PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ lâu, Vốn xã hội (VXH) được đánh giá là một nguồn vốn có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế và sự phát triển bền vững của một quốc gia bên cạnh những nguồn vốn truyền thống khác như vốn tài nguyên thiên nhiên (natural capital), vốn vật thể (physical capital) và vốn con người (human capital) (Coleman, 1988; Putnam, 1993; Granovetter, 1995; Narayan và Pritchett,1997; Munshi và Kaivan, 2003; Xue, 2008; Lancee, 2010). Các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cũng cho rằng đây là nguồn vốn của người nghèo (Grootaert & cộng sự, 2004). Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những hệ tiêu chí khác nhau để đánh giá về VXH.
Tại Việt Nam, từ đầu những năm 2000, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã xem VXH là một nguồn lực rất quan trọng. Tuy nhiên, loại vốn này sẽ chỉ có ích khi nó có thể quan sát và đo lường được (Uphoff và Wijayaratna, 2000). VXH là một khái niệm đa chiều và đa hình thức, do đó một định nghĩa thống nhất về VXH vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận. Hiện nay, sự đánh giá ngày càng cao về tầm quan trọng của các vấn đề xã hội và môi trường cũng như kinh tế trong việc theo đuổi sự thịnh vượng và phúc lợi của mỗi quốc gia.
VXH cung cấp một số chỉ tiêu xã hội quan trọng để hiểu được kết quả của các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. VXH đã trở thành trọng tâm chung của các chính sách quốc gia và của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, và đóng vai trò như một nguồn lực để đạt được các mục tiêu chính sách khác (ABS-2004). Trong suốt thập kỷ qua, VXH đã trở thành tâm điểm chú ý của các nghiên cứu thực hành và ứng dụng trong các lĩnh vực khoa học khác nhau. Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về phương thức đo lường VXH, nhưng cho tới nay việc đo lường VXH vẫn còn nhiều tranh luận.
Mỗi một công trình điều tra lại sử dụng phương thức đo lường riêng dựa trên cách tiếp cận khác nhau ở cấp độ vi mô, vĩ mô và trung mô về khái niệm VXH. 2 Xuấ t phát từ bố i cảnh đó , tác giả cho rằng để có chiến lược phát huy nguồn lực VXH ở Việt Nam, việc xây dựng mô hình đo lường VXH là điều rất cần thiết. Do đó, em đã cho ̣n đề tài “Nghiên cứu hệ tiêu chí đánh giá Vốn xã hội và kiến nghị với Việt Nam” nhằ m nghiên cứu những hệ tiêu chí đánh giá VXH trong bố i cảnh thế giới từ đó đề xuất hệ tiêu chí phù hợp để đo lường VXH ở Việt Nam hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Mục tiêu của luận văn này là phân tích bối cảnh thực tế VXH ở Việt Nam, để từ đó đề xuất xây dựng nên một hệ tiêu chí đo lường VXH phù hợp.
Mục tiêu cụ thể Về lý luận Nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về VXH và đo lường về VXH Nghiên cứu đặc thù hệ tiêu chí đo lường VXH trên thế giới Về phân tích đánh giá Bối cảnh VXH của Việt Nam hiện nay Phân tích và đánh giá sự phù hợp của các hệ tiêu chí đo lường VXH đang áp dụng hiện nay trên thế giới đối với thực trạng của Việt Nam Về đề xuất, can thiệp Xây dựng một hệ tiêu chí phù hợp với thực tiễn Việt Nam và điều kiện áp dụng hệ tiêu chí đó trong bối cảnh hiện nay 3. Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ tiêu chí đo lường VXH trên thế giới. Từ đó, xây dựng hệ tiêu chí phù hợp để đánh giá VXH ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu Về mặt nội dung: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các hệ tiêu chí đo lường VXH trên Thế giới đang áp dụng phổ biến hiện nay như OECD, ABS, World Bank, 3 Grooteart… Căn cứ vào thực trạng VXH Việt nam hiện nay, luận văn sẽ đề xuất xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH phù hợp.
Về mặt không gian: Luận văn sẽ nghiên cứu cụ thể một số mô hình đo lường đánh giá VXH tiêu biểu trên thế giới. Sau khi đề xuất xây dựng hệ tiêu chí đánh giá phù hợp với thực trạng VXH ở Việt Nam, luận văn sẽ tiến hành kiểm định mô hình đo lường với phiếu điều tra được gửi đến cho các đối tượng đang sinh sống và học tập, làm việc trên địa bàn Việt Nam có kinh nghiệm và am hiểu về VXH. Về mặt thời gian: Phần cơ sở lý luận, luận văn sẽ nghiên cứu các mô hình đo lường đánh giá VXH trên thế giới tiêu biểu từ năm 2001 trở lại đây. Phần thực trạng thì sẽ tiến hành thu thập và điều tra số liệu trong tháng 4 năm 2017.
