MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các quốc gia phát triển và đang phát triển đã và đang bƣớc vào giai đoạn già hoá dân số. Trên thế giới hiện nay, cứ mỗi giây có hai ngƣời vừa bƣớc vào tuổi 60; trung bình cứ 9 ngƣời trên trái đất thì có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên và t số này sẽ là 5:1 vào năm 2050. Châu Á là khu vực có số lƣợng ngƣời cao tuổi lớn nhất thế giới chiếm 55,2% dân số cao tuổi trên thế giới bởi các quốc gia có siêu quy mô dân số trên thế giới đều tập trung tại châu Á nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nhật Bản.
Theo dự báo dân số của Liên hợp quốc (United Nations, 2017), cho đến năm 2050, thứ hạng này vẫn thuộc về châu Á. Sự lão hoá dân số là kết quả của mức sinh giảm và tuổi thọ tăng. Trong khi già hóa dân số đƣợc coi là thành tựu của quá trình phát triển thì nó cũng là thách thức lớn với các nƣớc đang phát triển, đặc biệt là những nƣớc với đặc điểm nổi bật là “già trƣớc khi giàu” (Goli & Pandey, 2016) trong đó có Việt Nam. Một trong vấn đề trọng tâm của già hoá dân số là lựa chọn mô hình sắp xếp cuộc sống gia đình của ngƣời cao tuổi NCT.
Đây là một lĩnh vực mà đòi hỏi c n có sự quan tâm đ y đủ của xã hội và gia đình (United Nations, 2006). Việc sắp xếp cuộc sống gia đình của NCT – d là ngẫu nhiên mang tính chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn khác hay là sự lựa chọn có chủ đích của NCT – có ảnh hƣởng đến phúc lợi của NCT trong tƣơng lai (Velkoff, 2001). Ở các nƣớc châu Á, một quan niệm đƣợc xã hội thừa nhận là NCT đƣợc con cái chăm sóc khi về già bởi điều này xuất phát từ quan niệm truyền thống về lòng hiếu thảo, đó là con cái có nghĩa vụ trả ơn cho cha m vì những hy sinh của họ khi nuôi dạy con cái. Do đó, ngƣời ta mong đợi rằng nhiều NCT ở các nƣớc châu Á dựa vào gia đình để hỗ trợ và chăm sóc khi về già.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế đã dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu gia đình của nhiều nƣớc châu Á, trong đó có Việt Nam, từ mô hình gia đình mở rộng sang kiểu gia đình hạt nhân. Do đó, kiểu SXCS theo truyền thống của ngƣời châu Á đã và đang có sự thay đổi nhanh chóng. 1 luan an Cũng nhƣ nhiều nƣớc châu Á khác, gia đình là nguồn hỗ trợ chính cho NCT ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn với ph n lớn NCT đang sinh sống. Tuy nhiên, trong hai thập k g n đây, số lƣợng NCT tăng nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ, trong khi đó số lƣợng trẻ em giảm và nền kinh tế-xã hội có những thay đổi nhanh chóng đƣợc xem là các yếu tố tác động sâu sắc đến các hộ gia đình, mạng lƣới liên kết trong gia đình và do đó sẽ thay đổi hoàn cảnh sống của NCT.
Những thay đổi trong cách SXCS này tác động rất lớn đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT cũng nhƣ sự chăm sóc và hỗ trợ NCT. Vì vậy, c n một nghiên cứu toàn diện với bộ dữ liệu đ y đủ để có thể đóng góp thêm sự đa dạng cho những bằng chứng thực nghiệm cũng nhƣ nghiên cứu học thuật. Về mặt thực nghiệm, trong thời gian qua có nhiều nghiên cứu trên thế giới đƣợc thực hiện trên nhiều phạm vi khác nhau để nhằm tìm ra câu trả lời liệu cách SXCS của NCT có thay đổi theo thời gian và có hay không tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT. Ph n lớn các nghiên cứu cho thấy, theo thời gian, cách SXCS của NCT ở các nƣớc đã có sự thay đổi Park, 2001; Sathyanarayana, Kumar và James, 2012; United Nations, 2017 và các nghiên cứu đều đƣa ra bằng chứng thống kê rằng cách SXCS có tác động đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT.
Các nghiên cứu về tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe của NCT đã chỉ ra những lợi ích của việc sống chung, những ngƣời cao tuổi sống chung có sức khỏe tốt hơn so với những ngƣời sống một mình McKinnon, Harper và Moore, 2013; Samanta, Chen và Vanneman, 2015; Paul & Verma, 2016. Tuy nhiên, một số các nghiên cứu khác chứng minh rằng việc sống chung gây ra những bất lợi cho sức khỏe NCT so với sống một mình do những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, do sự phụ thuộc quá mức vào những hỗ trợ từ gia đình và do thiếu sự riêng tƣ ví dụ, Chen và cộng sự, 2015; Mahapatro, Acharya và Singh, 2017). Rõ ràng, với những bằng chứng trái ngƣợc nhau nhƣ thế thì việc nghiên cứu tác động của SXCS đến sức khỏe NCT trong bối cảnh xã hội Việt Nam là hết sức c n thiết để có những chính sách ph hợp. 2 luan an Các nghiên cứu cũng cho thấy thực tế là ph n lớn NCT vẫn tham gia làm việc Hội LHPN Việt Nam, 2012; United Nations, 2019.
