Tổng quan luận án

Già hóa dân số là một trong những biến đổi nhân khẩu học lớn trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam trong thế kỷ 21. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), số lượng người cao tuổi trên thế giới năm 2015 đạt gần 900 triệu người và dự báo sẽ vượt mức 2 tỷ người vào năm 2050. Tại Việt Nam, kết quả từ các cuộc Tổng điều tra Dân số qua các năm 1979, 1989, 1999 và 2009 cho thấy sự gia tăng tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên từ 6,96% năm 1979 lên 8,69% năm 2009; các dự báo dân số chỉ ra rằng tỷ lệ này sẽ tiếp tục tăng nhanh lên 11,78% năm 2019, 16,66% năm 2029, 21,37% năm 2039 và đạt 26,10% vào năm 2049. Tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam năm 2010 đạt 75,4 tuổi, dự kiến đạt 78 tuổi vào năm 2030 và 80,4 tuổi vào năm 2050.

Đi liền với xu hướng già hóa dân số, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người cao tuổi ngày càng gia tăng, trong đó sức khỏe răng miệng giữ vai trò quan trọng đối với khả năng ăn nhai, dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống. Bệnh quanh răng là một bệnh lý mạn tính xảy ra ở các mô nâng đỡ của răng (lợi, dây chằng quanh răng, xương răng và xương ổ răng), gây ra bởi mảng bám vi khuẩn tích tụ, dẫn tới viêm lợi, mất bám dính, tiêu xương ổ răng, làm lung lay và mất răng tự nhiên. Chiến lược chăm sóc sức khỏe răng miệng của WHO cho giai đoạn hiện nay nhấn mạnh mục tiêu giảm thiểu tình trạng mất răng ở người cao tuổi thông qua kiểm soát và dự phòng bệnh quanh răng.

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu dịch tễ về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trước đây đa phần được triển khai tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, với tỷ lệ mắc bệnh ghi nhận lên tới khoảng 95%. Tuy nhiên, tình hình sức khỏe răng miệng và hiệu quả của các can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe tại các vùng nông thôn, miền núi, đặc biệt là ở các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là một khoảng trống nghiên cứu. Người dân tộc Sán Dìu tại xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên sinh sống tập trung trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, tập quán sinh hoạt còn tồn tại nhiều bất lợi cho vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân, năng lực cung ứng dịch vụ chăm sóc răng miệng tại trạm y tế xã còn hạn chế. Nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn đó, luận án tiến sĩ chuyên ngành Y tế công cộng của nghiên cứu sinh Nông Phương Mai được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Hoàng Khải Lập và TS. Hoàng Tiến Công tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng bệnh quanh răng và kiến thức - thái độ - thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng của người cao tuổi dân tộc Sán Dìu xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên năm 2015.
  2. Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi dân tộc Sán Dìu mắc bệnh quanh răng tại xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu mô tả: Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên (tính đến ngày 01/01/2015) thuộc dân tộc Sán Dìu, có hộ khẩu thường trú từ 2 năm trở lên tại địa bàn nghiên cứu và tự nguyện tham gia.
  • Đối tượng nghiên cứu can thiệp: Người cao tuổi dân tộc Sán Dìu mắc bệnh quanh răng được nhận can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng.
  • Đối tượng nghiên cứu định tính: Nhóm cán bộ quản lý (Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách y tế, Trạm trưởng Trạm Y tế xã), nhóm cán bộ y tế (nhân viên trạm y tế, nhân viên y tế thôn bản) và nhóm đại diện người cao tuổi (Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã, Chi hội trưởng Hội Người cao tuổi các xóm can thiệp, đại diện người cao tuổi).
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Những người cao tuổi vắng mặt tại thời điểm điều tra, từ chối tham gia, mất răng toàn bộ, hoặc có bệnh lý đặc biệt không thể phối hợp điều tra và tự chăm sóc (câm, điếc, tâm thần, liệt giường).
  • Không gian nghiên cứu: Xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (đặc biệt tập trung tại các xóm có đông đồng bào Sán Dìu sinh sống như Đầm Diền, Đầm Cỏ, Na Quán, Trại Gião, Cầu Đất, Quang Trung, Đồng Chốc, Gốc Thị, Chí Son, Bờ Suối).
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thực trạng ban đầu thu thập năm 2015; quá trình can thiệp, theo dõi, đánh giá và hoàn thành luận án vào năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các nghiên cứu quốc tế về bệnh quanh răng ở người cao tuổi

