Đặt vấn đề: Số lượng và tỷ trọng người cao tuổi (NCT) có xu hướng gia tăng trong một vài năm gần đây. Nguyên nhân do tuổi thọ trung bình tăng nhanh và tỷ suất sinh, tỷ suất chết giảm. Trong bối cảnh trên, việc quan tâm đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của NCT là một việc làm có ý nghĩa, nhằm giúp NCT sống khỏe mạnh và sống lâu hơn, đóng góp nhiều hơn cho gia đình và xã hội. Xuất phát từ lý do trên nghiên cứu “Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của NCT xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội năm 2012” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của NCT xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội năm 2012, để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu bao gồm 2 mục tiêu cụ thể: 7) Đánh giá thực trạng CLCS của NCT xã Yên Sở Hoài Đức_ Hà Nội năm 2012 và 2) Xác định một số yếu tô liên quan đến CLCS của NCT tại xã Yên Sở Hoài Đức Hà Nội năm 2012. Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu là cắt ngang phân tích, kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng. Đối tượng nghiên cứu là 149 người trên 60 tuổi hiện đang sinh sống tại xã Yên Sở và được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách NCT của xã. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2011 đến tháng 6/2012.
CLCS NCT được đánh giá thông qua bộ công cụ đo lường CLCS NCT tại Việt Nam do nhóm nghiên cứu của trường Đại học y tế công cộng phát triển. Kết quả nghiên cứu: Kết quả cho thấy tuổi trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 72 tuôi, trong đó tỷ lệ NCT là nữ giới nhiều hơn nam giới. Tỷ lệ NCT được hưởng hưu trí tương đối cao (23%) so với khu vực nông thôn nói chung. CLCS của NCT Yên Sở ở mức trung bình khá với 6.
Điểm trung bình ở khía cạnh tỉnh thần/ mối quan hệ/ hỗ trợ trong sinh hoạt cao nhất (7.4 diém), diém thấp nhất là về kinh tế (5. Có mối liên quan về CLCS của NCT theo giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp và tình trạng sức khỏe với p<0. Nhóm NCT là nam giới, có vợ/ chồng, trình độ học vẫn cao và có tình trạng sức khỏe tốt có CLCS cao hơn so với nhóm nữ giới, góa/chưa từng kết hôn, trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém. 1 DAT VAN DE Số lượng và tỷ trọng người cao tuổi từ 60 trở lên trên thế giới liên tục tăng trong vai thập kỷ qua[11, 13, 14, 17].
Ở khu vực châu Á, Nhật Bản được coi là ví dụ điển hình của tình trạng lão hóa dân số với tỷ lệ người từ 60 tuôi trở lên là 30,5% và tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm 20,6%[2]. Ở các nước đang phát triển dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Theo dự báo số NCT ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới. Tỷ lệ NCT sẽ tăng từ 8% lên 19% vào năm 2025 và trong số đó có hơn một nửa dân số tuổi 80” sống ở những nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng lên 71% vào năm 205034] Tại VN, theo đánh giá của Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Việt Nam đang già hóa với một tốc độ chưa từng có trong lịch sử do tuôi thọ bình quân ngày càng tăng lên trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm[ 1].
Thời gian dé Việt Nam chuyên đổi từ cơ cầu dân số “già hóa” sang cơ cấu dân số “già” sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia có trình độ phát triển cao hơn. Thụy Điển phải mất tới 85 năm, Nhật Bản 26 năm, Thái Lan là 22 năm để chuyển từ “già hóa” sang “già” thì dự báo ở Việt Nam, thời gian này là khoảng 20 năm[34]. Trên thế giới CLCS được đề cập khá nhiều trong các nghiên cứu về NCT. Tuy nhiên do CLCS là một khái niệm mang tính chất chủ quan đa chiều cạnh và có sự khác biệt giữa các nền văn hóa, kinh tế xã hội khác nhau.
Do đó không thể có một tiêu chuẩn chung để đánh giá CLCS của NCT. Tùy thuộc từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, nền văn hóa kinh tế xã hội khác nhau mà có những tiêu chí đánh giá về CLCS khác nhau. Tại Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu đề cập đến CLCS NCT như nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc trường Đại học Y Hà Nội (201 1) đã sử dụng bộ công cụ của Châu Âu đề đánh giá CLCS NCT tại vùng nông thôn Việt Nam[22]. Tuy nhiên Việt Nam là một nước có các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác với các nước phát triển khác, đo đó các nghiên cứu về CLCS NCT ở Việt Nam cần sử dụng bộ công cụ phù hợp với NCT tại Việt Nam.
Năm 2009, nhóm nghiên cứu của trường Đại 2 học Y tế công cộng đã nghiên cứu và đưa ra bộ công cụ đo lường CLCS NCT tại Việt Nam. Bộ công cụ đã được đánh giá về độ tin cậy và tính giá trị trước khi tiến hành thử nghiệm tại một số xã tại Hải Dương [7]. Tỷ lệ NCT trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội trong những năm gần đây có xu hướng tăng và cao hơn so với cả nước. Từ năm 2009-2012 đã tăng từ 9.
