Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế Phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

153
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Những đóng góp mới của luận án

0.5. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SẮP XẾP CUỘC SỐNG ĐẾN SỨC KHỎE VÀ TÌNH TRẠNG LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

1.1. Những vấn đề chung về người cao tuổi và sắp xếp cuộc sống người cao tuổi

1.2. Một số khái niệm liên quan

1.2.1. Khái niệm “sắp xếp cuộc sống”

1.2.2. Phân loại sắp xếp cuộc sống của NCT

1.3. Lý thuyết về sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi

1.4. Sắp xếp cuộc sống và sức khỏe của người cao tuổi

1.4.1. Khái niệm và đo lường sức khỏe

1.4.2. Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe người cao tuổi

1.5. Sắp xếp cuộc sống và tình trạng làm việc của NCT

1.5.1. Khái niệm và phân loại làm việc của NCT

1.5.2. Tác động của sắp xếp cuộc sống đến tình trạng làm việc ở NCT

2. CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Bối cảnh nghiên cứu

3.2. Khung phân tích và mô hình nghiên cứu tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe của người cao tuổi

3.2.1. Khung phân tích

3.2.2. Mô hình nghiên cứu

3.3. Mô tả và đo lường các biến nghiên cứu

3.4. Khung phân tích và mô hình nghiên cứu tác động của sắp xếp cuộc sống đến tình trạng làm việc của người cao tuổi

3.4.1. Khung phân tích

3.4.2. Mô hình nghiên cứu

3.5. Dữ liệu nghiên cứu

3.6. Phương pháp nghiên cứu

3.6.1. Xử lý số liệu

3.6.2. Phương pháp phân tích

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi ở Việt Nam

4.1.1. Khái quát về dân số cao tuổi ở Việt Nam

4.1.2. Cách thức sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi ở Việt Nam

4.1.3. Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo từng độ tuổi

4.1.4. Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo giới tính

4.1.5. Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi theo khu vực sống

4.2. Kết quả các kiểm định

4.2.1. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

4.2.2. Kiểm định Chow

4.2.3. Kiểm định Hosmes – Lemeschow

4.3. Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe tự đánh giá của NCT

4.3.1. Tình trạng sức khỏe do NCT tự đánh giá

4.3.2. SXCS và các yếu tố tác động tới sức khỏe tự đánh giá ở NCT

4.4. Tác động của sắp xếp cuộc sống tới tình trạng trầm cảm của NCT

4.4.1. Tình trạng trầm cảm của NCT

4.4.2. SXCS và các yếu tố tác động tới tình trạng trầm cảm của NCT

4.5. Tác động của sắp xếp cuộc sống đến tình trạng làm việc của NCT

4.5.1. Tình trạng làm việc của NCT phân theo giới tính và khu vực

4.5.2. SXCS và các yếu tố tác động tới tình trạng làm việc của NCT

5. CHƯƠNG 5: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH

5.1. Các kết quả nghiên cứu chính

5.2. Một số đề xuất chính sách

5.2.1. Chính sách khuyến khích đồng cư trú

5.2.2. Chăm sóc sức khỏe NCT

5.2.3. Chính sách làm việc cho NCT

5.2.4. Chính sách vận động tuyên truyền

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe người cao tuổi

Nghiên cứu chỉ ra rằng sắp xếp cuộc sống có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người cao tuổi tại Việt Nam. Việc lựa chọn mô hình sống, như sống chung với gia đình hay sống độc lập, có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sức khỏe của họ. Theo một số nghiên cứu, những người cao tuổi sống chung thường có sức khỏe tốt hơn do nhận được sự hỗ trợ từ gia đình. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp cho thấy việc sống chung có thể dẫn đến căng thẳng và mâu thuẫn, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần. Do đó, việc hiểu rõ về tác động đến sức khỏe từ sắp xếp cuộc sống là rất cần thiết để xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp.

