Tổng quan luận án

Tình trạng kháng kháng sinh hiện nay đang là mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh y tế toàn cầu. Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ gia tăng tiêu thụ kháng sinh hàng đầu thế giới và đang đối mặt với sự lan rộng của các chủng vi khuẩn kháng đa thuốc trong bệnh viện cũng như ngoài cộng đồng. Cơ sở bán lẻ thuốc (bao gồm nhà thuốc và quầy thuốc) là kênh tiếp cận y tế đầu tiên của 65% đến 80% người dân khi có vấn đề về sức khỏe. Tuy nhiên, hoạt động cung ứng thuốc tại các cơ sở này đang tồn tại bất cập lớn khi tình trạng bán kháng sinh không có đơn diễn ra phổ biến. Khảo sát tại Hà Nội năm 2011 ghi nhận tỷ lệ bán kháng sinh không có đơn lên tới 88% ở khu vực thành thị và 91% ở khu vực nông thôn. Mặc dù Việt Nam đã hoàn thành lộ trình thực hiện Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc (GPP), các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả điều kiện cơ sở vật chất, hồ sơ sổ sách hoặc khảo sát kỹ năng tại một địa phương đơn lẻ mà chưa đánh giá toàn diện kiến thức, thái độ của người bán lẻ thuốc (NBT) cũng như chưa lượng hóa các yếu tố tác động đến hành vi bán kháng sinh không đơn.

Luận án tiến sĩ dược học chuyên ngành Tổ chức quản lý dược của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Thúy, bảo vệ năm 2021 tại Trường Đại học Dược Hà Nội dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Xuân Thắng và PGS. Nguyễn Hoàng Anh, được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu nêu trên với hai mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người bán thuốc đối với hoạt động bán kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam giai đoạn 2017-2018.
  2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: nhà thuốc và quầy thuốc đạt chuẩn GPP; người bán lẻ thuốc trực tiếp bán thuốc tại cơ sở; khách hàng đến mua thuốc kháng sinh; cán bộ quản lý dược tại Sở Y tế và Phòng Y tế. Phạm vi nghiên cứu về không gian được triển khai tại 9 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng kinh tế của Việt Nam (gồm 4 thành phố trực thuộc trung ương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ; 5 tỉnh: Phú Thọ, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Bình Dương, Kiên Giang). Thời gian thu thập dữ liệu thực địa diễn ra từ tháng 3/2017 đến tháng 3/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử các quy định quản lý bán kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc ở Việt Nam qua các thời kỳ:

  • Giai đoạn trước năm 2003: Theo Quyết định số 47/1995/QĐ-BYT, một số kháng sinh uống thông thường được bán lẻ không cần đơn (amoxicillin, ampicillin, erythromycin, penicillin V, chloramphenicol, tetracyclin, sulfamid, cotrimoxazol).
  • Giai đoạn 2003–2008: Quyết định số 1847/2003/QĐ-BYT và Luật Dược số 34/2005/QH11 quy định tất cả kháng sinh là thuốc kê đơn và nghiêm cấm hành vi bán lẻ thuốc kê đơn khi không có đơn. Nghị định số 45/2005/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này. Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT ban hành quy chế kê đơn gồm 30 nhóm thuốc.
  • Giai đoạn 2009 đến nay: Thông tư số 08/2009/TT-BYT ban hành danh mục thuốc không kê đơn. Nghị định số 176/2013/NĐ-CP điều chỉnh mức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đến 500.000 đồng đối với hành vi bán lẻ thuốc kê đơn không có đơn. Luật Dược số 105/2016/QH13 đưa một số kháng sinh vào danh mục kiểm soát đặc biệt (ciprofloxacin, levofloxacin, ofloxacin, moxifloxacin, metronidazol, nadifloxacin) hoặc danh mục thuốc độc (colistin). Thông tư số 52/2017/TT-BYT quy định cơ sở bán lẻ thuốc phải lưu đơn thuốc kháng sinh trong 1 năm. Thông tư số 02/2018/TT-BYT ban hành quy chuẩn GPP mới.

