lại khoảng trống trong gia đình, tác động đến phân công lao động theo nhiều chiều hướng, bao gồm khía cạnh tích cực và tiêu cực. Trong hầu hết các kết quả nghiên cứu về di cư đều chỉ ra hệ quả đó. Tác động của di cư đến quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Trong các nghiên cứu về di cư nói chung, mối quan hệ giữa người di cư và vấn đề chăm sóc con cái thường được phân tích nhiều.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa họ với vấn đề chăm sóc người cao tuổi trong gia đình lại không có đề tài nghiên cứu chuyên sâu. Do đó, với riêng mối quan hệ này, tác giả sẽ chỉ điểm qua một số nghiên cứu có đề cập đến việc chăm sóc người già. * Các nghiên cứu về chăm sóc con cái Các nghiên cứu về di cư hầu hết đều cho thấy người di cư dù đi làm ăn xa gia đình nhưng vẫn luôn giữ mối liên hệ với các thành viên khác, con cái vẫn liên hệ với bố mẹ, bố mẹ thường xuyên liên lạc, gửi tiền hoặc dành thời gian về thăm con. Tuy nhiên, mối quan hệ tình cảm có chiều hướng bị vật chất hoá khi khoảng cách và sự quan tâm giữa hai bên không còn gần gũi như trước.
Trong nghiên cứu tiến hành năm 2008 – 2009 tại Hà Nội của Viện Gia đình và Giới về “Sự thích ứng của người di cư tự do từ nông thôn ra đô thị - Nghiên cứu trường hợp Hà Nội” cho thấy, người di cư đối phó với khoảng trống vai trò của mình trong gia đình bằng cách xây dựng chiến lược “làm cha mẹ từ xa” [70]. Phần lớn họ đều lo lắng về vân đề cha mẹ, con cái ở nhà, họ nhận biết rằng gia đình ở nông thôn nếu được tổ chức tốt thì bản thân họ mới yên tâm ở lại đô thị làm việc. Họ thể hiện sự quan tâm của mình bằng cách gọi điện, trao đổi tình hình với ông bà, con cái hàng ngày qua điện thoại, dành thời gian về thăm nhà khi có điều kiện và gửi quà, gửi tiền về để phần nào bù đắp những thiệt thòi của con khi thiếu vắng tình cảm của cha mẹ. 14 Giống như nhiều quốc gia khác, rất nhiều trẻ em Việt Nam đang sống trong các gia đình có bố mẹ đi làm ăn xa nhà, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về tác động của quá trình đó đến sức khoẻ tinh thần của các em còn rất hạn chế.
Năm 2008, dự án CHAMPSEA do quỹ The Wellcome Trust của Anh tài trợ cho Việt Nam đã tiến hành khảo sát định lượng 1.000 hộ gia đình ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương và định tính 37 người chăm sóc chính các em nhỏ ở các hộ có người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự vắng mặt của cha/mẹ tác động lớn đến tình cảm của trẻ nhỏ, việc bù đắp tình cảm của cha mẹ qua hiện vật không thể giúp con cái giảm đi cảm giác thiếu thốn sự gần gũi, thân mật của cha mẹ. Để hạn chế được điều đó, các gia đình có người di cư ứng phó theo nhiều cách khác nhau, hình thức ứng phó cũng có sự khác nhau giữa những gia đình chỉ có vợ di cư, chỉ có chồng di cư hay cả hai vợ chồng đều di cư. Trong nghiên cứu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa di cư, sức khoẻ sinh sản và phúc lợi gia đình, Catherine và các cộng sự (2009) chỉ ra rằng: Các gia đình có vợ di cư, chồng ở nhà hoặc cả hai vợ chồng đều di cư thì người vợ thường phải đợi con đến tuổi đi mẫu giáo hoặc gửi cha mẹ trông con giúp; Đối với các gia đình mà cả cha mẹ và con cái đều di cư thì thông thường họ sẽ gửi con cái về quê khi con cái đến tuổi đi học vì những khó khăn trong vấn đề xin học và học phí cùng nỗi lo con cái nhiễm thói hư tật xấu [155].
Trên thực tế, phụ nữ di cư luôn có nhiều rào cản hơn nam giới vì vai trò giới của họ trong gia đình. Tác giả Hà Phương Tiến và Hà Quang Ngọc trong công trình nghiên cứu về lao động nữ di cư tự do đã tập trung đánh giá những tác động của quá trình di cư đến nơi đi, trong đó nhấn mạnh rằng phụ nữ di cư ảnh hưởng lớn đến cuộc sống gia đình trên nhiều phương diện như: nội trợ, sản xuất nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề chăm sóc giáo dục con cái và tình cảm vợ chồng [84]. Tuy nhiên, đề tài này của các tác giả chú ý nhiều đến khía cạnh tác động đến các lĩnh vực của đời sống mà không phân tích sâu hơn sự thay đổi vai trò giới giữa các thành viên trong gia đình. Những người đã làm cha mẹ khi ra quyết định di cư luôn có sự lo lắng về con cái.
Do đó, họ thường cân nhắc kỹ nơi di cư sao cho có thể về lại gia đình khi có cần, nhất là phụ nữ. Trong báo cáo của tác giả Phạm Thị Huệ về “Vai trò giới trong động cơ và quyết định di cư” cho thấy phụ nữ thường không di cư quá xa khỏi gia đình bởi vai trò giới của họ không cho phép [41]. Họ thường đảm nhận trách nhiệm nội trợ, chăm sóc con cái nên khó có thể đi làm quá xa và trong thời gian dài so với nam giới. Giống như nhiều thiết chế khác, gia đình là một thiết chế xã hội, các thành viên trong đó đều có các vai trò và liên kết với nhau bằng các mối quan hệ xác định.
Sự vắng mặt của một hay một vài cá nhân trong đó sẽ dẫn đến những nguy cơ tiềm tàng có thể phá vỡ sự ổn định và trật tự của thiết chế. Nghiên cứu “Một số vấn đề xã hội 15 của phụ nữ nông thôn lấy chồng và lao động ở nước ngoài” (2010) và “Tính thích ứng của người di cư tự do từ nông thôn ra đô thị” (2009) của Viện gia đình và Giới đã chỉ ra rằng di cư có thể gián tiếp làm tăng nguy cơ rạn nứt hoặc tan vỡ gia đình do nó tạo nên sự đứt đoạn trong đời sống tình cảm giữa các thành viên, nhất là giữa hai vợ chồng và giữa cha mẹ với con cái. Thời gian các vợ chồng sống xa cách nhau sẽ gây nên sự thiếu thốn tình cảm và nhu cầu sinh lý, từ đó có thể dẫn đến các mối quan hệ ngoài hôn nhân. Vấn đề sẽ nghiêm trọng hơn khi người di cư không nhận thức đầy đủ về sự lây truyền các căn bệnh xã hội.