1.1. Tình trạng sức khỏe của người cao tuổi

Tình trạng sức khỏe của người cao tuổi ở Việt Nam đang gặp nhiều thách thức. Theo thống kê, tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh mãn tính ngày càng gia tăng. Việc sắp xếp cuộc sống không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn đến sức khỏe tâm thần. Những người sống một mình thường có xu hướng cảm thấy cô đơn và trầm cảm, trong khi những người sống chung với gia đình có thể nhận được sự hỗ trợ về mặt tinh thần và vật chất. Điều này cho thấy rằng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi có thể được cải thiện thông qua việc lựa chọn mô hình sống phù hợp.

II. Tác động của sắp xếp cuộc sống đến tình trạng làm việc của người cao tuổi

Nghiên cứu cho thấy sắp xếp cuộc sống cũng có tác động đáng kể đến tình trạng làm việc của người cao tuổi. Những người cao tuổi sống chung với con cái thường có xu hướng ít tham gia vào thị trường lao động hơn, do sự hỗ trợ từ gia đình. Ngược lại, những người sống độc lập có thể phải làm việc nhiều hơn để tự nuôi sống bản thân. Việc tham gia làm việc không chỉ giúp cải thiện sức khỏe thể chất mà còn tạo ra cảm giác có giá trị và kết nối xã hội cho người cao tuổi. Do đó, việc khuyến khích người cao tuổi tham gia vào các hoạt động lao động phù hợp là rất quan trọng.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng làm việc

Tình trạng làm việc của người cao tuổi bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm sắp xếp cuộc sống, sức khỏe, và điều kiện kinh tế. Những người cao tuổi sống trong môi trường hỗ trợ, như sống chung với gia đình, thường có xu hướng ít tham gia vào công việc hơn. Tuy nhiên, những người sống độc lập lại có động lực cao hơn để tìm kiếm việc làm nhằm đảm bảo cuộc sống. Điều này cho thấy rằng tác động xã hộitình trạng sức khỏe có thể ảnh hưởng đến quyết định làm việc của người cao tuổi, từ đó cần có các chính sách hỗ trợ phù hợp để khuyến khích họ tham gia vào thị trường lao động.

III. Đề xuất chính sách nhằm cải thiện sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, cần có những chính sách cụ thể nhằm cải thiện sức khỏetình trạng làm việc của người cao tuổi. Các chính sách này có thể bao gồm việc khuyến khích mô hình sống chung, tạo ra các chương trình hỗ trợ sức khỏe cho người cao tuổi, và phát triển các cơ hội việc làm phù hợp. Việc xây dựng một môi trường sống tích cực và hỗ trợ sẽ giúp người cao tuổi duy trì sức khỏe tốt hơn và tham gia tích cực vào xã hội. Chính sách cũng cần chú trọng đến việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của người cao tuổi trong xã hội.

3.1. Chính sách khuyến khích đồng cư

Chính sách khuyến khích đồng cư có thể giúp người cao tuổi cảm thấy an toàn và được hỗ trợ. Việc sống chung không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn tạo ra một môi trường xã hội tích cực. Các chương trình hỗ trợ tài chính cho những gia đình nhận nuôi dưỡng người cao tuổi cũng cần được xem xét để khuyến khích mô hình sống này. Điều này sẽ giúp người cao tuổi có cơ hội sống trong môi trường gia đình, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Các quốc gia phát triển và đang phát triển đã và đang bƣớc vào giai đoạn già hoá dân số. Trên thế giới hiện nay, cứ mỗi giây có hai ngƣời vừa bƣớc vào tuổi 60; trung bình cứ 9 ngƣời trên trái đất thì có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên và t số này sẽ là 5:1 vào năm 2050. Châu Á là khu vực có số lƣợng ngƣời cao tuổi lớn nhất thế giới chiếm 55,2% dân số cao tuổi trên thế giới bởi các quốc gia có siêu quy mô dân số trên thế giới đều tập trung tại châu Á nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nhật Bản.