Phƣơng pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng Các nguồn dữ liệu bao gồm: Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các bài báo nghiên cứu khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, các công bố trên website của các tổ chức quốc tế và của Tổng cục thống kê Việt Nam… Nguồn dữ liệu sơ cấp: Điều tra bằng bảng hỏi Phương pháp thu thập dữ liệu: Nghiên cứu tài liệu văn bản, báo cáo của các cơ quan ban ngành, quan sát, phỏng vấn… Công cụ xử lý số liệu: Xử lý số liệu dựa trên phần mềm thống kê SPSS phiên bản 22.0 Phương pháp phân tích: Nghiên cứu định tính: dựa trên nền tảng các nghiên cứu trước, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản để tổng kết, so sánh các quan điểm, cách phân loại và mô hình đo lường VXH trong các nghiên cứu vi mô trên thế giới để khám phá cấu trúc mạng lưới và xác định thang đo tối ưu. 4 Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành thông qua phiếu khảo sát nhằm thu thập thông tin cho các thang đo, từ đó sử dụng các công cụ phân tích thống kê, kinh tế lượng để xác nhận thang đo tối ưu và đảm bảo tính nhất quán trong cách hiểu mạng lưới vì các nghiên cứu trước đây thường bỏ qua các tổ chức/mạng lưới truyền thống, một đặc điểm khá phổ biến ở các nước đang phát triển (Narayan & Cassidy, 2001). Dự kiến đóng góp của luận văn Về phương diện lý luận: Luận văn đã nêu ra các vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm VXH cũng như cách tiếp cận đo lường thực nghiệm VXH hiện nay trên thế giới. Về phương diện thực tiễn: Luận văn đã đóng góp một cái nhìn cụ thể hơn về việc xây dựng bộ tiêu chí phù hợp trong đánh giá VXH ở Việt Nam thông qua phân tích và đánh giá thực trạng VXH hiện nay ở Việt Nam.
Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH Chương 2: Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam Chương 3: Khuyến nghị xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG HỆ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỐN XÃ HỘI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Về khái niệm, nội hàm của VXH VXH là thuật ngữ được các nhà nghiên cứu đề cập tới với những luồng quan điểm rất khác nhau, thậm chí trái chiều nhau. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích và đưa ra một cách nhìn chính xác về cụm từ này là một nội dung quan trọng của luận văn. Trên thế giới, thuật ngữ “VXH” lần đầu tiên được đề cập vào năm 1916 bởi một nhà giáo dục người Mỹ, tên là Lyda Judson Hanifan. Theo Hanifan (1916), từ “VXH” không có nghĩa thông thường là vốn như bất động sản, tài sản cá nhân hay tiền mặt.
VXH ám chỉ thiện chí, tình thân hữu, sự thông cảm và tương tác xã hội giữa các cá nhân và gia đình. Mặc dù không nói rõ nhưng Hanifan (1916) đã hàm ý rằng VXH được “tích lũy” khi cá nhân “đầu tư” vào mối liên hệ nhằm “sử dụng” trong tương lai. Đây cũng là đặc điểm của “vốn”mà các nhà lý thuyết về “tư bản” đều thống nhất, đó là: i) có thể tích lũy ii) có thể sử dụng để tạo ra của cải trong tương lai. Tuy nhiên, phải đến những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau bắt đầu quan tâm đến và họ đã đưa rất nhiều những quan niệm khác nhau tùy theo từng góc độ tiếp cận.
Bourdieu (1986) cũng đồng quan điểm với Hanifan (1916) khi cho rằng VXH có được từ việc sở hữu mạng lưới bền vững các mối quan hệ quen biết, được thể chế hóa. Bourdieu (1986) cũng mở rộng khái niệm VXH của Hanifan (1916) khi cho rằng tất cả các mạng lưới quen biết góp phần tạo ra VXH. Tuy nhiên, mạng lưới quen biết thông qua liên hệ, tiếp xúc với xóm giềng hay tham gia hội nhóm của những người có cùng mối quan tâm sẽ giúp tích lũy VXH theo định nghĩa của Hanifan (1916) và Bourdieu (1986) thì chưa đủ. Coleman (1988) đã bổ sung rằng VXH là khả năng con người làm việc tự nguyện với nhau mà tiền đề cho hành động này là chuẩn mực xã hội.
Chuẩn mực được hiểu là các quan điểm hướng đến hành 6 vi được hầu hết các cá nhân/nhóm trong xã hội chia sẻ, được củng cố bởi biện pháp chế tài. Chuẩn mực này có thể là những triết lý, giáo lý tôn giáo hay các tiêu chuẩn nghề nghiệp, quy tắc hành xử (Fukuyama, 1995). Tât cả các đặc điểm này đều dựa trên nền tảng là lòng tin. Lòng tin được hình thành và lan truyền thông qua các đối tượng văn hóa, tôn giáo, truyền thống hay thói quen.
Fukuyama (2000) đưa ra định nghĩa về VXH nhưng nhấn mạnh vào yếu tố chuẩn mực xã hội. Tuy nhiên, điểm hạn chế trong quan điểm này chính là nó chỉ giới hạn vào các chuẩn mực phi chính thức. Các nghiên cứu về VXH ở Việt Nam: Trần Hữu Dũng (2003) với bài viết “VXH và kinh tế”. Trần Hữu Dũng đã lược duyệt và đánh giá một số quan niệm khác nhau về VXH của Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando de Soto.
Ông cho rằng cần phải làm rõ hơn đặc điểm của VXH trong mối quan hệ với các loại vốn khác.