Tổng quan tài liệu quốc tế ghi nhận bệnh quanh răng là bệnh phổ biến, có tính toàn cầu và liên quan chặt chẽ đến độ tuổi, giới tính, tình trạng kinh tế - xã hội. Nghiên cứu của Papapanou và cộng sự chứng minh mức độ tiêu xương trung bình hàng năm ở người 70 tuổi là 0,28 mm, cao hơn nhiều so với mức 0,07 mm ở người 25 tuổi. Các tổng quan của WHO và nhiều tác giả khác ghi nhận:

  • Tại Châu Âu, tỷ lệ đối tượng có chỉ số quanh răng cộng đồng (CPI) mức độ 3 (túi lợi 4 - 5 mm) dao động từ 13% đến 57% (trung bình 37%), tỷ lệ CPI mức độ 4 (túi lợi ≥ 6 mm) ở Đông Âu là 23% và Tây Âu là 9%.
  • Tại Phần Lan, Ajwani và cộng sự (2001) nghiên cứu trên 175 người cao tuổi ghi nhận 7% có lợi lành (CPI = 0), 6% chảy máu lợi (CPI = 1), 41% có cao răng (CPI = 2), 35% có túi lợi nông (CPI = 3) và 11% có túi lợi bệnh lý sâu (CPI = 4). Theo dõi sau 5 năm ở nhóm 81-91 tuổi của Ajwani và Ainamo (2001) cho thấy số răng trung bình giảm từ 15,9 xuống 15,1 răng.
  • Tại Nhật Bản, Hirotomi và cộng sự (2002) phát hiện 97,1% đối tượng có ít nhất 1 vùng lục phân mất bám dính ≥ 4 mm và 47,9% mất bám dính ≥ 7 mm; sau 2 năm theo dõi, 75,1% đối tượng có sự tiến triển mất bám dính ≥ 3 mm. Ogawa và cộng sự (2002) cũng xác định thói quen hút thuốc lá và mất bám dính ban đầu ≥ 6 mm là yếu tố nguy cơ tiến triển bệnh quanh răng ở người cao tuổi.
  • Tại Đức, nghiên cứu sức khỏe tại Pomerania ghi nhận tỷ lệ có túi lợi ≥ 4 mm ở nam giới 60 - 69 tuổi là 85% so với 71% ở nhóm 70 - 79 tuổi.
  • Tại Thụy Điển, Holm-Pedersen và cộng sự (2006) khảo sát trên người từ 80 tuổi trở lên ghi nhận 50,5% mắc bệnh quanh răng nặng.
  • Tại Hoa Kỳ, dữ liệu điều tra NHANES giai đoạn 2009 - 2012 công bố 46% người trưởng thành mắc bệnh quanh răng, với tỷ lệ cao hơn ở các nhóm có tình trạng kinh tế - xã hội thấp hoặc nhóm cao tuổi.
  • Tại Thái Lan (2005), tỷ lệ mắc bệnh quanh răng nặng ở người từ 60 tuổi trở lên cao hơn có ý nghĩa thống kê (OR = 1,6). Nghiên cứu của Aguilar và cộng sự (2012) tại Peru cũng cho kết quả tương tự về tỷ lệ mắc bệnh quanh răng cao ở người cao tuổi.

