Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm người cao tuổi và thực trạng người cao tuổi 1. Khái niệm người cao tuổi Tổ chức Y tế Thế giới đã quy định người già là những người từ 60 tuổi trở lên không phân biệt giới tính. Tại Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi quy định trong Luật số 39/2009/QH12 của Quốc hội, người cao tuổi là người đủ trên 60 tuổi trở lên [16].
Dân số già hiện là một vấn đề toàn cầu. Những dự án của Liên Hiệp Quốc đã chỉ ra rằng cả các nước phát triển và đang phát triển sẽ phải đối mặt với sự tăng lên đáng kể của tỷ lệ những người cao tuổi (NCT) trong 45 năm tới [114]. Do sự phát triển không ngừng của mọi mặt về kinh tế xã hội, đặc biệt là khoa học y học, chất lượng cuộc sống của NCT cũng không ngừng được cải thiện, điều này làm cho tỷ lệ NCT và tuổi thọ trung bình ngày càng tăng. Tuy nhiên, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội và sự phân bố dân cư ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. Một trong những xu hướng biến đổi dân số quan trọng của Việt Nam trong thời gian qua và sẽ diễn ra mạnh mẽ trong thời gian tới chính là già hoá dân số. Đây là thành quả của những chính sách kinh tế, xã hội và chăm sóc sức khoẻ nhân dân mà Việt Nam đã và đang thực hiện và ngày càng được cải thiện. Tình hình người cao tuổi trên thế giới Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo cho biết, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2050 trên quy mô toàn cầu, số NCT sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi.
Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Tỷ lệ NCT trên toàn thế giới có xu hướng tăng gấp gần 3 lần trong vòng 4 50 năm. Cụ thể, tỷ lệ NCT trên 60 tuổi năm 2000 là 9,9% dân số toàn thế giới, nhưng đến năm 2015 con số này đã tăng lên 12,3%. Dự đoán tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng lên 16,5% năm 2030 và lên tới 21,5% dân số thế giới vào năm 2050.
Trong đó tỷ lệ NCT có độ tuổi từ 80 tuổi trở lên cũng tăng nhanh từ 1,7% năm 2015 lên 4,5% năm 2050 [84]. Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Đến năm 2015, số NCT tăng lên đến gần 900 triệu người. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ 400 triệu người vào năm 2030 và đến năm 2050 sẽ tăng lên khoảng 2 tỷ người.
Có sự khác biệt lớn về tỷ lệ người cao tuổi giữa các vùng trên thế giới. Ví dụ, năm 2015, Châu Phi có 5,4% dân số tuổi từ 60 trở lên, trong khi con số này ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 11,2%, ở Châu Á là 11,6%, Châu Đại dương là 16,5%, Bắc Mỹ là 20,8% và Châu Âu là 23,9%. Đến năm 2050, dự báo tỷ trọng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 8,9% tổng dân số, so với 24,6% ở Châu Á, 23,3% ở Châu Đại dương, 25% ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe, 28,3% ở Bắc Mỹ và 34,2% ở Châu Âu [80]. Tuổi thọ trung bình của dân số thế giới cũng không ngừng được nâng cao.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, độ tuổi trung bình của dân số thế giới năm 2000 là 66,4 tuổi, nhưng đến năm 2015 độ tuổi trung bình của con người đã tăng lên 71,4 tuổi. Trong đó, độ tuổi trung bình của từng vùng cũng có sự khác biệt lớn. Cụ thể, năm 2000, độ tuổi trung bình ở Châu Phi là 50,6 tuổi; ở Châu Mỹ là 73,7 tuổi; ở Châu Âu là 72,3 tuổi; ở Đông Nam Á là 63,5 tuổi. Nhưng năm 2015, độ tuổi trung bình đã tăng lên là 60 tuổi ở Châu Phi, 76,9 tuổi ở Châu Mỹ, 76,8 tuổi ở Châu Âu và 69 tuổi ở Đông Nam Á [114].
Chúng ta thấy rằng, độ tuổi trung bình ở Châu Phi và Đông Nam Á, là những nước đang phát triển, tuy thấp hơn độ tuổi trung bình của dân số thế giới nhưng cũng tăng lên rất nhanh. Điều đó thể hiện sự già hóa của dân số đang tăng lên nhanh chóng ở cả những nước phát triển và đang phát triển. 5 Trong một xã hội già hóa, tỷ lệ NCT tăng nhanh là một thách thức lớn đối với hệ thống bảo trợ và an sinh xã hội. Quá trình già hóa dân số này sẽ dẫn đến một số tác động như: Tiền trợ cấp hưu trí và thu nhập từ lương hưu sẽ phải chi trả một khoảng thời gian dài của cuộc sống; Chi phíchăm sóc sức khỏe sẽ tăng lên.
Bên cạnh đó, sự già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức to lớn cho hệ thống Y tế trên toàn thế giới trong việc chăm sóc sức khỏe cho NCT, đảm bảo cung cấp các dịch vụ y tế và các chính sách y tế phù hợp. Tình hình người cao tuổi tại Việt Nam Trong thời gian qua, dân số Việt Nam đã có những biến động mạnh mẽ về quy mô và cơ cấu tuổi. Tỷ lệ NCT ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong thời gian này là do ba yếu tố quan trọng: tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng lên. Ở Việt Nam năm 1979 tổng số người trên 60 tuổi là 3,7 triệu người chiếm 6,96% tổng dân số, năm 2009 số lượng NCT tăng lên 7,7 triệu người chiếm 8,69% tổng dân số.
