Chương 1 “Tổng quan”: Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến dé tài đã có của các tác giả trong nước và ngoài nước. Từ đó, nêu lên ý nghĩa của đề tài. Chương 2 “Cơ sở lý thuyết”: Trình bày các cơ sở lý thuyết dùng trong luận văn. Chương 3 “Xây dựng phương pháp điều trị phục hồi trí nhớ bằng laser bán dẫn công suất thấp ở người sau tai biến mạch máu nào đã được điều trị phục hôồi”: trong chương này tôi trình bày lý do lựa chọn việc sử dụng laser bán dẫn công suất thấp nội tĩnh mach và quang trị liệu hai bước sóng đồng thời trong điều trị giảm trí nhớ ở người sau tai biến mạch máu não đã điều trị phục hồi.
Chương 4 “Kết qua nghiên cứu điều trị lâm sàng”: chương này phân tích các kết quả thu được và đánh giá kết quả trên lâm sảng, qua đó nêu các ưu khuyết điểm của phương pháp áp dụng. Chương 5 “Kết luận” nêu những đóng góp của luận văn trong công tác nghiên cứu. Tinh hình nghiên cứu ngoài nước Chứng giảm trí nhớ là một thuật ngữ được dé mô tả một loạt các các triệu chứng như suy giảm khả năng hoạt động tinh thần, suy giảm trí nhớ gần hay xa, khó hiểu ngôn ngữ, lẫn lộn và mat phương hướng, chứng mat trí dẫn đến sự suy giảm các kỹ năng cần thiết dé thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày [1]. Các triệu chứng của giảm trí nhớ cũng ảnh hưởng đến hành vi và tâm trạng [2].
Khi bệnh tiến triển, mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng của các triệu chứng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người mac bệnh mất trí nhớ và người chăm sóc của họ [3]. Khi bệnh tiến triển, sự gia tăng liên quan đến tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sông của người mac chứng mat trí và người chăm sóc của họ. Trong khi bệnh mat trí nhớ chủ yếu ảnh hưởng đến người lớn tuổi, thì ngày càng có nhiều nhận thức về các trường hợp bat đầu trước 65 tuổi. Sau 65 năm, tỷ lệ mắc chứng mất trí tăng gấp đôi so với mỗi năm trong độ tudi.
Ước tính hiện tại cho thay có 35,6 triệu người sống chung với chứng mất trí trên toàn thế giới, và dự đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 và gấp ba lần vào năm 2050. Gan hai phan ba dân số suy giảm trí nhớ ở các nước có thu nhập trung bình và thấp và xu hướng này là dự kiến sẽ tăng lên. Chi phi chăm sóc không chính thức cấu thành phân lớn chi phí ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, trong khi chi phí trực tiếp của chăm sóc xã hội có vai trò lớn hơn nhiều ở các nước có thu nhập cao do chi phí chăm sóc tại gia va chăm sóc tại nhà lau dài ở các nước này [5]. Với mức độ nghiêm trọng cua tác động của chứng mất trí trên tất cả các bệnh nhân sau TBMMN và tỷ lệ ngày càng gia tăng và gánh nặng chi phí, Tổ chức Y tế Thế giới 2012 [3] đã tuyên bố mất trí nhớ là ưu tiên sức khỏe quốc gia và thé giới.
Có sự quan tâm toan cau trong nghiên cứu ve cách ngăn ngừa hoặc trì hoãn sự khởi dau của chứng mat tri. Bệnh Alzheimer lần đầu tiên được mô tả bởi Tién sĩ Alois Alzheimer, một bác sĩ tâm thần và nhà thần kinh học người Đức, năm 1906. Hiện nay nó được coi là nguyên nhân pho biến nhất gây mat trí nhớ, chiếm 60% đến 80% trong tất cả các trường hợp. Chứng mất trí do Bệnh Alzheimer ảnh hưởng đến khoảng 15 triệu người trên toan thé giới [3].Nó có ty lệ khoảng 1% trong số 60 đến 64 tuổi, tăng lên 40% ở những người từ 85 tuổi trở lên [6].