Các nghiên cứu trong nước về bệnh quanh răng

Tại Việt Nam, cuộc Điều tra sức khỏe răng miệng quốc gia năm 2000 của Trần Văn Trường và Lâm Ngọc Ấn cho thấy tỷ lệ viêm lợi ở nhóm 35 - 44 tuổi trên toàn quốc là 99,6% (Hà Nội: 92%, TP. Hồ Chí Minh và Cao Bằng: 100%). Nghiên cứu của Nguyễn Cẩn và cộng sự ghi nhận tình trạng viêm lợi gắn liền với sự tích tụ cao răng, trong đó khoảng 1/3 trường hợp viêm lợi tiến triển thành viêm quanh răng. Trần Văn Dũng và cộng sự (2011) tại Thừa Thiên Huế ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh quanh răng là 80,1%, tập trung ở người vệ sinh răng miệng kém (96,8%), trong đó CPITN1 là 5,96%, CPITN2 là 50,5%, CPITN3 là 33,68% và CPITN4 là 5,26%. Lưu Hồng Hạnh và cộng sự (2015) khảo sát 1.405 người cao tuổi nội thành Hà Nội chỉ ra bệnh quanh răng liên quan đến tuổi, giới, học vấn, hút thuốc lá và tiền sử khám răng. Lê Nguyễn Bá Thụ (2017) điều tra trên 1.350 người cao tuổi tại Buôn Ma Thuột ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh quanh răng đạt 79%.

Các nghiên cứu can thiệp và đánh giá kiến thức - thái độ - thực hành (KAP)

  • Quốc tế: Lim và cộng sự (1996) tại Trung Quốc khẳng định lấy cao răng kết hợp giáo dục vệ sinh răng miệng làm giảm rõ rệt chảy máu và viêm lợi. Mariño R. và cộng sự (2004) tại Australia chứng minh can thiệp giáo dục giúp tăng kiến thức ($p < 0,05$), thái độ tích cực ($p < 0,001$), tăng sử dụng chỉ tơ nha khoa (OR = 13,33) và dịch vụ nha khoa (OR = 1,82). Cheung C. và cộng sự (2006) tại Trung Quốc ghi nhận điểm kiến thức tăng từ 4,45 lên 6,39 ($p = 0,02$) và giảm chỉ số mảng bám, chảy máu lợi. Boczko (2009) tại Mỹ, Karim F. và cộng sự (2014) tại Bangladesh, Eun-Joo Song và cộng sự (2017) tại Hàn Quốc (chỉ số CPI giảm từ 2,59 xuống 1,41; $p < 0,001$) cùng tổng quan của Needleman và cộng sự (2015) đều khẳng định giá trị của giáo dục sức khỏe răng miệng. Về khảo sát KAP, các nghiên cứu của Lin H.C. (2001), Zhu và cộng sự (2005), Wehmeyer và cộng sự (2014), Bashiru và cộng sự (2017), Braimoh và cộng sự (2017) ở nhiều quốc gia cho thấy người cao tuổi còn tồn tại tỷ lệ cao về thiếu hụt kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng chưa đúng cách.
  • Việt Nam: Phạm Văn Việt (2004) tại Hà Nội áp dụng mô hình can thiệp lấy cao răng kết hợp giáo dục sức khỏe răng miệng, ghi nhận tỷ lệ vùng quanh răng lành mạnh tăng lên ($p < 0,01$), giảm tỷ lệ túi lợi nông xuống 68,96% và giảm cao răng xuống 39,58%, đồng thời nâng cao rõ rệt các chỉ số KAP. Các khảo sát của Nguyễn Mạnh Hà và Trần Thanh Sơn (2011), Nguyễn Minh Sơn và cộng sự (2016 tại Đà Nẵng), Kiều Quốc Thoại và cộng sự (2017 tại TP. Hồ Chí Minh) đều chỉ ra thực trạng người cao tuổi tại Việt Nam còn hạn chế về kiến thức phòng bệnh quanh răng, tỷ lệ khám răng định kỳ rất thấp và thói quen vệ sinh răng miệng chưa đạt chuẩn.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dịch tễ và can thiệp bệnh quanh răng, phần lớn các công trình tập trung vào quần thể cư dân đô thị, người Kinh hoặc bối cảnh viện dưỡng lão. Luận án của tác giả Nông Phương Mai lựa chọn giải quyết khoảng trống thực tiễn và khoa học đối với một cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi (người Sán Dìu tại xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên). Nghiên cứu cung cấp bức tranh dịch tễ học về tình trạng quanh răng và các chỉ số KAP ở người cao tuổi Sán Dìu, đồng thời thiết kế và đánh giá một chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng phù hợp với điều kiện văn hóa - xã hội và nguồn lực y tế tuyến xã.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án ứng dụng Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model - HBM) làm cơ sở khoa học hành vi cho chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng. Mô hình bao gồm các cấu phần chính:

  1. Yếu tố điều chỉnh có tính cá nhân (Modifying factors): Tuổi tác, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế - xã hội, cấu trúc gia đình và văn hóa truyền thống của người Sán Dìu.
  2. Nhận thức của cá nhân (Individual perceptions):
    • Nhận thức về nguy cơ mắc bệnh (Perceived susceptibility): Nhận thức của người cao tuổi về khả năng mình bị viêm lợi, tụt lợi, lung lay răng.
    • Nhận thức về mức độ nghiêm trọng (Perceived severity): Đánh giá hậu quả của bệnh quanh răng như đau đớn, mất răng, suy giảm chức năng ăn nhai và ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân.
    • Nhận thức về mối đe dọa (Perceived threat): Sự kết hợp giữa nguy cơ và mức độ nghiêm trọng.
  3. Khả năng hành động (Likelihood of action):
    • Nhận thức về lợi ích (Perceived benefits): Tin tưởng rằng chăm sóc răng miệng đúng cách giúp duy trì hàm răng chắc khỏe, cải thiện dinh dưỡng.
    • Nhận thức về rào cản (Perceived barriers): Chi phí, khoảng cách đi lại, tâm lý sợ đau, thiếu cơ sở y tế chuyên khoa tại địa phương.
  4. Yếu tố thúc đẩy hành động (Cues to action): Sự tư vấn trực tiếp của cán bộ y tế, các buổi truyền thông nhóm tại nhà văn hóa xóm, phát tờ rơi, sự vận động từ Hội Người cao tuổi và những người có uy tín trong làng xóm.
  5. Sự tự tin (Self-efficacy - Bandura, 1977): Niềm tin của người cao tuổi vào khả năng tự thực hiện các hành vi chải răng đúng cách và duy trì thói quen vệ sinh răng miệng hàng ngày.

Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

Luận án kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính:

  • Thiết kế nghiên cứu định lượng: Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang cho Mục tiêu 1 (năm 2015) và thiết kế can thiệp cộng đồng có đối chứng (so sánh trước - sau can thiệp và so sánh giữa nhóm can thiệp với nhóm chứng) cho Mục tiêu 2.
  • Thiết kế nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm (với người cao tuổi, nhân viên y tế xã) và phỏng vấn sâu (với cán bộ lãnh đạo xã, trạm y tế) trước và sau can thiệp.

