Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂNTHÂN NGƯỜI PHẠM TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Khái niệm và các đặc điểm của nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm về nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Ma túy hiện đang là một vấn nạn trên toàn thế giới, hiểm họa của nhân loại.
Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân của các mối bất hòa trong gia đình mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng, là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm cho sự lây nhiễm HIV/AIDS có nguy cơ lan truyền rất rộng. Những tác hại và hậu quả của ma túy vẫn đang tác động và gây ảnh hưởng đến nền an ninh, trật tự các quốc gia trên thế giới và trực tiếp Việt Nam; ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người sử dụng chất ma túy, cuộc sống gia đình, người thân và toàn xã hội. Hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về ma túy, chất ma túy. Theo từ điển tiếng Việt thì: “Chất ma túy (ma túy) là tên gọi chung cho tất cả các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện” [59, tr171].
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân năm 2005 thì: “Chất ma túy là hợp chất khi đưa vào cơ thế sống có tác dụng làm thay đổi một hay nhiều chức năng của cơ thể” [60, 87]. Luật phòng chống ma túy năm 2013, thì: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [41, Khoản 1 Điều 2]. Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi 2009 và Bộ Luật hình sự năm 2015 thì “Ma túy bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca; lá, hoa, quả cây cần sa; lá cây coca; quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi, heroin, côcain; các chất ma túy khác ở thể lỏng hay thể rắn” [42, Điều 194], [43, Điều 251]. Trên cơ sở quy định của pháp luật về các thuật ngữ nêu trên, có thể hiểu chất ma túy như sau: “Chất ma túy (ma túy) là các chất gây nghiện, chất hướng thần có nguồn 10 gốc từ tự nhiện hoặc nhân tạo, khi đưa vào cơ thể người, nó làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó, làm cho người sử dụng phải lệ thuộc vào nó và có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho người sử dụng và cộng đồng” [66, tr921].
Bên cạnh tác hại chất ma túy đối với cá nhân người sử dụng, cộng đồng và xã hội, chất ma túy còn có tác dụng về y học và nghiên cứu khoa học phục vụ điều chế các thuốc độc dược. Do vậy, hoạt động mua bán chất ma túy đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam; cá nhân, tổ chức mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật. Đối với Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (chưa có hiệu lực) quy định tại Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy; Bộ Luật hình sựViệt Nam năm 1999, sửa đổi 2009 (hiện đang còn hiệu lực) quy định tại Điều 194:Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người nào mua bán trái phép chất ma tuý là tội phạm; tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; 2.Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm đặc biệt nghiêm trọng”[42, Điều 12].Trong Bộ luật hình sự xác định, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng với lỗi cố ý nên chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên. Trên cơ sở quy định của pháp luật, có thể hiểu người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy phải có đủ các điều kiện sau: Một là, người đó phải thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép các chất ma túy được quy định tại Điều 194 của Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Hai là, chủ thể thực hiện hành vi, tại thời điểm thực hiện hành vi phải từ đủ 14 tuổi trở lên; có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự có thể định nghĩa người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy như sau: Người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép các chất ma túy được quy định tại Điều 194 của Bộ luật hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực 11 trách nhiệm hình sự;bị các cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với họ.
Khái niệm nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy * Khái niệm nhân thân người phạm tội Nghiên cứu hệ thống tài liệu [30, tr321], [18, tr8], [26, tr34], [51, 32], [56, tr37], [27, tr38], [64, tr344] cho thấy: Nhân thân con người nói chung và nhân thân người phạm tội nói riêng là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Đó là các đặc điểm, dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học, các đặc điểm về xã hội học, đạo đức, tâm lý. Bản chất xã hội của tâm lý nhân thân biểu hiện ở chỗ nó không bị quy về các đặc thù tâm lý cá nhân của con người, mà là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng trong sự phát triển và hình thành của nó. Với nghĩa đó nhân thân kế thừa và phản ảnh kinh nghiệm xã hội của mọi thế hệ đi trước, tiếp xúc ở một chừng mực nào đó với các thành tựu văn hoá, lao động, sáng tạo, ứng xử xã hội mang tính nhân loại chung của các dân tộc khác nhau và đồng thời nắm bắt lấy chúng.
Ngoài ra nhân thân bao giờ cũng thể hiện trong mình các đặc điểm của chế độ xã hội nhất định trong ý thức giai cấp, trong thế giới quan chung và lý tưởng chính trị của riêng nó. Nhân thân người phạm tội, dù cho tự nó có những biểu hiện này hay biểu hiện khác, kể cả việc thực hiện tội phạm có nguy hiểm đến đâu chăng nữa, thì để đánh giá đúng về nó và hơn nữa là về nhân thân nói chung cũng chỉ có được trên cơ sở của mọi đặc tính xã hội quan trọng và mọi biểu hiện nhân thân. Chính do tổng thể các đặc điểm và các dấu hiệu xã hội, cấu trúc và mối tương quan giữa chúng như vậy đã đem lại cho chúng ta một quan niệm đầy đủ về người phạm tội và cho phép hiểu được cách xử sự phạm tội của người đó, nguyên nhân và động cơ phạm tội và từ kết quả đánh giá như vậy mới có cơ sở bảo đảm việc tăng cường phòng ngừa tội phạm. Như vậy, có thể hiểu: “Nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng các đặc điểm, dấu hiệu các đặc tính quan trọng thể hiện bản chất hội của con người khi vi phạm pháp luật hình sự, mà trong sự kết hợp với các điều kiện bên ngoài đã ảnh hưởng đến xử sự phạm tội của người đó”[30, tr.
* Khái niệm nhân thân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là sự thể hiện các 12 đặc điểm cá nhân, trong đó phản ánh con đường sinh sống cá thể của người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, sự tồn tại cá nhân của họ - tồn tại được quy định bởi một nội dung cụ thể của các mối quan hệ gia đình, trường học, xã hội. Đó là môi trường vi mô mà trong đó người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy sống hoạt động và hình thành các đặc điểm nhân thân. Đề cập đến nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là nói đến các đặc điểm, dấu hiệu cá nhân của con người thực hiện tội phạm mua bán trái phép chất ma túy, mà dấu hiệu đặc trưng nhất để phân biệt nhân thân con người nói chung và nhân thân người phạm tội cụ thể khác nói riêng ở hành vi thực hiện tội phạm, nghĩa là người đó trở thành chủ thể của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật hình sự. Đây là cơ sở pháp lý cho việc xác định khái niệm nhân thân người phạm tội ma túy.
Nghiên cứu nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy có ý nghĩa quan trọng khi xem xét xử lý người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; là cơ sở để quản lý, giáo dục cải tạo đối với cá nhân từng con người phạm tội và xây dựng hệ thống các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm ma túy nói chung, tội phạm mua bán trái phép chất ma túy nói riêng đạt hiệu quả. Việc xem xét nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy ở nhiều khía cạnh về nhân thân như: giới tính, dân tộc, độ tuổi, nơi cư trú, trình độ văn hóa, địa vị xã hội và nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi cư trú, đạo đức tâm lý, đặc điểm pháp lý hình sự.Như vậy, nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của người phạm tội mua bán trái phép chất ma túyđược quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999. Đó là các đặc điểm, dấu hiệu về sinh học, nhân khẩu học, các đặc điểm về xã hội học, đạo đức, tâm lý của người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Trong lý luận tội phạm học, các đặc điểm nhân thân người phạm tội nói chung và các đặc điểm nhân thân người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy được chia thành ba nhóm: Nhóm đặc điểm sinh học, nhóm đặc điểm đạo đức tâm lý và nhóm đặc điểm xã hội [27, tr37-40].