Theo dự báo dân số của Liên hợp quốc (United Nations, 2017), cho đến năm 2050, thứ hạng này vẫn thuộc về châu Á. Sự lão hoá dân số là kết quả của mức sinh giảm và tuổi thọ tăng. Trong khi già hóa dân số đƣợc coi là thành tựu của quá trình phát triển thì nó cũng là thách thức lớn với các nƣớc đang phát triển, đặc biệt là những nƣớc với đặc điểm nổi bật là “già trƣớc khi giàu” (Goli & Pandey, 2016) trong đó có Việt Nam. Một trong vấn đề trọng tâm của già hoá dân số là lựa chọn mô hình sắp xếp cuộc sống gia đình của ngƣời cao tuổi NCT.

Đây là một lĩnh vực mà đòi hỏi c n có sự quan tâm đ y đủ của xã hội và gia đình (United Nations, 2006). Việc sắp xếp cuộc sống gia đình của NCT – d là ngẫu nhiên mang tính chuyển tiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn khác hay là sự lựa chọn có chủ đích của NCT – có ảnh hƣởng đến phúc lợi của NCT trong tƣơng lai (Velkoff, 2001). Ở các nƣớc châu Á, một quan niệm đƣợc xã hội thừa nhận là NCT đƣợc con cái chăm sóc khi về già bởi điều này xuất phát từ quan niệm truyền thống về lòng hiếu thảo, đó là con cái có nghĩa vụ trả ơn cho cha m vì những hy sinh của họ khi nuôi dạy con cái. Do đó, ngƣời ta mong đợi rằng nhiều NCT ở các nƣớc châu Á dựa vào gia đình để hỗ trợ và chăm sóc khi về già.

Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế đã dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu gia đình của nhiều nƣớc châu Á, trong đó có Việt Nam, từ mô hình gia đình mở rộng sang kiểu gia đình hạt nhân. Do đó, kiểu SXCS theo truyền thống của ngƣời châu Á đã và đang có sự thay đổi nhanh chóng. 1 luan an Cũng nhƣ nhiều nƣớc châu Á khác, gia đình là nguồn hỗ trợ chính cho NCT ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn với ph n lớn NCT đang sinh sống. Tuy nhiên, trong hai thập k g n đây, số lƣợng NCT tăng nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ, trong khi đó số lƣợng trẻ em giảm và nền kinh tế-xã hội có những thay đổi nhanh chóng đƣợc xem là các yếu tố tác động sâu sắc đến các hộ gia đình, mạng lƣới liên kết trong gia đình và do đó sẽ thay đổi hoàn cảnh sống của NCT.

Những thay đổi trong cách SXCS này tác động rất lớn đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT cũng nhƣ sự chăm sóc và hỗ trợ NCT. Vì vậy, c n một nghiên cứu toàn diện với bộ dữ liệu đ y đủ để có thể đóng góp thêm sự đa dạng cho những bằng chứng thực nghiệm cũng nhƣ nghiên cứu học thuật. Về mặt thực nghiệm, trong thời gian qua có nhiều nghiên cứu trên thế giới đƣợc thực hiện trên nhiều phạm vi khác nhau để nhằm tìm ra câu trả lời liệu cách SXCS của NCT có thay đổi theo thời gian và có hay không tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT. Ph n lớn các nghiên cứu cho thấy, theo thời gian, cách SXCS của NCT ở các nƣớc đã có sự thay đổi Park, 2001; Sathyanarayana, Kumar và James, 2012; United Nations, 2017 và các nghiên cứu đều đƣa ra bằng chứng thống kê rằng cách SXCS có tác động đến sức khỏe và tình trạng làm việc ở NCT.