Công cụ thu thập dữ liệu và tiêu chuẩn đánh giá lâm sàng

  1. Phương tiện lâm sàng: Sử dụng ghế và thiết bị nha khoa di động, gương nha khoa, kẹp gắp và cây thăm dò quanh răng theo tiêu chuẩn của WHO (đầu dò có bi đường kính 0,5 mm, có vạch chia mức 3,5 mm; 5,5 mm; 8,5 mm; 11,5 mm).
  2. Các chỉ số lâm sàng:
    • Chỉ số lợi (GI - Gingival Index theo Loe và Silness): Đánh giá mức độ viêm lợi theo 4 mức độ (0: Lợi bình thường; 1: Viêm nhẹ; 2: Viêm trung bình; 3: Viêm nặng).
    • Chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI-S theo Greene và Vermillion): Đánh giá tình trạng mảng bám và cao răng trên các mặt răng chỉ định.
    • Chỉ số quanh răng cộng đồng (CPI theo WHO): Đánh giá tình trạng vùng quanh răng trên 6 vùng lục phân với các mã số từ 0 đến 4 (Mã 0: Lợi lành mạnh; Mã 1: Chảy máu lợi; Mã 2: Có cao răng; Mã 3: Túi lợi nông 4 - 5 mm; Mã 4: Túi lợi sâu $\ge 6$ mm; Mã X: Vùng lục phân bị loại trừ do không có răng).
  3. Đánh giá Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP): Sử dụng bộ câu hỏi chuẩn hóa phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu về các nội dung: kiến thức chung về răng miệng, mối liên quan với sức khỏe toàn thân, nhận thức về phòng bệnh; thái độ đối với việc chăm sóc và tiếp nhận truyền thông; thực hành chải răng, dùng dụng cụ làm sạch kẽ răng và đi khám định kỳ.
  4. Đánh giá hiệu quả can thiệp: Tính toán Chỉ số hiệu quả (CSHQ) và Hiệu quả can thiệp (HQCT) đối với từng chỉ số lâm sàng và tỷ lệ cải thiện KAP giữa hai nhóm nghiên cứu trước và sau can thiệp.

Quy trình can thiệp và xử lý số liệu

  • Nội dung can thiệp: Truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp và gián tiếp: tập huấn, hướng dẫn kỹ năng chải răng đúng phương pháp, thảo luận nhóm tại nhà văn hóa xóm, phát tờ rơi tranh ảnh, huy động mạng lưới y tế thôn bản và Hội Người cao tuổi đôn đốc thực hành.
  • Xử lý số liệu: Số liệu định lượng được làm sạch, nhập liệu và phân tích thống kê y học (tính tỷ lệ %, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định $\chi^2$, Student's t-test, tính OR, 95% CI và so sánh hiệu quả can thiệp). Dữ liệu định tính được gỡ băng, mã hóa theo chủ đề và trích dẫn theo các khung thông tin (Hộp dữ liệu).
  • Đạo đức nghiên cứu và khống chế sai số: Đề tài tuân thủ các quy chuẩn đạo đức y sinh học, đối tượng tham gia tự nguyện và được bảo mật thông tin cá nhân. Sai số được khống chế bằng chuẩn hóa điều tra viên, hiệu chuẩn kỹ thuật khám lâm sàng trước khi triển khai thực địa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích các khái niệm về người cao tuổi theo WHO (từ 60 tuổi trở lên) và Luật Người cao tuổi Việt Nam (Luật số 39/2009/QH12). Chương này trình bày chi tiết về:

  • Thực trạng già hóa dân số toàn cầu và tại Việt Nam qua các kỳ Tổng điều tra dân số (1979 - 2009) cùng dự báo biến động dân số đến năm 2049.
  • Đặc điểm giải phẫu và sinh lý bệnh của vùng quanh răng ở người cao tuổi do quá trình lão hóa: biến đổi teo mỏng niêm mạc lợi, giảm mật độ tế bào và xơ hóa dây chằng quanh răng, giảm tưới máu vi mạch, hiện tượng tiêu xương ổ răng gây tụt lợi và hở chân răng.
  • Phân tích các yếu tố nguy cơ của bệnh quanh răng: nhóm yếu tố không thể thay đổi (tuổi, giới tính) và nhóm yếu tố có thể thay đổi (mảng bám vi khuẩn, vệ sinh răng miệng kém, hút thuốc lá, bệnh toàn thân như đái tháo đường, tim mạch).
  • Tổng quan các công trình nghiên cứu dịch tễ học và can thiệp giáo dục sức khỏe răng miệng trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Cơ sở lý thuyết của Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM) và ứng dụng phân tích hành vi chăm sóc răng miệng người cao tuổi.
  • Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Xã Nam Hòa có 63% dân số là người Sán Dìu, diện tích 24,78 km², bao gồm 22 xóm với 11 xóm thuộc diện đặc biệt khó khăn. Phân tích các yếu tố kinh tế (nông nghiệp thủ công), văn hóa - xã hội (cấu trúc làng xóm, vai trò người cao tuổi có uy tín, gia đình phụ quyền, tín ngưỡng truyền thống) ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi chăm sóc sức khỏe.
Cột mốc Dân số Việt Nam Tỷ lệ người $\ge 60$ tuổi (%) Ghi chú nguồn dữ liệu
Năm 1979 6,96 Tổng điều tra dân số
Năm 1989 7,20 Tổng điều tra dân số
Năm 1999 8,11 Tổng điều tra dân số
Năm 2009 8,69 Tổng điều tra dân số
Dự báo 2019 11,78 Dự báo dân số GSO (2011)
Dự báo 2029 16,66 Dự báo dân số GSO (2011)
Dự báo 2039 21,37 Dự báo dân số GSO (2011)
Dự báo 2049 26,10 Dự báo dân số GSO (2011)

