Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quá trình hình thành, phát triển cộng đồng người Việt ở Thái Lan" do nghiên cứu sinh Hà Nguyên Khoa thực hiện tại Trường Đại học Vinh (năm 2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Công Khanh và PGS. Hoàng Khắc Nam. Đề tài thuộc chuyên ngành Lịch sử thế giới (mã số 62.22.03.11).
- Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Cộng đồng người Việt ở Thái Lan là một trong những bộ phận kiều bào hình thành sớm tại khu vực Đông Nam Á, có lịch sử cư trú lâu đời từ thế kỷ XVII, phân bố tập trung và có tính liên kết nội bộ chặt chẽ. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Điều 18) cùng Báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trên thế giới hiện có hơn 4 triệu người Việt sinh sống, riêng tại Thái Lan có trên 110.000 người. Dù đã có một số công trình trong và ngoài nước tiếp cận cộng đồng này dưới góc độ nhân học hoặc nghiên cứu các lát cắt cục bộ (về văn hóa, hoạt động yêu nước, hoặc khảo sát từng địa phương riêng lẻ), song chưa có công trình sử học nào phục dựng toàn diện tiến trình lịch sử từ các đợt di dân thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XXI, gắn liền với những biến đổi kinh tế, chính trị, văn hóa và quan hệ bang giao Việt Nam - Thái Lan.
- Mục tiêu nghiên cứu:
Luận án hướng đến việc nghiên cứu toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về lịch sử hình thành, quá trình phát triển, các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ đầu thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI (có nguồn gốc từ thế kỷ XVII); làm rõ các đặc điểm vận động; đánh giá những đóng góp của cộng đồng đối với Việt Nam, Thái Lan và quan hệ song phương; từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách phù hợp.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Dựng lại quá trình hình thành của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ khoảng thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX.
- Tìm hiểu quá trình phát triển của cộng đồng người Việt ở Thái Lan qua hai giai đoạn: từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 và từ năm 1946 đến thập niên đầu thế kỷ XXI.
- Xác định nguyên nhân, tình trạng di cư, định cư, hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của cộng đồng người Việt ở Thái Lan qua các thời kỳ lịch sử.
- Tìm hiểu quá trình bảo lưu văn hóa truyền thống, biến đổi và hòa nhập văn hóa của cộng đồng người Việt vào xã hội Thái Lan qua các thời kỳ lịch sử.
- Rút ra một số đặc điểm của cộng đồng người Việt ở Thái Lan và đưa ra những kiến nghị, đề xuất với các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện chính sách đối với cộng đồng người Việt ở Thái Lan.
- Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của cộng đồng người Việt ở Thái Lan.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Tập trung vào các địa bàn định cư trọng điểm của người Việt tại Thái Lan, bao gồm vùng Đông Bắc (khu vực I-sản với 19 tỉnh như Sakon Nakhon, Nakhon Phanom, Udon Thani, Nong Khai, Ubon Ratchathani...) và khu vực miền Trung (Thủ đô Bangkok, khu vực Sam Sen, Bang Pho cùng các tỉnh phía Đông miền Trung như Chanthaburi, Trat, Sa Kaeo, Rayong).
- Thời gian: Từ thế kỷ XVII (thời điểm ghi nhận các điểm quần cư đầu tiên của người Việt) đến năm 2013 (mốc thời gian hai nước Việt Nam và Thái Lan chính thức thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã khảo sát, tổng thuật và phân loại khối lượng lớn các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
- Tình hình nghiên cứu tại Thái Lan:
- Vichan Champsari (1973): Luận án thạc sĩ chính trị học tại Đại học Thammasat với đề tài "Người Việt Nam tản cư và an ninh của Thái Lan", đề cập tiến trình di cư của người Việt và các đợt hồi hương giai đoạn 1960 - 1964 cùng chính sách của chính quyền Thái Lan.
- Penriduk và Prianak Bunnak (1983): Cuốn "Lịch sử Thái Lan" (bản dịch tiếng Việt của Trịnh Diệu Thìn), cung cấp tư liệu về lịch sử vùng Đông Bắc và sự hiện diện của người Việt.