Xã Yên Sở, Hoài Đức là một vùng nông thôn nằm ở phía thượng nguồn sông Tả Đáy. Trong một vài năm gần đây tỷ lệ NCT tại xã có xu hướng tăng cao, năm 2012 tỷ lệ NCT là 13. Mặc dù xu hướng NCT tăng cao nhưng chưa có các nghiên cứu về vấn đề CLCS NCT trên địa bàn. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống và một số yếu tô liên quan của người cao tuổi tại xã Yên Sở - huyện Hoài Đức- Hà Nội năm 2012” được thực hiện với mong muốn có được những thông tin ban đầu về CLCS NCT cho chính quyền địa phương trong việc lập kế hoạch và gợi ý những chương trình nâng cao CLCS cho NCT.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại xã Yên, Hoài Đức, Hà Nội, năm 2012. Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội, năm 2012. 4 CHUONG I: TONG QUAN 1.
Người cao tuổi 1. Khái niệm người cao tuổi Trên thế giới, định nghĩa về NCT chưa có tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia. Ở hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là NCT. Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì mốc tuổi này không phù hợp.
Theo tổ chức Y tế thế giới thì NCT là những người có độ tuổi từ 65 tuổi trở lên, tuy nhiên Liên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [35], định nghĩa này cũng được nêu ra trong pháp lệnh NCT tại Việt Nam (2000). Pháp lệnh đã qui định những người từ 60 tuổi trở lên (không phân biệt giới tinh) được gọi là NCT [19]. Nước ta sử dụng từ “người cao tuổi” thay cho từ “người già” điều đó mang ý nghĩa tích cực, thé hiện sự tôn trọng NCT. Xu hướng già hóa trên thế giới Theo dự báo của Liên Hiệp Quốc, già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, và dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI.
Theo dự báo các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỉ lệ NCT tăng cao nhất và nhanh nhất, số NCT ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới [33]. Xu hướng tỷ lệ NCT sẽ tăng nhanh, trong khi tỷ lệ trẻ em giảm, theo dự báo tỷ lệ NCT sẽ tăng từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống 22%. Hơn một nửa dân số tuổi 80” sống ở những nước đang phát triển, và theo dự báo sẽ tăng lên 71% vào năm 205034]. Tốc độ già hóa tại các nước đang phát triển ngày càng nhanh hơn tại các nước phát triển ví dụ Pháp mất khoảng 75 năm còn ở Singapore chỉ mất 19 năm.
Tuổi trung vị của thế giới dự báo từ năm 2005-2050 sé tang tir 28 lên 3§ tuổi. Đặc biệt là nhóm dân số già nhất (80°) sé tăng nhanh trong những năm tới. Theo dự báo của Liên Hợp Quốc đến năm 2050, dân số trong nhóm 60” tăng gấp ba lần và nhóm dân số 80” sẽ tăng xấp xỉ 5 lần [34] 5 Trong số NCT thì phụ nữ cao tuổi nhiều hơn nam giới cao tuổi. Tuổi càng tăng, sự khác biệt này càng lớn, do phụ nữ có tuổi thọ trung bình cao hơn nam giới[1 I].
Hiện trạng của phụ nữ già ở khắp nơi trên thế giới đòi hỏi sự ưu tiên trong các hành động chính sách. Các chính sách liên quan đến NCT cần phải chú trọng đến sự bình đẳng, phát triển một cách đầy đủ nhằm giải quyết van dé. Điều quan trọng là đưa sự khác nhau về giới vào tất cả các chính sách, chương trình và luật pháp. Có sự khác biệt lớn về phân bố dân số giữa các nước phát triển và đang phát triển.
Trong khi phần lớn NCT ở các nước phát triển sống ở thành thị, thì phần lớn NCT ở các nước đang phát triển sống tại khu vực nông thôn. Theo dự báo, đến năm 2025, 82% dân số ở các nước phát triển sẽ sống ở thành thị, trong khi đó ở các nước đang phát triển tỷ lệ này chưa đến 50%.[34] Có sự khác nhau đáng kể giữa các nước phat trién và đang phát triển về kiểu hộ gia đình mà NCT sinh sống. Ở các nước đang phát triển phần lớn NCT sống trong gia đình có nhiều thế hệ. Sự khác biệt này cho thấy rằng các hoạt động chính sách đối với NCT sẽ không giống nhau giữa các nước đã và đang phát triển [34].
Các chính sách cần phù hợp với tình hình thực tế của NCT tại các khu vực khác nhau. Xu hướng già hóa tại Việt Nam Việt Nam là một nước đang phát triển và không nằm ngoài xu thế chung của thế giới. Già hoá dân số sẽ là một thách thức lớn mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong thời gian tới.