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả toàn bộ quy trình thiết kế và tiến hành nghiên cứu khoa học:

  • Xác định cụ thể các nhóm đối tượng nghiên cứu định lượng (người cao tuổi $\ge 60$ tuổi dân tộc Sán Dìu cư trú trên 2 năm), đối tượng can thiệp và đối tượng nghiên cứu định tính (cán bộ quản lý xã, nhân viên y tế thôn bản, lãnh đạo Hội Người cao tuổi).
  • Quy định rõ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ (loại trừ các trường hợp mất răng toàn bộ, bệnh tâm thần, câm điếc, nằm liệt giường hoặc từ chối tham gia).
  • Mô tả phương pháp chọn mẫu, tính toán cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả và nghiên cứu can thiệp có nhóm chứng.
  • Hệ thống hóa danh mục biến số và chỉ số nghiên cứu cho cả hai mục tiêu: các chỉ số lâm sàng (GI, OHI-S, CPI, số vùng lục phân), các biến số KAP (kiến thức giải phẫu, nguyên nhân, phòng bệnh, thái độ khám răng, thực hành chải răng, dùng chỉ nha khoa, súc miệng).
  • Trình bày phương tiện kỹ thuật: Cây thăm dò quanh răng của WHO, ghế nha khoa di động, quy trình khám và tiêu chuẩn chấm điểm.
  • Quy trình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe, các phương pháp khống chế sai số, kỹ thuật phân tích số liệu thống kê y học và cam kết tuân thủ đạo đức nghiên cứu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng và định tính thu được từ thực địa:

  • Thực trạng bệnh quanh răng năm 2015: Phản ánh tỷ lệ mắc bệnh quanh răng ở người cao tuổi Sán Dìu ở mức cao. Phân bố điểm số chỉ số lợi (GI) ở mức độ trung bình và kém chiếm tỷ lệ lớn; chỉ số vệ sinh răng miệng đơn giản (OHI-S) phản ánh tình trạng tích tụ mảng bám và cao răng phổ biến; phân bố chỉ số quanh răng cộng đồng (CPI) tập trung chủ yếu ở mã 2 (cao răng) và mã 3 (túi lợi nông 4 - 5 mm), số lượng vùng lục phân lành mạnh rất thấp.
  • Thực trạng KAP năm 2015: Phần lớn người cao tuổi thiếu kiến thức về nguyên nhân gây bệnh quanh răng và mối liên quan giữa sức khỏe răng miệng với bệnh toàn thân; thái độ đối với việc khám răng định kỳ còn thụ động (chủ yếu chỉ đến cơ sở y tế khi đau nhức hoặc cần nhổ răng); thực hành chải răng chưa đúng phương pháp, thời gian chải răng ngắn, tỷ lệ sử dụng chỉ tơ nha khoa gần như không đáng kể.
  • Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe: So sánh giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng trước và sau chương trình cho thấy:
    • Điểm kiến thức chung, tỷ lệ trả lời đúng về chăm sóc răng miệng tăng lên rõ rệt ở nhóm can thiệp.
    • Điểm thái độ tích cực trong việc chủ động bảo vệ răng miệng và tiếp nhận thông tin y tế được cải thiện có ý nghĩa thống kê.
    • Tỷ lệ thực hành chải răng đúng cách, chải răng $\ge 2$ lần/ngày và súc miệng sau ăn tăng cao ở nhóm can thiệp.
    • Về mặt lâm sàng: Giảm tỷ lệ chỉ số lợi (GI) mức độ kém, cải thiện rõ rệt chỉ số vệ sinh răng miệng (OHI-S) từ mức kém về mức trung bình và tốt, giảm tỷ lệ người có túi lợi bệnh lý CPI mã 3 và giảm số vùng lục phân mắc bệnh quanh răng so với nhóm chứng.
  • Kết quả nghiên cứu định tính: Các trích dẫn thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu khẳng định chương trình can thiệp phù hợp với tập quán sinh hoạt của người Sán Dìu, nâng cao nhận thức của cộng đồng và cán bộ y tế cơ sở.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, lý giải các kết quả nghiên cứu và so sánh với các công trình trong và ngoài nước:

  • Bàn luận về đặc điểm nhân khẩu học và tỷ lệ mắc bệnh quanh răng cao ở người cao tuổi Sán Dìu, lý giải nguyên nhân xuất phát từ quá trình lão hóa tổ chức quanh răng kết hợp với điều kiện sống miền núi, kinh tế thuần nông và thói quen sinh hoạt truyền thống.
  • So sánh các chỉ số GI, OHI-S, CPI và số vùng lục phân bệnh lý với các nghiên cứu của Lưu Hồng Hạnh tại Hà Nội, Trần Văn Dũng tại Thừa Thiên Huế, Lê Nguyễn Bá Thụ tại Đắk Lắk, cũng như các nghiên cứu quốc tế của Hirotomi (Nhật Bản), Ajwani (Phần Lan), NHANES (Hoa Kỳ).
  • Bàn luận về thực trạng hạn chế trong kiến thức, thái độ, thực hành của người cao tuổi trước can thiệp; phân tích các rào cản theo Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM) như khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông, chi phí điều trị và sự thiếu hụt trang thiết bị nha khoa tại trạm y tế xã.
  • Bàn luận về tính khả thi và hiệu quả của mô hình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe: Việc lồng ghép hoạt động truyền thông thông qua mạng lưới y tế thôn bản, nhà văn hóa xóm và các chi hội Người cao tuổi đã phát huy vai trò của những người già có uy tín trong làng xóm người Sán Dìu, tạo động lực thay đổi hành vi vệ sinh răng miệng bền vững tại cộng đồng.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Luận án cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học toàn diện, có giá trị khoa học về thực trạng bệnh lý quanh răng (thông qua các chỉ số GI, OHI-S, CPI và số vùng lục phân) trên quần thể người cao tuổi dân tộc thiểu số Sán Dìu tại khu vực trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam.
  2. Ứng dụng thành công Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM) và lý thuyết hành vi của Bandura vào việc phân tích các yếu tố thúc đẩy, rào cản và hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng trong bối cảnh văn hóa đặc thù của đồng bào dân tộc Sán Dìu.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Chứng minh tính hiệu quả và khả thi của mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng dựa vào cộng đồng trong việc cải thiện rõ rệt kiến thức, thái độ, hành vi tự chăm sóc và giảm thiểu các chỉ số bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi.
  2. Xây dựng tài liệu và phương pháp truyền thông can thiệp phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, tâm lý và tập quán sinh hoạt của người dân tộc thiểu số tại tuyến cơ sở.
  3. Đề xuất giải pháp huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội tại địa phương (Hội Người cao tuổi, người có uy tín trong xóm làng) kết hợp cùng mạng lưới Y tế thôn bản và Trạm Y tế xã trong công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng ban đầu.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với hệ thống y tế cơ sở: Cần đầu tư bổ sung trang thiết bị, phương tiện khám nha khoa cơ bản và đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn chăm sóc sức khỏe răng miệng cho cán bộ Trạm Y tế xã và nhân viên y tế thôn bản.
  • Đối với công tác truyền thông: Duy trì và nhân rộng mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng định kỳ tại các nhà văn hóa xóm, phát huy vai trò nòng cốt của Hội Người cao tuổi và các già làng, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số.
  • Đối với chính sách y tế công cộng: Đưa chương trình kiểm soát bệnh quanh răng và chăm sóc sức khỏe răng miệng người cao tuổi vào kế hoạch hành động chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các xã vùng khó khăn, khu vực miền núi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại một địa bàn đại diện (xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên), do đó một số đặc điểm kinh tế - xã hội có thể mang tính đặc thù của địa phương.
  • Nghiên cứu loại trừ các đối tượng mất răng toàn bộ, người mắc bệnh mạn tính nặng nằm liệt giường hoặc câm điếc, nên bức tranh dịch tễ chưa bao quát toàn bộ nhóm người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt này.
  • Thời gian theo dõi đánh giá hiệu quả can thiệp chủ yếu tập trung vào giai đoạn can thiệp ngắn và trung hạn, cần thêm thời gian để đánh giá tính duy trì bền vững của hành vi trong dài hạn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số khác tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc (như Tày, Nùng, Dao, Mông) để so sánh các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng.
  • Nghiên cứu sâu hơn về mối liên quan hai chiều giữa bệnh quanh răng với các bệnh mạn tính không lây (đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp) trên người cao tuổi vùng dân tộc thiểu số.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế y tế của mô hình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe kết hợp điều trị dự phòng cấp II (lấy cao răng định kỳ) tại tuyến y tế cơ sở.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, Răng Hàm Mặt, Y học dự phòng: Cung cấp phương pháp luận chặt chẽ trong việc kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, cách thức sử dụng cây thăm dò WHO, tính toán các chỉ số GI, OHI-S, CPI và ứng dụng mô hình HBM trong y tế công cộng.
  • Giảng viên và cán bộ nghiên cứu y sinh học: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng về dịch tễ học bệnh răng miệng người cao tuổi và các dẫn chứng y văn quốc tế - trong nước có liên quan.
  • Cán bộ quản lý y tế và người làm chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học thực tế để xây dựng các chương trình can thiệp sức khỏe cộng đồng, chính sách y tế dự phòng và phân bổ nguồn lực chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Cán bộ Trạm Y tế xã và Y tế thôn bản: Cung cấp quy trình, nội dung và kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe răng miệng phù hợp với văn hóa làng xóm nông thôn miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết vấn đề cốt lõi nào trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi?

Luận án giải quyết thực trạng tỷ lệ mắc bệnh quanh răng cao nhưng kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc răng miệng còn rất hạn chế ở người cao tuổi dân tộc Sán Dìu tại vùng nông thôn miền núi (xã Nam Hòa, Đồng Hỷ, Thái Nguyên); đồng thời đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe tại tuyến cơ sở.

2. Khung lý thuyết hành vi nào được tác giả ứng dụng để thiết kế chương trình can thiệp?

Tác giả ứng dụng Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model - HBM) kết hợp với lý thuyết về sự tự tin (Self-efficacy) của Bandura (1977). Mô hình phân tích nhận thức của người cao tuổi về nguy cơ, mức độ nghiêm trọng của bệnh quanh răng, lợi ích của việc vệ sinh răng miệng, các rào cản thực tế và các yếu tố thúc đẩy hành động từ gia đình, cộng đồng và nhân viên y tế.

3. Những công cụ và chỉ số lâm sàng nào được sử dụng để đánh giá tình trạng quanh răng?

Nghiên cứu sử dụng cây thăm dò quanh răng chuẩn của WHO (đầu bi 0,5 mm có vạch chia), ghế và thiết bị nha khoa di động để đánh giá 3 chỉ số lâm sàng chính:

  • Chỉ số lợi (GI): Đánh giá mức