- Pussadee Chandavimol (1998): Công trình "Người Việt ở Thái Lan" (NXB Trẻ dịch sang tiếng Việt), tập trung khảo sát cộng đồng người Việt cũ (Duôn càu) sinh sống quanh khu vực Thủ đô Bangkok.
- Lea Dilokdhyarat (2000): Bài viết "Người Việt sang Thái từ bao giờ" trên Tạp chí Văn hóa xã hội số 1.
- Thawi Swangpanyakoon (2001): Bài viết "Lịch sử 16 chùa An Nam tông ở Thái Lan" trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (số 4), làm rõ nguồn gốc hơn 200 năm của các ngôi chùa phái Annamnikai được triều đình Xiêm bảo trợ.
- Thanyathip Sripana: Loạt bài nghiên cứu về 25 năm quan hệ ngoại giao Việt - Thái (2001), vấn đề nhập quốc tịch của người Việt (2003) và công trình phối hợp với Trịnh Diệu Thìn mang tên "Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam" (2006) gồm 6 chương phân tích toàn diện lịch sử di cư, phong trào cứu quốc và các đợt hồi hương.
- Ngamphit Satsanguon (2002): Đề tài "Trường hợp nghiên cứu gia đình người Việt" thuộc Đại học Chulalongkorn, đi sâu vào cấu trúc gia đình và huyết thống của cộng đồng Công giáo tại Sam Sen (Bangkok).
- Trường Đại học Rajabhat Sakon Nakhon (2002): Báo cáo điều tra dân số và đặc điểm nhân học tộc người của cộng đồng người Việt tại tỉnh Sakon Nakhon.
- Nartha Nantachukra / Artha Nantachukra (2004): Xuất bản cuốn "Hồ Chí Minh ở Thái Lan" và bài tham luận về làng hữu nghị Thái - Việt tại bản Nachok (tỉnh Nakhon Phanom).
- Sukprida Phanomdong (2006): Tác phẩm "Hồ Chí Minh - Ông Tiên sống mãi", tái hiện hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Thái Lan.
- Thananan Boonwanna (2008): Luận án tiến sĩ về quan hệ Thái Lan - Việt Nam giai đoạn 1996 - 2004.
- Tình hình nghiên cứu tại các quốc gia khác:
- Tài liệu tổng quan lịch sử Thái Lan: Các công trình của E. Berdin (Nga, 1973), Chris Baker và Pasuk Phongpaichit (Đại học Cambridge, 2005), B.J. Terwiel (1983, A History of Modern Thailand 1767 - 1942), Pierre Fistie (Pháp).
- Nghiên cứu trực tiếp về người Việt tại Thái Lan: Peter A. Poole (Mỹ, 1970) với cuốn "The Vietnamese in Thailand (A Historical Perspective)" phân tích chính sách của Chính phủ Thái Lan và phản ứng của cộng đồng kiều bào; Philipe Courtine (Pháp, 1992, 1994) với các nghiên cứu về đô thị Bangkok và sự hòa nhập của cộng đồng người Việt.
- Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Các công trình lịch sử liên quan: Vũ Dương Ninh (1994), Lê Văn Quang (1995), Nguyễn Khắc Viện (1998), Đào Minh Hồng (2001), Trần Thị Nhẫn (2011), Phạm Thị Thúy (2013), Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1978, 1989), Trần Huy Liệu (1956), Lê Mạnh Thát (1999), Hoàng Khắc Nam (2004), Đặng Văn Chương (2010).
- Các công trình chuyên khảo về kiều bào tại Thái Lan: Phan Huấn (1954), Hoàng Văn Hoan chủ biên (1978, "Hoạt động cách mạng của Việt kiều ở Thái Lan"), Lê Quốc Sản (1989, nghiên cứu về Chi đội Hải ngoại 4), Trần Trọng Đăng Đàn (1997, "Người Việt Nam ở nước ngoài"), Trần Đình Riên (2005), Nguyễn Văn Khoan (1996, 2008), Nguyễn Văn Vinh (2010), Lê Mạnh Trinh (1961), Đông Tùng.