Các nghiên cứu về tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe của NCT đã chỉ ra những lợi ích của việc sống chung, những ngƣời cao tuổi sống chung có sức khỏe tốt hơn so với những ngƣời sống một mình McKinnon, Harper và Moore, 2013; Samanta, Chen và Vanneman, 2015; Paul & Verma, 2016. Tuy nhiên, một số các nghiên cứu khác chứng minh rằng việc sống chung gây ra những bất lợi cho sức khỏe NCT so với sống một mình do những mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình, do sự phụ thuộc quá mức vào những hỗ trợ từ gia đình và do thiếu sự riêng tƣ ví dụ, Chen và cộng sự, 2015; Mahapatro, Acharya và Singh, 2017). Rõ ràng, với những bằng chứng trái ngƣợc nhau nhƣ thế thì việc nghiên cứu tác động của SXCS đến sức khỏe NCT trong bối cảnh xã hội Việt Nam là hết sức c n thiết để có những chính sách ph hợp. 2 luan an Các nghiên cứu cũng cho thấy thực tế là ph n lớn NCT vẫn tham gia làm việc Hội LHPN Việt Nam, 2012; United Nations, 2019.

Một số bằng chứng cho thấy rằng tham gia làm việc ở NCT có liên quan tích cực đến sức khỏe thể chất, tinh th n và nhận thức của họ WHO 2015. NCT tham gia làm việc sẽ giúp quá trình suy giảm về thể chất và nhận thức chậm hơn so với những ngƣời không làm việc do những kích thích tích cực khi làm việc và lợi ích từ sự tham gia vào xã hội mang lại. Hơn nữa, do hiện đại hóa, NCT giờ đây đƣợc khuyến khích và thậm chí thúc đẩy tìm việc làm trong thị trƣờng lao động để có sự độc lập hơn nếu mạng lƣới an sinh xã hội không đủ đáp ứng. Tuy nhiên, động lực tham gia làm việc ở NCT cũng c n phải đƣợc xem xét trong bối cảnh văn hóa xã hội (Teerawichitchainan, Pothisiri và Long, 2015).

Nghiên cứu của Connelly, Maurer-fazio và Zhang (2014), Tong , Chen và Su (2018) đƣa ra kết luận rằng, NCT sống chung với con có thể ít phải làm việc hơn vì ảnh hƣởng của giá trị truyền thống liên quan đến sự hỗ trợ giữa các thế hệ. Tuy nhiên, một số các nghiên cứu khác cho kết quả ngƣợc lại là NCT sống chung với con lại có xác suất làm việc cao hơn so với những hình thức SXCS khác ví dụ, Croda & Gonzalez, 2005; Paul & Verma, 2016; Raymo và cộng sự, 2018. Nhƣ vậy, bằng chứng về tác động của SXCS đến sức khỏe và tình trạng làm việc của NCT trong các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho đến nay vẫn chƣa thống nhất. Sự khác biệt này là do không gian nghiên cứu, giai đoạn nghiên cứu và đặc biệt là điều kiện kinh tế-xã hội và đặc điểm văn hóa, lối sống.

Do đó, nghiên cứu này là thật sự c n thiết để bổ sung thêm một bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh của một nƣớc có mức thu nhập trung bình nhƣng lại có tốc độ già hóa dân số nhanh nhƣ Việt Nam. Việt Nam là một trong những nƣớc có tốc độ già hóa dân số rất cao, đặc biệt là so với các nƣớc có mức thu nhập trung bình. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, t lệ NCT ngƣời từ 60 tuổi trở lên là g n 11,9% tổng dân số tƣơng đƣơng với 11,4 triệu ngƣời. Dự báo dân số giai đoạn 2014-2049 của Tổng cục Thống kê TCTK 2016 cho thấy, t lệ NCT sẽ tăng lên mức 26,1% vào năm 2050 tƣơng đƣơng với 27 triệu ngƣời.

