Chương 1 VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Văn hóa và văn hóa chính trị 1. Khái niệm văn hóa Ở phương Tây, từ văn hóa xuất hiện vào khoảng thế kỉ III TCN. Văn hóa trong tiếng Latinh bắt nguồn từ chữ “Cultus” có nghĩa gốc là trồng trọt, cày cấy, vun trồng.
Vậy xét về nguồn gốc, văn hóa là khái niệm gắn với sự phát triển nông nghiệp. Về sau, thuật ngữ văn hóa mở rộng thành “Cultus animi” và được chuyển nghĩa, đề cập đến sự vun trồng tinh thần, trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn con người. Văn hóa được người Hy Lạp cổ hiểu là một dạng đặc thù của hoạt động con người, là tự nhiên đã được con người cải tạo và qua đó khẳng định mình với tư cách là con người. Lý luận văn hóa Mác -Lênin xem văn hóa là hiện tượng xã hội.
Hoạt động văn hóa làm một bộ phận của hoạt động thực tiễn xã hội. Mỗi một hình thái kinh tế xã hội có một kiểu văn hóa xác định. Văn hóa mang tính lịch sử. Văn hóa là dấu hiệu phân biệt giữa con người với động vật.
Nó xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Và tương ứng với hai loại sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, văn hóa cũng được chia thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Trong đó, văn hóa vật chất là cơ sở, là nền tảng, xét đến cùng có vai trò quyết định đối với sự phát triển của văn hóa tinh thần. Song, ngược lại, văn hóa tinh thần cũng có tính độc lập tương đối, có vai trò đối với sự phát triển xã hội.
Ở Việt Nam, có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa :Theo tác giả Phạm Văn Đồng, văn hóa là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo”, “văn hóa là quá trình con người và cộng đồng con người ở từng nơi và ở mọi nơi đoàn kết và phấn đấu qua biết bao gian khổ và hy sinh để từng bước, từng phần tự 8 khẳng định mình, từng bước, từng phần thoát khỏi thân phận bị tha hóa, dần dần trở thành con người tự do”.11] Tác giả Đào Duy Anh quan niệm rằng: “Người ta thường cho văn hóa chỉ là những học thuật, tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như vậy. Học thuật, tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tâm thường lại không phải là ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chúng tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên có thể nói rằng văn hóa tức là sinh hoạt”[1]. Tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra quan niệm văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ có giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.24] Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994.
Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…” [8]; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng” [33- tr.314 ] Từ các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa ta có thể đi tới một khái niệm về văn hóa: Văn hóa là trình độ phát triển lịch sử nhất định của xã hội, 9 trình độ phát triển năng lực và khả năng sáng tạo của con người biểu hiện trong các phương thức tổ chức đời sống xã hội và hoạt động của con người cũng như toàn bộ giá trị tinh thần và vật chất do loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử vì lẽ sinh tồn và mục đích của cuộc sống. Văn hóa chính trị Trước khi đề cập đến văn hóa chính trị, cần thiết phải hiểu chính trị là gì. Theo Max Weber, nhà xã hội học Đức đầu thế kỉ XX, chính trị là khát vọng tham gia quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia, giữa các tập đoàn trong một quốc gia.
Nghĩa là, chính trị chỉ là những mong muốn, khát vọng và những tương tác khách quan, sự ảnh hưởng của cộng đồng người đối với quyền lực, không phải là hoạt động theo đuổi quyền lực. Xuất phát từ quan niệm mang tính chức năng của chính trị, một số học giả khác đã xem khả năng của con người đóng những vai trò khác nhau, hoàn thành những chức năng khác nhau trong khuôn khổ của một thể chế chính trị. Từ đó, họ cho rằng, bản chất chính trị là sự phân chia thẩm quyền và trách nhiệm cũng như đảm bảo hiệu quả của chính trị và sự bền vững của chính thể. Như vậy ở đây, chính trị được hiểu như sự khéo léo, khả năng đạt được sự phân chia chức năng mà vẫn đảm bảo duy trì sự tác động qua lại của chúng.
Các quan niệm trên, tuy có chứa một số những nhân tố hợp lý nhất định, nhưng chưa nêu được nội dung cơ bản nhất của phạm trù chính trị, đó là: chính trị là một thực thể tồn tại trong đời sống với những cấp độ khác nhau (cá nhân, cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhân loại), liên quan đến công việc của nhà nước. Từ Nghiên cứu các quan điểm trước đó về chính trị, đồng thời vận dụng một cách khoa học các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện 10 chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã đề xuất những nhận định đúng đắn về chính trị như sauː “Chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích giai cấp. Cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức quyền lực nhà nước, là sự tham gia vào công việc Nhà nước, là định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung, nhiệm vụ của Nhà nước. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế.
Đồng thời, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế. Chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan tới vận mệnh hàng triệu người. Giải quyết những vấn đề chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực Nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đương lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích”.6] Quan điểm của Hồ Chí Minh về chính trị: “giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng.
Củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức, do Đảng cộng sản lãnh đạo; củng cố và tăng cường sức mạnh toàn bộ hệ thống chính trị cũng như từng thành tố của nó”[21- tr72-75] Như vậy, với những điều đã trình bày như trên, có thể xem chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các dân tộc, giai cấp, cũng như giữa các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là hoạt động chính trị của thực tiễn giai cấp; là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội;, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm đạt được lợi ích. 11 Về khái niệm văn hóa chính trị Văn hóa chính trị là một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp. Nó thể hiện khả năng, năng lực của con người trong việc giác ngộ lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp, trong việc tổ chức, hoàn thiện hệ thống tổ chức quyên lực, nhằm hiện thực hóa lợi ích của nhân dân hay lợi ích của giai cấp phù hợp với mục tiêu chính trị và sự tiến bộ xã hội. Quan điểm nổi bật nhất và đặc sắc nhất trong tư tưởng VHCT của Hồ Chí Minh là xã hội mới phải có con người mới đại diện cho nó: “Muốn XHCN, phải có: người XHCN.
Muốn có người XHCN, phải có tư tưởng XHCN” [32- tr. Đối với Hồ Chí Minh, xây dựng thành công con người mới XHCN là xác lập cơ sở bền vững của VHCT mới. Sự lựa chọn con đường kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp vô sản là sự lựa chọn mang tính VHCT sâu sắc. Quan điểm về một xã hội mới phải là một xã hội không có áp bức dân tộc, áp bức giai cấp, áp bức con người.
Tác giả Lâm Quốc Tuấn trong bài “ Văn hóa chính trị và sự phát triển con người xã hội” định nghĩa : “Văn hóa chính trị là một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp nói lên tri thức năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực để thực hiện lợi ích cơ bản của giai cấp hay của xã hội phù hợp với sự phát triển lịch sử, được phản ánh trong các hình thức, các kiểu tổ chức hoạt động chính trị trong các thiết chế chính trị, trong các giá trị vật chất cũng như tinh thần do chính trị sáng tạo”[48]. Hai nhà chính trị học người Mỹ là G.Verbas, những người đầu tiên đưa ra khái niệm chính trị, đã chú trọng vào việc nghiên cứu hoạt động chính trị và gắn liền quá trình chính trị với hành vi của con người.