- Các đề tài và luận án chuyên ngành: Đề tài cấp Bộ của Trường Đại học Vinh do Nguyễn Công Khanh chủ trì (2009); đề tài của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài do Phạm Hải Bằng chủ nhiệm; đề tài cấp Nhà nước của Vũ Hào Quang (2010, xuất bản năm 2015); luận án tiến sĩ nhân học của Nguyễn Hồng Quang (2013) về đời sống văn hóa tinh thần của người Việt tại Sakon Nakhon; luận văn thạc sĩ của Bùi Hồng Thanh (2006) và Nguyễn Mai Phương (2010); các bài viết của Nghiêm Đình Vỳ (2001), Ngô Vĩnh Bao (2004), Trần Ngọc Danh (1999).
- Khoảng trống luận án giải quyết:
Các tài liệu hiện có chủ yếu tồn tại ở dạng hồi ký, ghi chép lịch sử cục bộ hoặc khảo cứu nhân học tại từng tỉnh lẻ; thiếu tính khái quát hóa về mặt sử học. Luận án khắc phục hạn chế này bằng cách hệ thống hóa tiến trình lịch sử xuyên suốt từ thế kỷ XVII đến năm 2013, phân tích đồng bộ các mặt di dân, kinh tế, biến động dân số, sinh hoạt văn hóa - tôn giáo và vai trò cầu nối đối ngoại của cộng đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Khái niệm và thuật ngữ công cụ:
- Khái niệm cộng đồng: Luận án tham khảo định nghĩa của Corten (1987) và Tô Duy Hợp (2000), từ đó xác định: Cộng đồng người Việt ở Thái Lan là một thực thể xã hội quy mô nhỏ, gồm những người có chung nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam, định cư ổn định trong không gian địa lý Thái Lan, sử dụng song ngữ tiếng Việt - tiếng Thái, cùng duy trì các giá trị văn hóa truyền thống và gắn bó chặt chẽ với nhau.
- Phân loại cư dân: Phân loại theo thuật ngữ xã hội Thái Lan gồm nhóm Duôn càu (người Việt cũ nhập cư trước Chiến tranh thế giới thứ hai tại miền Trung và một phần Đông Bắc) và nhóm Duôn mày / Duôn ôpphadôp (người Việt mới tản cư trong và sau chiến tranh, chủ yếu ở Đông Bắc). Về mặt pháp lý, luận án phân định giữa nhóm Người Thái gốc Việt (đã nhập quốc tịch Thái Lan, chiếm đa số) và nhóm người Việt cư trú lâu năm hưởng quy chế ngoại kiều.
- Khung lý thuyết di cư áp dụng:
- Thuyết tân cổ điển: Giải thích các dòng di cư dựa trên sự lựa chọn duy lý nhằm tìm kiếm lợi ích kinh tế và chênh lệch tiền công giữa Việt Nam và Thái Lan.
- Thuyết cấu trúc: Phân tích tác động của sự chuyển dịch phương thức sản xuất và chiến lược sinh kế hộ gia đình đối với quá trình di dân.
- Thuyết mạng lưới xã hội: Làm rõ vai trò của các mối quan hệ thân tộc, đồng hương trong việc giảm thiểu rủi ro và duy trì liên kết giữa nơi đi và nơi đến.
- Lý thuyết xuyên quốc gia: Nhận diện quá trình bảo lưu bản sắc dân tộc và sự duy trì liên lạc văn hóa, tình cảm của kiều bào với quê hương Việt Nam trong bối cảnh hòa nhập xã hội sở tại.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên nền tảng phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.
- Phương pháp chủ đạo: Sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử (phục dựng tiến trình di cư, định cư theo trật tự thời gian) và phương pháp logic (phân tích cấu trúc, bản chất và quy luật phát triển của cộng đồng).
- Phương pháp liên ngành: Tổng hợp, thống kê, phân tích đối chiếu, so sánh lịch sử, điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu.
- Nguồn tư liệu thực hiện:
- Tài liệu lưu trữ gốc: Thư tịch cổ; các hồ sơ, văn bản hành chính của chính quyền thực dân Pháp lưu trữ tại Đông Dương; các nghị định, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam và Bộ Ngoại giao; các văn bản quy định của Chính phủ Thái Lan cùng quy ước nội bộ của các hội đoàn Việt kiều.