Về y văn quốc tế, luận án đã tổng quan 46 công trình công bố trên cơ sở dữ liệu PubMed/Medline đến năm 2017 tại 27 quốc gia, xác định tỷ lệ gộp bán kháng sinh không đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc trên thế giới là 62,1% (95%CI: 54,1-70,1%). Phân tích hồi quy meta-regression cho thấy phương pháp thu thập dữ liệu và vùng địa lý giải thích 83,9% sự biến thiên của tỷ lệ bán kháng sinh không đơn ($R^2=83,9%$, $p=0,049$). Các vùng Trung Đông, Đông Nam Phi và Nam Âu có tỷ lệ bán kháng sinh không đơn thấp hơn Đông Nam Á từ 20,3% đến 33,0% ($p<0,005$). Tổng quan phân tích gộp của Auta và cộng sự trên 38 nghiên cứu cho thấy NBT hỏi tiền sử dị ứng đạt 32%, hỏi thuốc đang dùng đạt 12%, tư vấn liều dùng đạt 73%, tư vấn thời gian điều trị đạt 49% và tỷ lệ khuyên khám bác sĩ chỉ đạt 21%.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Mattias Larson và cộng sự (2001) tại Ba Vì ghi nhận 78% kháng sinh dùng cho trẻ em không qua khám bác sĩ và 20% NBT bán kháng sinh cho trường hợp cảm lạnh thể nhẹ. Nguyễn Quỳnh Hoa và cộng sự (2011) theo dõi 818 trẻ tại Ba Vì cho thấy 62% trẻ dùng kháng sinh với 64% đợt dùng là lạm dụng trong viêm hô hấp cấp tính (ARI) do virus, thời gian dùng trung bình chỉ 3,54 ngày. Đỗ Thị Thúy Nga và cộng sự (2014) khảo sát 30 nhà thuốc tại Hà Nội ghi nhận các yếu tố ảnh hưởng gồm: lo sợ mất khách hàng (83,3%), áp lực từ người bệnh (54,7%), thiếu kiến thức (24%) và thói quen kê đơn của bác sĩ (69% ở thành thị). Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là đánh giá đồng bộ cả ba cấu phần kiến thức - thái độ - thực hành trên quy mô đa vùng miền và áp dụng khung lý thuyết hành vi có dự định để mô hình hóa các yếu tố quyết định hành vi bán kháng sinh không đơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp mô hình Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) và Lý thuyết hành vi có dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Icek Ajzen (1991). Mô hình TPB giả định hành vi bán kháng sinh không đơn chịu sự chi phối trực tiếp của Ý định thực hiện hành vi, vốn được quyết định bởi ba nhóm yếu tố: Thái độ hướng đến hành vi (niềm tin về lợi ích điều trị, lợi nhuận kinh doanh), Chuẩn chủ quan (áp lực từ kỳ vọng của khách hàng, hành vi của đồng nghiệp, thực hành kê đơn của bác sĩ) và Nhận thức kiểm soát hành vi (năng lực chuyên môn tự nhận thức, sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý, áp lực cạnh tranh thị trường).

[Mô hình TPB ứng dụng trong luận án]
+ Thái độ hướng đến hành vi (Lợi ích, kinh tế)
+ Chuẩn chủ quan (Khách hàng, đồng nghiệp, bác sĩ)   --> [Ý định hành vi] --> [Thực hành bán KSKĐ]
+ Nhận thức kiểm soát (Năng lực, cơ chế giám sát)

Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Cỡ mẫu định lượng được tính toán bằng phần mềm xác định cỡ mẫu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO sample size determination in health studies) theo công thức ước tính tỷ lệ quần thể:

$$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{(p\cdot\epsilon)^2}$$

Với độ chính xác tương đối $\epsilon = 0,05$, tỷ lệ ước tính $p = 0,90$ (dựa trên nghiên cứu tại Hà Nội năm 2011), mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$, cỡ mẫu cơ sở là 171 cơ sở. Áp dụng hệ số thiết kế $DEFF = 2,0$ cho kỹ thuật chọn mẫu phân tầng nhiều giai đoạn và cộng thêm 5% dự phòng sai số, cỡ mẫu quy định là 360 cơ sở bán lẻ thuốc (phân bổ đều tại 9 tỉnh/thành phố, mỗi địa phương khảo sát 40 cơ sở gồm 20 nhà thuốc tại đô thị và 20 quầy thuốc tại nông thôn).