Bệnh Alzheimer là một rối loạn thoái hóa thần kinh. Nó được đặc trưng bởi bệnh lý bởi các mang than kinh và rối loan thần kinh, và lâm sang do sự suy giảm dan dan, suy giảm hoạt động sinh hoạt hàng ngày [7]. Tuy nhiên, hơn 25 năm trước, giả thuyết đã được đặt ra trước tiên rằng các quá trình tích lũy bệnh là một phần không thể tách rời của quá trình phát triển của con người [8] [9] [10]. Mac dù chứng mat trí do Bệnh Alzheimer thường xảy ra trong cuộc sống sau này, có một giai đoạn tiền lâm sàng mở rộng được đặc trưng bởi những thay đổi thần kinh tiễn triển.
Các yếu tố nguy cơ đối với Bệnh Alzheimer là nhiều nhưng hai yếu tố nguy cơ lớn nhất là tuổi gia và di truyền, đặc biệt là chất mang alen APOE e4 của gen apoplipoprotein E. Các yếu tô nguy cơ khác bao gồm tiền sử suy giảm nhận thức nhẹ, giới tính nữ, bệnh tim mạch, béo phi, đái tháo đường và tình trạng kinh tế xã hội thấp, lượng tử thấp đến và đạt trình độ học vẫn thấp [11] [12]. Giảm trí nhớ do mach máu. Đây là (a) một chứng rối loạn nhận thức hiển nhiên trên xét nghiệm thần kinh logic, và (b) tiền sử đột quy lâm sàng hoặc bệnh não thoái hóa não được phát hiện bởi thần kinh liên quan đến rối loạn nhận thức.
Giảm trí nhớ do mạch máu có thể được phân loại thành: thứ nhất chứng mất trí, thứ hai mất trí nhớ chiến lược, thứ ba xuất huyết mat máu, thứ tư thiếu máu cục bộ thiếu máu cục bộ mạch máu, và thứ năm là các dạng khác của giảm trí nhớ do mạch máu. Ba loại đầu tiên của giảm trí nhớ do mạch máu có thé xuất hiện với những cơn kịch phát khởi phát đột ngột hoặc đột ngột do các biến cô cấp tinh não. Các triệu chứng đặc hiệu của họ phụ thuộc vào các vùng vỏ não hoặc vùng dưới vỏ não bị ảnh hưởng. Ngược lại, thiếu máu cục bộ thiếu máu cục bộ mạch máu có liên quan với sự khởi đầu ngầm ngâm và suy giảm nhận thức dân dân, băt chước quá trình bệnh Alzheimer [13].
Nguyên nhân gây ra bởi huyết khối gây tắc mạch máu nhỏ, dẫn đến thiếu máu cục bộ và nhiều dấu vết trong cau trúc dưới vỏ não Cuối cùng, các hình thức khác của giảm trí nhớ liên quan mạch máu có nguyên nhân không đồng nhất đối với viêm mạch mang phối, bệnh mạch vành amyloid não, và các bệnh di truyền như bệnh động mach chủ chi phối não với nhồi máu dưới vỏ não và bệnh não [14]. Các yếu tô cho giảm trí nhớ liên quan mach máu cũng đa yếu tô và bao gồm người lớn tudi, giới tính nam giới, tiền sử bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường, béo phì và hút thuốc, cao huyết áp [15]. Mat trí nhớ thé hon hợp ngày càng trở nên rõ ràng rang các bệnh lý hỗn hợp của các loại bệnh mất trí nhớ tôn tại, đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuôi. Kết quả sau 1050 người bị mat trí nhớ cho thấy 86% đã phát hiện bệnh lý liên quan đến bệnh Alzheimer nhưng chỉ 42,8% có biểu hiện 'thuần' bệnh Alzheimer, với tôn thương mạch máu não bé sung 22,6% và bệnh ly cơ thé Lewy 10,8% [16].