- Tài liệu tham khảo: Sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo, luận văn, luận án và các tập hồi ký của các nhà cách mạng tiền bối.
- Tài liệu điền dã: Kết quả từ 3 chuyến khảo sát thực địa dài ngày và nhiều đợt điền dã ngắn ngày tại các địa bàn có đông người Việt sinh sống ở Thái Lan cũng như các địa phương có kiều bào hồi hương tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu về đất nước Thái Lan, lịch sử quan hệ hai nước và cộng đồng kiều bào được công bố tại Thái Lan, Việt Nam và các quốc gia khác. Tác giả chỉ ra các khoảng trống khoa học: phần lớn tài liệu trước đây ở dạng hồi ký chưa được khái quát hóa, các nghiên cứu chuyên sâu thường giới hạn ở từng địa phương riêng lẻ, chưa có công trình sử học nào đánh giá bao quát mọi mặt hoạt động của cộng đồng từ thế kỷ XVII đến năm 2013.
Chương 2. Quá trình di cư và hình thành cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận về di cư, đặc điểm địa lý - dân cư Thái Lan và phục dựng chi tiết các đợt di dân của người Việt sang Thái Lan qua bốn thế kỷ:
- Bối cảnh không gian cư trú:
- Vùng Đông Bắc (vùng I-sản): Gồm 19 tỉnh, diện tích gần 160.000 km², cách biệt với trung tâm bởi đồi núi và ngăn cách với Lào bởi sông Mekong (hơn 1.600 km đường biên tự nhiên). Đây từng là vùng biên viễn thưa dân, đất đai rộng lớn, phù hợp cho người Việt sang khai hoang làm nông nghiệp.
- Vùng miền Trung: Bao gồm Bangkok (châu thổ sông Chao Phraya) và các tỉnh ven biển phía Đông như Chanthaburi, Trat, Sa Kaeo. Chanthaburi là vùng giáp biên giới Campuchia, tiếp giáp Vịnh Thái Lan, thuận lợi cho việc di chuyển bằng đường biển và phát triển nghề đánh cá, chế tác đá quý.
- Các đợt di cư lịch sử:
- Thế kỷ XVII: Ghi nhận những dấu tích cư trú ban đầu (thư tịch cổ của nhà sư Nghĩa Tịnh thế kỷ VII từng ghi nhận nhà sư Đại Thừa Đăng; đến thế kỷ XVII xuất hiện các nhóm cư dân sang buôn bán, lập nghiệp).
- Thế kỷ XVIII: Năm 1712, nhóm giáo dân Công giáo đầu tiên vượt biển định cư tại Chanthaburi. Năm 1785, sau thất bại quân sự, Nguyễn Ánh cùng khoảng 200 tùy tùng sang lưu vong tại Sam Sen; tháng 5/1785, thuộc cấp Lê Văn Quân đưa 600 người sang bổ sung; năm 1787, Đô đốc Nguyễn Huỳnh Đức dẫn khoảng 5.000 quân sang Bangkok, sau đó khoảng 2/3 quân số ở lại định cư tại khu vực Bang Pho. Cùng với gần 600 giáo dân đến Sam Sen năm 1785, số lượng người Việt tại Bangkok cuối thế kỷ XVIII đã vượt mức 5.000 người.
- Thế kỷ XIX: Do chính sách cấm đạo dưới các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cùng biến động xã hội và phong trào "Bình Tây sát tả", khoảng 5.000 người Việt đã di cư sang Thái Lan. Hiệp ước Pháp - Xiêm ngày 03/10/1893 thiết lập khu phi quân sự và mậu dịch tự do rộng 25 km dọc bờ hữu sông Mekong, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt qua lại buôn bán và định cư tại vùng Đông Bắc.
- Đầu thế kỷ XX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất: Sau khi phong trào Cần Vương, Đông Du và Duy Tân thất bại, các sĩ phu yêu nước (Đặng Thúc Hứa, Đặng Tử Kính, Ngô Quảng, Đặng Quỳnh Anh...) sang Xiêm lập căn cứ. Đồng thời, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp (1897 - 1914) với việc mở đường giao thông và cấp phép mỏ khoáng sản tại Lào, Campuchia đã thúc đẩy dòng người lao động Việt Nam chuyển tiếp sang đất Xiêm. Đến giai đoạn này, quy mô cộng đồng đạt khoảng gần 10.000 người.
- Hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và chính trị:
- Kinh tế: Người Việt làm ruộng lúa nước, đánh bắt thủy sản, dệt chiếu, may mặc, khai hoang và làm chủ nghề chế tác đá quý tại Chanthaburi.
- Văn hóa - Tôn giáo: Thành lập phái Phật giáo An Nam tông (Annamnikai) với các ngôi chùa đầu tiên như chùa Vat Mongkhonxamakon (thời Nguyễn Ánh/Rama I); xây dựng các nhà thờ Công giáo tại Chanthaburi (nhà thờ gỗ đầu tiên năm 1712, tái thiết năm 1752, 1834, 1885 và công trình kiên cố hoàn thành năm 1909) cùng nhà thờ Saint Francis Xavier tại Sam Sen (hoàn thành năm 1853). Điệu múa đăng truyền thống từ thời Nguyễn Ánh lưu vong đã được cung đình Xiêm tiếp nhận và cải biên thành điệu múa đèn thời vua Rama IV.
- Hoạt động yêu nước: Năm 1909, Phan Bội Châu đến Xiêm tập hợp lực lượng cách mạng tại Bạn Thầm (khoảng 50 người). Cụ Đặng Thúc Hứa xây dựng hệ thống "Trại cày" tại Paknampho, Phichit, Bản Nùng, Noong Bùa, Đông Ổn vừa để tự túc kinh tế, vừa làm trạm giao thông liên lạc, nuôi dưỡng các thanh niên yêu nước (như Phạm Hồng Thái, Hồ Tùng Mậu, Lý Tự Trọng).
| Giai đoạn lịch sử |
Địa bàn định cư trọng điểm |
Thành phần cư dân chủ yếu |
Hoạt động tiêu biểu |
| Thế kỷ XVII - XVIII |
Sam Sen, Bang Pho (Bangkok); Tỉnh Chanthaburi |
Tín đồ Công giáo; Binh lính và tùy tùng của Nguyễn Ánh, Nguyễn Huỳnh Đức |
Lập làng ven sông Chao Phraya; Dựng nhà thờ gỗ (1712); Xây chùa An Nam tông; Làm nghề chế tác đá quý. |
| Thế kỷ XIX |
Các tỉnh Đông Bắc (Sakon Nakhon, Nong Khai...); Miền Trung |
Giáo dân lánh nạn cấm đạo; Nông dân nghèo tránh thiên tai, dịch bệnh |
Khai phá đất hoang làm lúa nước; Buôn bán dọc hành lang sông Mekong theo Hiệp ước 1893. |
| Đầu thế kỷ XX - 1918 |
Paknampho, Phichit, Udon Thani, Sakon Nakhon, Nakhon Phanom |
Sĩ phu Cần Vương, Đông Du, Duy Tân; Lao động phu mỏ, đường bộ |
Lập mô hình "Trại cày"; Xây dựng cơ sở tiếp nhận thanh niên cách mạng; Tuyên truyền tư tưởng cứu quốc. |
Chương 3. Sự biến động trong quá trình phát triển của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ đầu thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI
Chương 3 phân tích tiến trình phát triển của cộng đồng qua hai thời kỳ lớn:
- Giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1945: Số lượng người Việt gia tăng nhanh chóng do các biến động kinh tế - chính trị tại Đông Dương. Năm 1928 - 1929, Nguyễn Ái Quốc đến hoạt động tại Thái Lan, củng cố Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, thúc đẩy phong trào học chữ Quốc ngữ qua mô hình "Gia đình học hiệu", xuất bản báo chí cách mạng và định hướng cộng đồng tôn trọng luật pháp, phong tục tập quán Thái Lan.
- Giai đoạn từ năm 1946 đến thập niên đầu thế kỷ XXI:
- Biến động dân cư: Các dòng chuyển cư nội địa Thái Lan và phong trào hồi hương lớn giai đoạn 1960 - 1964 đưa hàng vạn kiều bào về xây dựng miền Bắc Việt Nam.
