Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA IA ĐÌN VÀ ỔN ĐỊNH XÃ HỘI NÔNG THÔN 1. Khái niệm gia đình v xã hội nông thôn 1. Khái niệm gia đình Gia đình là nơi mỗi người sinh ra, lớn lên. Nơi mà mỗi thành viên gắn bó máu thịt với nhau, cùng sẻ chia mọi buồn vui cuộc đời, cùng đóng góp công sức xây dựng và hưởng thụ mọi thành quả vật chất và tinh thần do bản thân và các thành viên t o ra.
Dù là mối quan hệ hôn nhân hay huyết thống thì các thành viên trong một gia đình dường như vẫn gắn bó, có tình cảm và tinh thần trách nhiệm với nhau hơn bất kì một mối quan hệ nào khác ngoài xã hội. Gia đình là nơi truyền đ t và nuôi dưỡng tình cảm con người, nơi con người sẵn sàng sẻ chia tất cả mọi lợi ích vật chất và tinh thần mà không hề toan tính cũng như hưởng thụ sự sẻ chia đó từ người khác không hề ngần ng i, không cần tính toán thiệt hơn. Gia đình là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “gia đình”.
Ở những thời đ i khác nhau, xã hội khác nhau đã có những quan niệm khác nhau về gia đình. Trong nhiều năm qua t i Việt Nam, nhiều quan điểm khác nhau về gia đình đã được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn thảo. Theo “Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học”: “Gia đình là một hình thức cộng đồng những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và quan hệ máu mủ” [43, tr. Trong cuốn “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người” giáo sư Lê Thi cho rằng gia đình là “một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan 8 z hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngo i) đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng.
Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm) giữa họ có những điều ràng buộc có tính chất pháp lí, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Đồng thời trong gia đình có qui định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [37, tr. Có thể khẳng định rằng, quan niệm về gia đình của giáo sư Lê Thi đã nêu được những thuộc tính cơ bản của gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, tế bào kh e m nh thì cơ thể xã hội mới m nh kh e.
Trong gia đình, các thành viên cùng cư trú, có mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống, tùy thuộc vào từng giai đo n lịch sử cụ thể, gia đình có chung những giá trị vật chất và tinh thần, đảm nhận chức năng sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục con người, phù hợp với mỗi giai đo n lịch sử ở mỗi quốc gia. Các tác giả cuốn “Gia đình học” định nghĩa :“Gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người l i với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái. Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là mối quan hệ họ hàng. Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và việc nhận con nuôi.
Những người này cũng phải sống cùng với nhau” [11, tr. Khái niệm về gia đình mang tính pháp lí ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8, phần 10, Giải thích từ ngữ): "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này”. Có thể khẳng định khái niệm gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã phản ánh 9 z một cách khá đầy đủ và sâu sắc các thành tựu nhận thức về gia đình ở nước ta thời gian qua. Vì vậy khái niệm này đã được thừa nhận rộng rãi và sử dụng phổ biến.
Trong luận văn này, tác giả cũng hoàn toàn nhất trí với khái niệm này. h i niệm xã hội nông thôn Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, t o thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt. Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định t i Thông tư số 54/TT - NNPTNT/TT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cụ thể: "Vùng/ khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã". Nông thôn là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định, có ruộng, có nghề, có chợ…t o thành một không gian thống nhất.
Trong lịch sử, làng - xã là đơn vị hành chính cơ sở. Tuy nhiên làng - xã cũng có những biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung cho đến trước năm 1945, qua các biến động, làng vẫn giữ được những cấu trúc truyền thống cơ bản. Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam. Làng - xã đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộc trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch.
Những giá trị nói trên của làng luôn luôn cần thiết cho phát triển đất nước, cần và sẽ được tiếp tục trong mô hình nông thôn mới. 10 z Nhưng tính khép kín, tính tự cung tự cấp của mô hình làng truyền thống rõ ràng không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước hiện nay. Có thể nói, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản. Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như: xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang tr i, đẩy m nh công nghiệp hoá, hiện đ i hoá nông thôn, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở… đã bắt đầu t o ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Bên c nh đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn. Khái niệm ổn định xã hội nông thôn h i niệm ổn định xã hội nông thôn Nói đến xã hội nông thôn, người ta thường nghĩ tới một không gian yên bình qua những hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình dưới sự lãnh đ o của hệ thống chính trị bền vững. Con người chân chất, mộc m c, họ sống với nhau bằng tình làng, nghĩa xóm rất sâu sắc. Những tưởng rằng, sẽ không dễ gì có thể xâm nhập và làm ảnh hưởng đến môi trường sống của con người ở khu vực nông thôn này.
Thế nhưng, ngày nay trong xu thế hội nhập và phát triển, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, đời sống của con người ở khu vực nông thôn đang có sự biến đổi, đòi h i cần phải được cơ cấu và có các chính sách bảo vệ nhất là từ phía các gia đình. Để làm nổi bật được nội dung ổn định xã hội nông thôn, chúng ta cần làm rõ khái niệm ổn định xã hội nông thôn. Vậy, ổn định xã hội nông thôn là gì? Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, tuy nhiên theo từ điển 11 z tiếng việt, ổn định xã hội nông thôn đó là: Tr ng thái xã hội không có những biến động, thay đổi đáng kể trong hình thức sinh ho t chung có tổ chức của một bộ phận người, ở một trình độ phát triển nhất định của lịch sử thuộc khu vực nông thôn. Nội dung ổn định xã hội nông thôn * Ổn định về kinh tế Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phát triển nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn là nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để bảo đảm ổn định tình hình chính trị - xã hội, t o sự phát triển hài hoà và bền vững của đất nước trong suốt quá trình công nghiệp hoá, hiện đ i hoá và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đề ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu h tầng kinh tế - xã hội hiện đ i; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy ho ch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đ o của Đảng được tăng cường”. Theo tinh thần của Nghị quyết trên, ổn định và phát triển kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng nông thôn mới, tiến tới ổn định nông thôn. Ổn định kinh tế ở đây là tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ theo quy ho ch, nhằm nâng cao đời sống vật chất của người dân.
Phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp 12 z phải đi đôi với nhau.