3 luan an Theo truyền thống, đồng cƣ trú là hình thức phổ biến ở Việt Nam nên ngƣời cao tuổi NCT đƣợc chăm sóc bởi các thành viên trong gia đình. Cho tới nay, gia đình vẫn là nguồn an sinh của NCT – là nơi cung cấp và hỗ trợ chính cho NCT cả về mặt vật chất và tinh th n. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội và xu hƣớng di cƣ đã tác động mạnh mẽ đến hộ gia đình theo hƣớng thay đổi từ hộ gia đình truyền thống với nhiều thế hệ sang hộ gia đình hạt nhân, đặc biệt là hộ gia đình chỉ có vợ chồng là NCT sống với nhau. Sự thay đổi đó cũng làm cho vị thế của NCT trong hộ gia đình cũng thay đổi.

Bên cạnh đó, sống một mình là điều ít mong muốn về mặt xã hội nhƣng lại đang trở thành xu hƣớng ngày càng phổ biến ở NCT, đặc biệt là phụ nữ ở độ tuổi rất cao từ 80 trở lên. Những sự biến đổi sắp xếp cuộc sống SXCS hay sắp xếp cƣ trú nhƣ thế vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho việc chăm sóc và phát huy vai trò NCT. C ng lúc đó, ph n lớn NCT Việt Nam sống ở khu vực nông thôn không có lƣơng hƣu và không có thu nhập tích lũy khi về già và nhiều NCT không nhận đƣợc sự hỗ trợ từ hệ thống an sinh xã hội UNFPA 2011; Giang Thanh Long và Phí Mạnh Phong 2016 nên thực tế nhiều NCT vẫn ở lại làm việc lâu hơn để hỗ trợ tài chính cho bản thân và gia đình. Cho nên, với sự thay đổi trong cách SXCS gia đình của NCT theo xu hƣớng sống với con ngày càng giảm sẽ có ảnh hƣởng lớn đến an sinh thu nhập cho NCT, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Nhƣ vậy, trong bối cảnh già hóa dân số, những thay đổi trong SXCS, thị trƣờng lao động thì việc xem xét tác động của SXCS đến sức khỏe, tình trạng làm việc của NCT rất c n thiết. Tuy nhiên, theo hiểu biết của tác giả thì cho đến nay, vẫn chƣa có một nghiên cứu nào ở Việt Nam phân tích tác động của SXCS đến sức khỏe thể chất và tâm th n và tình trạng làm việc của NCT. Do đó, nghiên cứu này là c n thiết để cung cấp những bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm để từ đó mang lại những giá trị học thuật và chính sách. Đây cũng chính là động lực, lý do chính mà NCS lựa chọn đề tài “Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi Việt Nam” để nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án 2. Mục tiêu tổng quát Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý thuyết và đƣa ra các bằng chứng thực nghiệm về tác động của SXCS đến sức khoẻ và tình trạng làm việc của NCT ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Tác động của sắp xếp cuộc sống đến sức khỏe và tình trạng làm việc của người cao tuổi tại Việt Nam" của tác giả Trần Thị Thúy Ngọc, được thực hiện tại Đại học Đà Nẵng, khám phá mối liên hệ giữa cách tổ chức cuộc sống và sức khỏe của người cao tuổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sắp xếp cuộc sống hợp lý không chỉ cải thiện sức khỏe thể chất mà còn nâng cao tinh thần làm việc của người cao tuổi. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh dân số già hóa tại Việt Nam, nơi mà sức khỏe và khả năng làm việc của người cao tuổi ngày càng trở thành vấn đề cần được quan tâm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi, bạn có thể tham khảo bài viết "Dịch vụ Công tác Xã hội cho Người Cao Tuổi tại Bà Rịa - Vũng Tàu: Luận Văn Thạc Sĩ", nơi nghiên cứu về các dịch vụ xã hội dành cho người cao tuổi. Bên cạnh đó, bài viết "Nghiên cứu về dịch vụ chăm sóc người cao tuổi trong công tác xã hội" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về hoạt động chăm sóc và hỗ trợ cho người cao tuổi tại các trung tâm chăm sóc. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay", một tài liệu quan trọng giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách hỗ trợ người cao tuổi trong bối cảnh hiện tại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh liên quan đến sức khỏe và cuộc sống của người cao tuổi tại Việt Nam.