- Đóng góp cho kháng chiến: Kiều bào tại Thái Lan thành lập Chi đội Hải ngoại 4 (Chi đội Trần Phú, 1947 - 1949) hành quân về nước trực tiếp tham gia kháng chiến chống Pháp; tích cực quyên góp tài chính, hàng hóa ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
- Hòa nhập và bảo tồn văn hóa: Sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (năm 1976), kiều bào từng bước được giải quyết vấn đề quy chế pháp lý, nhập quốc tịch Thái Lan (Người Thái gốc Việt), chuyển đổi mạnh sang kinh tế thương mại, dịch vụ, đồng thời duy trì việc dạy tiếng Việt và gìn giữ văn hóa cội nguồn.
Chương 4. Một số nhận xét về cộng đồng người Việt ở Thái Lan
Chương 4 tổng kết các đặc trưng cơ bản và đánh giá vai trò của cộng đồng:
- Đặc điểm: Quá trình hình thành kéo dài nhiều thế kỷ, gắn chặt với các bước ngoặt lịch sử dân tộc; tinh thần yêu nước và ý thức hướng về Tổ quốc sâu sắc; tính cố kết nội bộ cao dựa trên thiết chế hội đoàn; khả năng hòa nhập tốt vào đời sống kinh tế - xã hội Thái Lan mà không bị đồng hóa hoàn toàn về mặt văn hóa.
- Đóng góp: Cung cấp nhân lực khai khẩn đất đai và phát triển kinh tế cho Thái Lan; đóng góp nguồn lực vật chất, chính trị to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Việt Nam; đóng vai trò cầu nối nhân dân thúc đẩy quan hệ hữu nghị, kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan.
- Kiến nghị: Hoàn thiện các chính sách của Nhà nước Việt Nam về kiều bào, tăng cường hỗ trợ dạy tiếng Việt, bảo tồn di tích lịch sử cách mạng tại Thái Lan và tạo hành lang pháp lý thông thoáng để thu hút nguồn lực trí thức, doanh nhân kiều bào về đầu tư trong nước.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận:
Luận án đã hệ thống hóa và vận dụng các lý thuyết di cư hiện đại (thuyết tân cổ điển, thuyết cấu trúc, thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết xuyên quốc gia) vào việc phân tích một trường hợp cộng đồng kiều dân cụ thể tại Đông Nam Á. Công trình góp phần làm rõ các khái niệm phân loại cư dân trong lịch sử Thái Lan như Duôn càu, Duôn mày và diện mạo nhóm Người Thái gốc Việt.
- Về mặt thực tiễn:
- Phục dựng bức tranh lịch sử hoàn chỉnh, liên tục về quá trình di cư, hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ thế kỷ XVII đến năm 2013 dưới góc độ sử học.
- Tập hợp và làm rõ nguồn tư liệu về các phong trào yêu nước, vai trò của các nhà cách mạng Phan Bội Châu, Đặng Thúc Hứa, Nguyễn Ái Quốc và hoạt động của Chi đội Hải ngoại 4.
- Làm rõ sự tiếp biến và đóng góp văn hóa của người Việt đối với xã hội Thái Lan, tiêu biểu là sự hình thành hệ thống chùa An Nam tông và nguồn gốc điệu múa đèn cung đình thời vua Rama IV.
- Cung cấp cơ sở khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoạch định chính sách kiều bào và chiến lược ngoại giao nhân dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do nguồn tư liệu thư tịch thế kỷ XVII - XVIII bị tản mát và phụ thuộc nhiều vào các ghi chép gián tiếp, việc định lượng quy mô dân số người Việt ở các giai đoạn đầu chỉ dừng lại ở mức ước tính dựa trên các đợt di dân lớn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh tiến trình tiếp biến văn hóa của cộng đồng người Việt ở Thái Lan với kiều bào tại Lào và Campuchia; đi sâu nghiên cứu mức độ hội nhập ngôn ngữ và xu hướng tham gia chuỗi liên kết kinh tế khu vực của thế hệ người Thái gốc Việt thứ ba, thứ tư sau khi Cộng đồng ASEAN hình thành.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho:
- Các nhà nghiên cứu lịch sử thế giới, lịch sử quan hệ quốc tế và nhân học văn hóa.