Dự đoán con số này tiếp tục tăng lên 16,66% tính đến năm 2029 và 26,1 % vào năm 2049. Trong đó sự gia tăng tỷ lệ dân số ở các độ tuổi theo các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê (GSO) và Dự báo dân số của GSO được thể hiện ở bảng sau: Bảng 1. Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009 và Dự báo Dân số đến năm 2049 Nhóm 1979 1989 1999 2009 2019 2029 2039 2049 tuổi (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) (%) 60 - 64 2,28 2,40 2,31 2,26 4,29 5,28 5,80 7,04 65 - 69 1,90 1,90 2,20 1,81 2,78 4,56 5,21 6,14 70 - 74 1,34 1,40 1,58 1,65 1,67 3,36 4,30 4,89 75 - 79 0,90 0,80 1,09 1,40 1,16 1,91 3,28 3,87 80+ 0,54 0,70 0,93 1,47 1,48 1,55 2,78 4,16 Tổng 6,96 7,20 8,11 8,69 11,78 16,66 21,37 26,10 (Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009 và Dự báo Dân số của GSO (2011) [3]) 6 Bên cạnh đó, tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam năm 2010 là 75,4 tuổi, dự đoán tăng lên 78 tuổi vào năm 2030 và 80,4 tuổi vào năm 2050 [17]. Đây là tuổi thọ tương đương hoặc cao hơn những nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia và Inđônêxia [115].
Già hóa dân số là một thành tựu xã hội to lớn của loài người và của các quốc gia trên toàn thế giới. Già hóa dân số không phải là một gánh nặng nhưng nó sẽ làm cho gánh nặng kinh tế và xã hội trở nên nghiêm trọng hơn nếu không có những bước chuẩn bị và thực hiện các chiến lược, chính sách thích ứng. Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ cao và thời gian chuẩn bị thích ứng không còn nhiều nên cần phải hoạch định những chiến lược, chính sách thực tế, xác đáng để thích ứng với tình hình đó. Chính sách, chiến lược cần phải dựa trên các bằng chứng về mối quan hệ qua lại giữa “dân số già” đến tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội [13].
Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ bệnh quanh răng ở người cao tuổi 1. Một số đặc điểm vùng quanh răng ở người cao tuổi Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái và chức năng, cùng với răng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể, bao gồm toàn bộ tổ chức bao bọc quanh răng: Lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và xương ổ răng. Bên cạnh đó, vai trò của hệ thống mạch máu nuôi dưỡng cho vùng quanh răng cũng rất quan trọng góp phần tạo nên vùng quanh răng lành mạnh. Vùng quanh răng ở NCT thường có những đặc điểm của quá trình thoái hóa các tổ chức bao bọc quanh răng như lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và xương ổ răng.
* Biến đổi ở lợi Tác động lão hóa lên mô liên kết lợi được đặc trưng bởi những biến đổi thoái triển ở mạch máu và thần kinh. Mạch máu ở lợi giảm về số lượng và khả năng thẩm thấu cũng như lắng đọng Hyalin trong các tiểu động mạch. Lợi mất dần tính đàn hồi, giai đoạn đầu có vẻ hơi phù nề và bóng láng, giai đoạn sau 7 lợi bị co và teo lại gây hở chân răng có khi tới 2/3 chiều dài của chân răng. Hiện tượng này cần được đánh giá không phải chỉ do nhiều tuổi đơn thuần mà còn phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân như: Vệ sinh răng miệng không tốt, răng mọc lệch, lợi bị chấn thương kéo dài… * Biến đổi dây chằng quanh răng Những biến đổi thoái triển ở mạch máu và thần kinh ở dây chằng quanh răng cũng có những thay đổi về mạch máu như ở lợi.
Vì vậy vai trò làm đệm của mô quanh răng giảm, mật độ tế bào (nguyên bào sợi, tạo cốt bào, hủy cốt bào) và tăng sợi keo, những nguyên bào xơ, thành phần tế bào chính của mô dây chằng quanh răng có xu hướng hoà vào nhau để sinh ra những tế bào đa nhân. Tỉ lệ đổi mới của mô liên kết chậm lại dẫn tới khả năng liền sẹo kém. Dây chằng có thể thoái triển coi như mất xơ, xương răng lan vào xương ổ răng làm cho chân răng người già gần như dính vào xương. * Biến đổi ở xương ổ răng Xương ổ răng cũng như xương hàm có hiện tượng mạch máu ít đi, chuyển hóa cơ bản thấp, gần như không có sự bồi đắp xương mới, tế bào xương giảm về số lượng và hoạt động.
Ở mặt ngoài răng cửa và răng hàm nhỏ hàm dưới xương ở răng xốp hơn so với phần xương ổ răng ở mặt lưỡi, trong khi đó ở răng hàm lớn thì ngược lại. Lớp xương ở chân răng khi bị hở nếu bị mòn hoặc mất đi sẽ dẫn đến tình trạng tụt lợi. Hậu quả của tụt lợi là răng ê buốt, giảm thẩm mỹ, giắt thức ăn ở kẽ răng, mòn chân răng. Khi tổ chức quanh răng bị viêm (gọi là viêm lợi), bao gồm quá trình tổn thương viêm và tổn thương thoái hóa.