Một số bằng chứng cho thấy rằng tham gia làm việc ở NCT có liên quan tích cực đến sức khỏe thể chất, tinh th n và nhận thức của họ WHO 2015. NCT tham gia làm việc sẽ giúp quá trình suy giảm về thể chất và nhận thức chậm hơn so với những ngƣời không làm việc do những kích thích tích cực khi làm việc và lợi ích từ sự tham gia vào xã hội mang lại. Hơn nữa, do hiện đại hóa, NCT giờ đây đƣợc khuyến khích và thậm chí thúc đẩy tìm việc làm trong thị trƣờng lao động để có sự độc lập hơn nếu mạng lƣới an sinh xã hội không đủ đáp ứng. Tuy nhiên, động lực tham gia làm việc ở NCT cũng c n phải đƣợc xem xét trong bối cảnh văn hóa xã hội (Teerawichitchainan, Pothisiri và Long, 2015).
Nghiên cứu của Connelly, Maurer-fazio và Zhang (2014), Tong , Chen và Su (2018) đƣa ra kết luận rằng, NCT sống chung với con có thể ít phải làm việc hơn vì ảnh hƣởng của giá trị truyền thống liên quan đến sự hỗ trợ giữa các thế hệ. Tuy nhiên, một số các nghiên cứu khác cho kết quả ngƣợc lại là NCT sống chung với con lại có xác suất làm việc cao hơn so với những hình thức SXCS khác ví dụ, Croda & Gonzalez, 2005; Paul & Verma, 2016; Raymo và cộng sự, 2018. Nhƣ vậy, bằng chứng về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT trong các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho đến nay vẫn chƣa thống nhất. Sự khác biệt này là do không gian nghiên cứu, giai đoạn nghiên cứu và đặc biệt là điều kiện kinh tế-xã hội và đặc điểm văn hóa, lối sống.
Do đó, nghiên cứu này là thật sự c n thiết để bổ sung thêm một bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh của một nƣớc có mức thu nhập trung bình nhƣng lại có tốc độ già hóa dân số nhanh nhƣ Việt Nam. Việt Nam là một trong những nƣớc có tốc độ già hóa dân số rất cao, đặc biệt là so với các nƣớc có mức thu nhập trung bình. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, t lệ NCT ngƣời từ 60 tuổi trở lên là g n 11,9% tổng dân số tƣơng đƣơng với 11,4 triệu ngƣời. Dự báo dân số giai đoạn 2014-2049 của Tổng cục Thống kê TCTK 2016 cho thấy, t lệ NCT sẽ tăng lên mức 26,1% vào năm 2050 tƣơng đƣơng với 27 triệu ngƣời.
3 luan an Theo truyền thống, đồng cƣ trú là hình thức phổ biến ở Việt Nam nên ngƣời cao tuổi NCT đƣợc chăm sóc bởi các thành viên trong gia đình. Cho tới nay, gia đình vẫn là nguồn an sinh của NCT – là nơi cung cấp và hỗ trợ chính cho NCT cả về mặt vật chất và tinh th n. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội và xu hƣớng di cƣ đã tác động mạnh mẽ đến hộ gia đình theo hƣớng thay đổi từ hộ gia đình truyền thống với nhiều thế hệ sang hộ gia đình hạt nhân, đặc biệt là hộ gia đình chỉ có vợ chồng là NCT sống với nhau. Sự thay đổi đó cũng làm cho vị thế của NCT trong hộ gia đình cũng thay đổi.
Bên cạnh đó, sống một mình là điều ít mong muốn về mặt xã hội nhƣng lại đang trở thành xu hƣớng ngày càng phổ biến ở NCT, đặc biệt là phụ nữ ở độ tuổi rất cao từ 80 trở lên. Những sự biến đổi sắp xếp cuộc sống SXCS hay sắp xếp cƣ trú nhƣ thế vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho việc chăm sóc và phát huy vai trò NCT. C ng lúc đó, ph n lớn NCT Việt Nam sống ở khu vực nông thôn không có lƣơng hƣu và không có thu nhập tích lũy khi về già và nhiều NCT không nhận đƣợc sự hỗ trợ từ hệ thống an sinh xã hội UNFPA 2011; Giang Thanh Long và Phí Mạnh Phong 2016 nên thực tế nhiều NCT vẫn ở lại làm việc lâu hơn để hỗ trợ tài chính cho bản thân và gia đình. Cho nên, với sự thay đổi trong cách SXCS gia đình của NCT theo xu hƣớng sống với con ngày càng giảm sẽ có ảnh hƣởng lớn đến an sinh thu nhập cho NCT, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Nhƣ vậy, trong bối cảnh già hóa dân số, những thay đổi trong SXCS, thị trƣờng lao động thì việc xem xét tác động của SXCS đến sức khỏe, tình trạng làm việc của NCT rất c n thiết. Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả thì cho đến nay, vẫn chƣa có một nghiên cứu nào ở Việt Nam phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe thể chất và tâm th n và tình trạng làm việc của NCT. Do đó, nghiên cứu này là c n thiết để cung cấp những bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm để từ đó mang lại những giá trị học thuật và chính sách. Đây cũng chính là động lực, lý do chính mà NCS lựa chọn đề tài “Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi Việt Nam” để nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án 2. Mục tiêu tổng quát Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý thuyết và đƣa ra các bằng chứng thực nghiệm về tác động của SXCS đến sức khoẻ và tình trạng làm việc của NCT ở Việt Nam.