Các liệu pháp dùng thuốc với phác đồ phức tạp và bệnh nhân phải kiên trì. Tuy nhiên trên những bệnh nhân có tiền sử TBMMN thì phác đồ điều trị càng khó khăn hơn. Năm 2010 Huang, Ying-Ying và cộng sự tiễn hành nghiên cứu sử dụng laser công suất thấp xuyên sọ đề điều trị tốn thương não, nghiên cứu cho thấy chỉ có hai bước sóng 660 and 810 nm là có hiệu quả khác biệt sau điều trị (ngày 1, 3 và sau 14 ngày điều trị) [17]. Trong một nghiên cứu năm 2013 [18], tong hợp ứng dụng của laser công suất thấp trong thần kinh và tâm lý của Julio C.
Gonzalez-Lima cho thấy có rất nhiều đề tài đánh giá hiệu quả của laser công suất thấp xuyên sọ trong điều trị các tốn thương mach máu, thần kinh trong hộp so. Các công trình nghiên cứu nảy cho thấy hiệu quả của việc laser công suất thấp xuyên sọ để điều trị tôn thương não. Tuy nhiên, các công trình trên chỉ sử dụng laser quang học, và dùng các bước sóng khác nhau. Đôi với đề tài luận văn này, chúng tôi vừa kêt hợp laser nội tĩnh mạch và quang trị liệu để đánh giá kết quả.
Tình hình nghiên cứu trong nước Một nghiên cứu 2017 của Nguyễn Thị Kim Liên và Hà Thị Bích Ngọc về “Đánh giá tình trạng rỗi loạn nhận thức của của bệnh nhân TBMMN” tại Trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu được tiễn hành trên 60 BN được chan đoán xác định là TBMMN để đánh giá tình trạng nhận thức bằng thang điểm MoCA (Montreal cognitive assessment). Kết quả: tỷ lệ rối loạn nhận thức của BN TBMMN khá cao (75%), chủ yếu là rỗi loạn nhận thức ở mức độ trung bình (40%) và nhẹ (23,3%). Lĩnh vực rối loạn nhận thức thường gặp là rối loạn trí nhớ (95%), roi loạn ngôn ngữ (78,3%), rối loạn kha năng thị giác (68,3%) và rỗi loạn độ tập trung (58,3%).
Điều này cho thấy tỉ lệ Rối loạn trí nhớ hay giảm trí nhớ xảy ra trên đối tượng sau TBMMN là rất cao. [19] Tương tự một nghiên cứu [20] về “tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quy não” trong năm 2013 trên 102 bệnh nhân được chan đoán đột quy não 3 — 12 tháng trước. Kết quả: tỷ lệ sa sút trí tuệ sau đột quy là 35,3%. Không có sự khác biệt về giới tính và tỷ lệ các yếu tố nguy cơ mạch máu giữa nhóm có và không có sa sút trí tuệ sau đột quy.
Sau khi phân tích đa biến, tuổi > 75, học van dưới đại học, đột quy tái phat, teo não lan tỏa và ton thương vùng chiến lược có liên quan độc lập với sa sút trí tuệ sau đột quy. [20] Và trong một nghiên cứu “Một số đặc điểm dịch té học sa sút trí tuệ ở ñØười cao tuổi tại hai quận, huyện Hà Nôi” năm 2010 cho thay ở những đối tượng sa sút tri tuệ tham gia nghiên cứu thi ty lệ người có tiền sử TBMMN chiếm ty lệ 20.8% so với 3,5% đối với người không có tiền sử TBMMN. cần có nhũng phương pháp phòng ngừa giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ trên nhũng bệnh nhân có tiền sử TBMMN càng sớm cảng tốt. Tuy nhiên, ngoài việc phòng các di chứng sau TBMMN thì việc phòng ngừa các nguyên nhân gốc rễ gây TBMMN vẫn là quan trọng hơn hết.
Hiện tại Việt Nam chưa có đề tài nảo thực hiện nghiên cứu về “Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị phục hồi trí nhớ ở người bị tai biến mạch mau não đã được điều trị phục hoi” CHUONG 2. CO SỞ LÝ THUYET 2.