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Sử học, Đông Nam Á học.
- Các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Ngoại giao, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài trong việc xây dựng cơ chế bảo tồn văn hóa và phát huy nguồn lực kiều bào.
- Phần có giá trị tham khảo cao gồm: hệ thống tư liệu lịch sử về 4 đợt di cư tại Chương 2 và các phân tích về sự biến động quy chế pháp lý, phong trào hồi hương tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Người Thái phân chia cộng đồng người Việt thành những nhóm nào và tên gọi đó có ý nghĩa gì?
Người Thái phân chia người Việt thành hai nhóm: Duôn càu (người Việt cũ) là nhóm nhập cư trước Chiến tranh thế giới thứ hai, cư trú chủ yếu ở miền Trung (Bangkok, Kanchanaburi, Chanthaburi...); và Duôn mày hay Duôn ôpphadôp (người Việt mới / tản cư) là nhóm sang Thái Lan do chiến tranh, tập trung đông ở vùng Đông Bắc. Hiện nay, những người đã nhập quốc tịch được gọi chính thức là Người Thái gốc Việt.
2. Địa bàn Chanthaburi có dấu ấn di cư và kinh tế - tôn giáo nổi bật nào của người Việt?
Năm 1712, nhóm người Việt Công giáo đầu tiên vượt biển đến lập làng ven sông Chanthaburi và dựng ngôi nhà thờ gỗ đầu tiên. Tại đây, người Việt đã phát triển mạnh nghề khai thác, chế tác đá quý chất lượng cao. Ngôi nhà thờ chính thức thứ năm kiểu phương Tây được hoàn thành vào năm 1909 và trở thành trung tâm sinh hoạt tôn giáo lớn của cộng đồng.
3. Mô hình "Trại cày" của cụ Đặng Thúc Hứa ở đầu thế kỷ XX có vai trò gì?
Từ năm 1910, cụ Đặng Thúc Hứa cùng các chí sĩ đã lập các "Trại cày" tại Paknampho, Phichit, Bản Nùng, Noong Bùa, Đông Ổn. Đây thực chất là các cơ sở sản xuất nông nghiệp nhằm tự túc kinh tế mưu sinh, tạo nguồn tài chính cho phong trào cứu quốc và làm cơ sở an toàn để tiếp nhận, nuôi dưỡng, huấn luyện cán bộ cách mạng từ trong nước sang.
4. Điệu múa đèn trong cung đình Thái Lan có xuất xứ lịch sử như thế nào?
Điệu múa đèn Thái Lan có nguồn gốc từ điệu múa đăng Huế do Nguyễn Ánh lập đội biểu diễn để phục vụ gia quyến trong thời gian lưu vong tại Xiêm (1785 - 1787). Đến thời kỳ vua Rama IV, triều đình Xiêm đã tiếp nhận và cải biên nghệ thuật này thành điệu múa đèn chính thức trong cung đình.
5. Mốc thời gian kết thúc nghiên cứu của luận án là năm nào và vì sao được lựa chọn?
Mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2013. Đây là thời điểm hai nước Việt Nam và Thái Lan chính thức nâng cấp quan hệ ngoại giao lên Đối tác chiến lược, tạo ra khuôn khổ pháp lý và điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển, hội nhập của cộng đồng người Thái gốc Việt.
Kết luận
Luận án của tác giả Hà Nguyên Khoa đã phục dựng một cách hệ thống và toàn diện tiến trình lịch sử hơn 400 năm của cộng đồng người Việt ở Thái Lan từ thế kỷ XVII đến năm 2013. Tác phẩm làm rõ các nguyên nhân di cư, quá trình xác lập không gian cư trú tại vùng Đông Bắc và miền Trung, cũng như những biến chuyển kinh tế, xã hội và tôn giáo của kiều bào qua từng giai đoạn. Công trình khẳng định tinh thần yêu nước, tính cố kết cộng đồng và những đóng góp to lớn của người Việt đối với công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam lẫn sự phát triển của đất nước Thái Lan. Đây là nguồn tư liệu khoa học giá trị phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử và hoạch định chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài.