Phần mở đầu Tuyến tiền liệt chỉ có ở nam giới, nó nằm xung quanh phần đáy (cổ) bàng quang, sau xương mu và trước trực tràng. Tuyến tiền liệt được cấu tạo bởi các cơ trơn và mô đàn hồi cùng với các ống dẫn và tuyến tinh. Tuyến tiền liệt được bao bọc bởi một màng mỏng gọi là nang. Khi nam giới mới chào đời, tuyến tiền liệt có kích khá nhỏ và nó tiếp tục lớn lên cho đến 20 tuổi, khi đó tuyến tiền liệt đã đạt kích thước trưởng thành bình thường.
Tuyến tiền liệt không lớn thêm nữa cho đến giai đoạn khoảng 45 tuổi thì nó lại bắt đầu lớn lên [1].1: Phân bố thể tích tuyến tiền liệt theo lứa tuổi (ml) [12]. Trung bình Trung Châu Á Trung Ấn Tuổi Châu Âu Nhật Malaysia bình Châu khi không Quốc Độ Á tính Nhật Bản 23,5 16,8 25,5 22,3 18,7 20,8 22,2 40-49 (20,4- (14,5- (18,0- (18,0- (17,0- Min: 14,5 Min: 17,0 29,0) 18,5) 28,9) 29,1) 20,9) Max: 29,1 Max: 29,1 30,7 17,4 24,0 25,5 26,0 23,2 25,2 50-59 (23,0- (15,4- (19,0- (20,7- (20,4- Min: 15,4 Min: 19,0 37,1) 22,2) 30,9) 33,4) 31,3) Max: 33,4 Max: 33,4 34,6 18,5 28,5 28,5 26,0 25,4 27,7 60-69 (28,0- (15,7- (21,5- (21,0- (21,1- Min: 15,7 Min: 21,0 43,7) 21,2) 40,0) 36,7) 34,6) Max: 40,0 Max: 40,0 70-79 35,4 19,1 29,1 35,0 25,3 27,1 29,8 1 (29,6- (15,8- (24,0- (22,0- (21,6- Min: 15,8 Min: 21,6 51,4) 25,1) 36,3) 39,5) 31,0) Max: 39,5 Max: 39,5 Tổng số người 471 286 526 378 150 khảo sát Theo Bảng 1.1 cho thấy thể tích tuyến tiền liệt trung bình của nhóm người châu Á so với nhóm người châu Âu có sự khác biệt. Hiện nay, các công bố liên quan đến khảo sát thể tích tuyến tiền liệt ở Việt Nam còn hạn chế, nên trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng thể tích trung bình của nhóm người châu Á như ở Bảng 1.1 làm tiêu chí đánh giá.1 Các rối loạn của tuyến tiền liệt Có 3 rối loạn có thể ảnh hưởng đến tuyến tiền liệt, chúng có thể xảy ra ở những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của nam giới [2], [3], [13]. - Viêm tuyến tiền liệt: Với tình trạng viêm này, tuyến tiền liệt phồng lên hoặc trở nên nhạy cảm.
Viêm tuyến tiền liệt thường xảy ra nhất ở độ tuổi từ 25 đến 45. - Phì đại tuyến tiền liệt lành tính: Khoảng chừng 45 tuổi, mô bên trong của tuyến tiền liệt thường bắt đầu lớn lên. Sự lớn lên này được gọi là phì đại tuyến tiền liệt lành tính (benign prostatic hyperplasia – BPH). Sự phì đại thường xảy ra ở phần giữa tuyến, làm cho mô tuyến tiền liệt chèn ép niệu đạo và gây nên các vấn đề tiểu tiện.
Nhiều người trải qua các triệu chứng này ở độ tuổi muộn hơn từ 55 - 60 tuổi. - Ung thư tuyến tiền liệt: phổ biến nhất ở độ tuổi ngoài 50. Ung thư tuyến tiền liệt tỷ lệ thuận với tuổi tác. Ung thư tuyến tiền liệt là kết quả của sự lớn lên bất thường và không kiểm soát được của các tế bào mô.
Với ung thư tuyến tiền liệt các khối u thường phát triển ở phần bên ngoài của tuyến tiền liệt. Có một số triệu chứng chung thường gặp, như: Tiểu nhiều lần trong ngày hoặc đêm; Tia nước tiểu yếu và thường ngắt quãng; Khởi động tiểu chậm, khó khăn; Luôn luôn có cảm giác không tiểu hết nước tiểu ở bàng quang; Són nước tiểu sau mỗi lần đi tiểu. Điểm trùng hợp giữa phì đại tuyến tiền liệt lành tính và ung thư là cả hai loại bệnh đều có tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và đều liên quan đến sự rối loạn nội tiết (hormon). 2 Điểm khác biệt giữa hai dạng bệnh trên là các triệu chứng ung thư thường xuất hiện muộn hơn rất nhiều so với phì đại tuyến tiền liệt lành tính.
Do xuất phát điểm của ung thư là từ vùng ngoại vi của tuyến tiền liệt sát với lớp vỏ của nó (chiếm 80%), chỉ có 15% số trường hợp xảy ra ở vùng chuyển tiếp và 5% bắt nguồn từ trung tâm. Khác với phì đại tuyến tiền liệt lành tính phát triển ở vùng trung tâm của tuyến và là nơi tiếp giáp với gốc niệu đạo. Vì vậy, khi tuyến tiền liệt bị phì đại thì sớm bị chèn ép, gây rối loạn đường tiểu. Ngược lại, đối với ung thư tuyến tiền liệt, do ở xa trung tâm nên phải phát triển đến mức độ nhất định nào đó mới gây ra các rối loạn cơ năng mô tả ở trên.2 Chẩn đoán phân biệt giữa phì đại lành tính và ung thư tuyến tiền liệt Siêu âm: Khi thực hiện siêu âm, trên hình ảnh thu được sẽ cho biết vị trí, kích thước của tuyến tiền liệt, hình thái bất thường, nhưng không đưa ra được kết quả chẩn đoán xác định.
Vì vậy cần phải kiểm tra sâu hơn bằng hai kỹ thuật: xét nghiệm định lượng PSA và thăm khám trạng thái của tuyến tiền liệt qua ngón tay đưa qua trực tràng hoặc các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Xét nghiệm PSA (Prostate specific antigen): Đây là kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt, nó được sản xuất tự nhiên trong tuyến tiền liệt giúp hoá lỏng tinh dịch, có một lượng nhỏ kháng nguyên này trong máu và lưu thông mạch máu. Giá trị bình thường của PSA huyết thanh là (0 – 4 ng/ml). Do nồng độ PSA có khuynh hướng tăng theo tuổi nên một số chuyên gia tiết niệu còn áp dụng bổ sung thang điều chỉnh theo tuổi, nhằm xác định cụ thể và chính xác hơn kết quả khi thực hiện xét nghiệm.
Hàm lượng PSA trung bình là 4 ng/ml hoặc ít hơn là tốt, được coi là không có bệnh ở tuyến tiền liệt. Các bác sĩ thường chỉ quyết định làm sinh thiết tuyến tiền liệt cho những bệnh nhân có lượng PSA > 10 ng/ml. Nhưng việc quyết định làm sinh thiết hay không cho bệnh nhân có hàm lượng PSA giới hạn (giữa 4 – 10 ng/ml) sẽ gặp khó khăn. Không sinh thiết có thể bỏ sót ung thư, nhưng nếu sinh thiết đối với những bệnh nhân có lượng PSA giới hạn như trên thì có thể gặp đến 75% trường hợp không phải do ung thư.
PSA do tuyến tiền liệt sản xuất ra di chuyển trong máu dưới hai dạng: PSA được gắn kết với các protein máu (phần lớn) được gọi là PSA phụ thuộc và PSA không gắn kết với protein gọi là PSA tự do. Qua nghiên cứu cho thấy ung thư tuyến tiền liệt có khả năng tạo PSA gắn kết với protein 3 nhiều hơn, trong khi phì đại tuyến tiền liệt lại tạo PSA tự do nhiều hơn. Nếu tỷ lệ PSA tự do trên PSA toàn phần nhỏ hơn 15% thì có nhiều nguy cơ bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt; nếu tỷ lệ này từ 15% đến 20%: nên làm sinh thiết, qua kinh nghiệm thấy có đến 95% trong số này được xác định là ung thư.2: Chỉ số PSA trung bình khảo sát theo độ tuổi (ng/ml) [13] Tuổi Da trắng Da đen La tinh Châu Á 40 - 49 0,0 - 2,4 0,0 - 2,4 0,0 - 2,1 0,0 - 2,0 50 - 59 0,0 - 3,6 0,0 - 4,2 0,0 - 4,3 0,0 - 4,5 60 - 69 0,0 - 4,5 0,0 - 5,5 0,0 - 6,0 0,0 - 5,5 70 - 79 0,0 - 5,2 0,0 - 6,6 0,0 - 6,6 0,0 - 6,8 Thăm khám khối lượng và mật độ tuyến tiền liệt bằng ngón tay đưa qua trực tràng (DRE – Digital Rectal Exam): Kỹ thuật DRE giúp người khám định hướng về bệnh của tuyến tiền liệt. Việc thực hiện kỹ thuật DRE phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người thực hiện kỹ thuật kiểm tra này.
Chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) hoặc cộng hưởng từ hạt nhân (MRI): Hai loại kỹ thuật này được sử dụng để tầm soát sự phát triển, di căn của ung thư tuyến tiền liệt. Sinh thiết: Sinh thiết là kỹ thuật trích lấy các mẫu mô từ các điểm khả nghi có bệnh. Các mẫu bệnh phẩm này sẽ được xem xét về mặt tổ chức tế bào học dưới kính hiển vi và do các bác sĩ chuyên khoa giải phẫu bệnh lý tiến hành. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh ung thư tuyến tiền liệt.3 Tổng quát về phì đại tuyến tiền liệt lành tính Phì đại tuyến tiền liệt lành tính là sự gia tăng về kích thước của tuyến tiền liệt.
Bệnh xuất hiện bắt đầu từ (45 - 50) tuổi và phát triển theo lứa tuổi, nó tác động đến một nửa nam giới ở tuổi (60 - 70) và gần 80% ở tuổi ngoài 80, phì đại tuyến tiền liệt lành tính là một trong những vấn đề gây ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Cụ thể hơn, khi tuyến tiền liệt bị phì đại lành tính, sẽ có hai triệu chứng xảy ra. 4 - Triệu chứng tắc nghẽn: Dòng nước tiểu yếu, chiếm 91% trên tổng số bệnh nhân; Khởi động tiểu khó khăn, chiếm 67%; Cảm giác còn nước tiểu ngay sau khi vừa tiểu xong, chiếm 60%; Són tiểu, chiếm 56%. - Triệu chứng kích thích: Hay tiểu đêm, chiếm 90%; Tiểu nhiều trong ngày, chiếm 83%; Nước tiểu vẫn nhỏ giọt sau khi vừa tiểu xong.
Đến nay, nguyên nhân gây bệnh phì đại tuyến tiền liệt chưa xác định. Có nhiều giả thiết đã được đưa ra như nội tiết tố androgen (testosterone và hormone liên quan) [1]. Song có hai yếu tố không thể thiếu của tăng sinh tuyến tiền liệt là sự tồn tại của tinh hoàn và tuổi cao. Có rất nhiều học thuyết về nguyên nhân gây tăng sinh tuyến tiền liệt như học thuyết sinh vật mới, học thuyết xơ cứng động mạch, học thuyết viêm, học thuyết nội tiết và các nhân tố thể hình, chủng tộc, nhân tố xã hội, nhân tố chuyển hóa dinh dưỡng, nhưng phần lớn vẫn chưa được thừa nhận rộng rãi [1], [14].
Hiện nay, hầu hết học giả đều thừa nhận quan điểm của học thuyết nội tiết. Người bị cắt bỏ tinh hoàn trước thời kỳ thanh xuân sẽ không bị tăng sinh tuyến tiền liệt. Người bị tăng sinh tuyến tiền liệt sau khi cắt bỏ tinh hoàn có thể giảm tăng sinh tuyến tiền liệt. Khi trắc định tinh hoàn cho bệnh nhân bị tăng sinh tuyến tiền liệt thường thấy dihydrotestosterone (hormone nam) tích tụ dị thường.
Có thể dùng nội tiết để tạo ra mô hình tăng sinh tuyến tiền liệt của động vật. Những người theo quan điểm của học thuyết nội tiết cho rằng chức năng nội tiết của tuyến tiền liệt là một bộ phận của các hệ thống nội tiết hoặc là bộ máy hiệu ứng nội tiết. Để duy trì trạng thái sinh lý và phát dục của tuyến tiền liệt phải có đủ hormone nam và hormone nữ. Vì vậy, có người cho rằng ở giai đoạn tuổi già, khi mất cân bằng giữa hormone nam và hormone nữ trong tuyến có thể là nguyên nhân gây bệnh tăng sinh tuyến tiền liệt.