Phương pháp Đối tượng Công cụ thu thập Nội dung đo lường
Định lượng (Khảo sát) 360 NBT Bộ câu hỏi cấu trúc (thang Likert 5 điểm) Kiến thức quy định, nguyên tắc sử dụng, nguy cơ kháng thuốc; thái độ và thang đo TPB
Định lượng (ĐVKH) 360 CSBLT Kịch bản đóng vai chuẩn hóa (ARI trẻ em) Thực hành bán thuốc thực tế, tỷ lệ bán KSKĐ, khai thác thông tin, tư vấn sử dụng
Định lượng (Khách hàng) Khách hàng mua thuốc Bộ câu hỏi cấu trúc Lý do không khám bệnh, triệu chứng, nhận thức về kháng sinh
Định tính (Phỏng vấn sâu) NBT & Cán bộ quản lý Hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc Rào cản tuân thủ quy chế, khó khăn trong quản lý, áp lực cạnh tranh thực tế

Dữ liệu định lượng được làm sạch bằng phần mềm Microsoft Excel và phân tích bằng phần mềm SPSS. Thang đo được kiểm định độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Các mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và hồi quy logistic đa biến được thiết lập để xác định mức độ tác động của từng nhóm nhân tố đến ý định và hành vi bán kháng sinh không đơn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở pháp lý, y văn quốc tế và trong nước về quản lý cơ sở bán lẻ thuốc và sử dụng kháng sinh trong cộng đồng:

  • Tổng quan các nguyên tắc sử dụng kháng sinh theo Dược thư quốc gia Việt Nam và Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015: chỉ dùng khi có nhiễm khuẩn, lựa chọn kháng sinh đúng phổ, đúng liều lượng, đủ thời gian đợt điều trị (thông thường 7-10 ngày đối với nhiễm khuẩn nhẹ và vừa), chú ý cảnh giác phản ứng có hại nghiêm trọng (như hội chứng Stevens-Johnson, Lyell).
  • Phân tích nguyên tắc tư vấn kháng sinh theo quy tắc ghi nhớ FRAIS (Finish course, Regular intervals, After/with/before food, Interactions, Side effects).
  • Đánh giá sự phát triển mạng lưới cơ sở bán lẻ thuốc tại Việt Nam giai đoạn 2012-2017: số lượng tăng từ 39.867 lên 61.032 cơ sở (mức tăng trưởng 158,2%), mật độ phục vụ đạt mức 1.514 dân/cơ sở năm 2018 (cao hơn khuyến cáo 2.000 dân/cơ sở của WHO). Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tập trung 13.114 cơ sở, chiếm 21,2% tổng số cả nước.
  • Điểm lại các nghiên cứu ứng dụng TPB của Saengcharoen và cộng sự (2008) tại Thái Lan ($n=656$), Mohamed Ezzat Khamis Amin (2016, 2017) tại Ai Cập, Walker Anne và cộng sự (2004) tại Scotland và Kathleen E. Herbert (2006) tại Mỹ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thiết kế công cụ, tổ chức thu thập dữ liệu và kỹ thuật phân tích:

  • Trình bày quy trình chọn mẫu phân tầng nhiều giai đoạn tại 9 tỉnh/thành phố đại diện 6 vùng kinh tế: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Phú Thọ, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Bình Dương, Kiên Giang. Tại mỗi tỉnh, chọn ngẫu nhiên 20 nhà thuốc ở thành thị và 20 quầy thuốc ở nông thôn từ danh bạ quản lý của Sở Y tế.
  • Thiết kế 2 kịch bản đóng vai khách hàng (Simulated Client Method - ĐVKH) chuẩn hóa trong tình huống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính thể nhẹ (ARI) ở trẻ em để ghi nhận thực hành tự nhiên của NBT, khắc phục sai số quan sát (hiệu ứng Hawthorne) và sai số nhớ lại.
  • Xây dựng hệ thống biến số định lượng đo lường kiến thức, thái độ và thang đo các biến số tiềm ẩn của mô hình TPB; bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu dành cho NBT và cán bộ quản lý thuộc Sở Y tế, Phòng Y tế.
  • Trình bày các biện pháp kiểm soát sai số, chuẩn hóa nghiên cứu viên đóng vai và quy trình bảo đảm đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện định lượng và định tính từ khảo sát 360 cơ sở bán lẻ thuốc:

Nội dung khảo sát Chỉ số / Phát hiện chính Giá trị thống kê
Kiến thức của NBT Hiểu đúng kháng sinh là thuốc kê đơn Tỷ lệ cao theo tự báo cáo
Nhầm lẫn kháng sinh có tác dụng điều trị virus / cảm cúm Tồn tại ở một bộ phận NBT
Yếu tố liên quan đến điểm kiến thức Trình độ đại học và thạc sĩ có điểm kiến thức cao hơn trung cấp ($p<0,05$)
Thái độ của NBT Thừa nhận vai trò của NBT trong kiểm soát kháng thuốc Đa số đồng thuận cao
Nhận thức bán KSKĐ làm gia tăng kháng thuốc trong cộng đồng Tỷ lệ đồng ý chiếm đa số
Thực hành qua ĐVKH Tỷ lệ bán KSKĐ trong tình huống đóng vai ARI trẻ em Tỷ lệ bán KSKĐ rất cao tại cả nhà thuốc và quầy thuốc
Loại kháng sinh bán phổ biến nhất Nhóm Beta-lactam (Amoxicillin, Cefalexin, Amoxicillin/Acid clavulanic)
Thời gian đợt điều trị kháng sinh được bán Đa số bán dưới 5 ngày (phổ biến 2-3 ngày)
Khai thác tiền sử dị ứng thuốc trước khi bán Tỷ lệ hỏi rất thấp
Tư vấn đầy đủ thông tin thuốc (tác dụng phụ, tương tác) Tỷ lệ tư vấn rất hạn chế

Kết quả phân tích hồi quy đa biến mô hình TPB xác định các yếu tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến hành vi bán kháng sinh không đơn của NBT:

  • Thái độ đối với hành vi: Niềm tin cho rằng việc bán kháng sinh giúp người bệnh nhanh hết triệu chứng và giữ chân khách hàng tác động thuận chiều đến ý định bán thuốc.
  • Chuẩn chủ quan: Áp lực từ đòi hỏi trực tiếp của người mua thuốc và thói quen bán không đơn của các cơ sở lân cận thúc đẩy NBT thực hiện hành vi.
  • Nhận thức kiểm soát hành vi: Sự thiếu hụt kiểm tra, xử phạt thường xuyên từ cơ quan quản lý y tế địa phương làm suy giảm khả năng kiểm soát việc tuân thủ quy chế bán thuốc kê đơn.
  • Phía khách hàng: Lý do chính tìm đến cơ sở bán lẻ thuốc thay vì đi khám bác sĩ là tiết kiệm thời gian, thủ tục khám chữa bệnh phức tạp và chi phí khám bệnh cao khi mắc các triệu chứng nhẹ.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích sâu các phát hiện nghiên cứu và đối chiếu với y văn:

  • Phân tích "khoảng cách" (gap) giữa nhận thức, thái độ và thực hành thực tế của NBT: Mặc dù NBT đạt điểm kiến thức và thái độ tương đối tốt trên bảng hỏi lý thuyết, thực hành đóng vai khách hàng lại ghi nhận tỷ lệ vi phạm quy chế bán thuốc kê đơn ở mức rất cao. Điều này chứng minh kiến thức là điều kiện cần nhưng không đủ để quyết định hành vi chuyên môn chuẩn mực.
  • Đánh giá độ phù hợp của thang đo TPB trong bối cảnh phân phối dược phẩm bán lẻ tại Việt Nam: Kết quả phân tích nhân tố EFA và hồi quy khẳng định mô hình TPB giải thích tốt hành vi của NBT khi bổ sung các biến số đặc thù về áp lực kinh tế và sự lỏng lẻo trong giám sát thực thi pháp luật.
  • So sánh kết quả thực hành tại Hà Nội giữa năm 2001 và 2017: Xu hướng sử dụng kháng sinh phổ rộng thế hệ mới (như Cephalosporin thế hệ 2, thế hệ 3, Macrolid mới) thay thế dần cho các kháng sinh cổ điển (Penicillin V, Ampicillin) khi bán không đơn trong các bệnh cảnh hô hấp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn quản lý:

  1. Đóng góp về mặt lý luận: Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng kết hợp mô hình KAP và Lý thuyết hành vi có dự định (TPB) của Ajzen để nghiên cứu hành vi bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc. Luận án đã xây dựng, chuẩn hóa và kiểm định độ tin cậy của bộ công cụ đo lường các yếu tố tâm lý - xã hội chi phối hành vi chuyên môn của NBT trong bối cảnh thị trường dược phẩm Việt Nam.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện, đa vùng miền (khảo sát trên 360 cơ sở bán lẻ thuốc tại 9 tỉnh, thành phố) về thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành bán kháng sinh trên cả 2 loại hình nhà thuốc và quầy thuốc.
    • Làm sáng tỏ nghịch lý giữa mức độ hiểu biết lý thuyết và hành vi thực tế thông qua phương pháp đóng vai khách hàng, chứng minh tỷ lệ bán kháng sinh không đơn vẫn ở mức báo động kèm theo tình trạng cấp phát liều lượng ngắn ngày không đúng hướng dẫn điều trị.
    • Xác định rõ ràng các rào cản mang tính hệ thống: áp lực cạnh tranh thương mại, đòi hỏi từ người tiêu dùng, thói quen tự điều trị của cộng đồng và sự thiếu hụt chế tài giám sát thực thi hiệu quả tại tuyến cơ sở.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Về phía cơ quan quản lý dược và y tế: Hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường kiểm tra, hậu kiểm việc thực hiện quy chế bán thuốc kê đơn; đẩy mạnh triển khai hệ thống phần mềm kết nối liên thông dữ liệu cơ sở bán lẻ thuốc toàn quốc và quản lý đơn thuốc điện tử; nâng cao chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi bán thuốc kê đơn không có đơn.
  • Về phía đào tạo và thực hành nghề nghiệp: Đổi mới chương trình đào tạo liên tục (CPE) cho người phụ trách chuyên môn và nhân viên bán thuốc, tập trung vào kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư vấn dùng thuốc an toàn và kỹ năng từ chối bán kháng sinh khi người bệnh chưa có chỉ định của bác sĩ.
  • Về phía truyền thông cộng đồng: Đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm thay đổi nhận thức của người dân về tác hại của việc lạm dụng kháng sinh và thói quen tự ý mua thuốc kháng sinh điều trị các bệnh do virus.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản, luận án có một số hạn chế:

  • Nghiên cứu được triển khai tại 9 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng kinh tế nhưng chưa thể bao phủ toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trên cả nước; quy mô mẫu khảo sát tại mỗi tỉnh là 40 cơ sở.
  • Phương pháp đóng vai khách hàng (ĐVKH) sử dụng kịch bản mô phỏng tập trung vào nhóm triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI) ở trẻ em, chưa bao quát hết tất cả các bệnh cảnh nhiễm khuẩn phổ biến khác trong cộng đồng (như nhiễm trùng tiêu hóa, tiết niệu, da và mô mềm).
  • Việc phỏng vấn khách hàng mua thuốc tại cửa hàng có thể chịu ảnh hưởng nhất định bởi sai số nhớ lại hoặc tâm lý e ngại khi cung cấp thông tin về thói quen tự điều trị.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:

  • Triển khai các nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng (thử nghiệm can thiệp đào tạo kết hợp ứng dụng phần mềm giám sát bán thuốc theo đơn) để đánh giá hiệu quả thay đổi hành vi thực hành của NBT.
  • Mở rộng đánh giá tác động dài hạn của các quy định pháp luật mới (như việc áp dụng chuẩn GPP theo Thông tư số 02/2018/TT-BYT và việc liên thông cơ sở dữ liệu dược quốc gia) đối với tỷ lệ bán kháng sinh không đơn tại các cơ sở bán lẻ thuốc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về y tế (Bộ Y tế, Cục Quản lý Dược, Sở Y tế các địa phương): Tham khảo các bằng chứng thực nghiệm về tỷ lệ bán kháng sinh không đơn, các điểm nghẽn trong công tác thanh tra, kiểm tra để xây dựng chính sách quản lý, hoàn thiện quy định lưu trữ đơn thuốc điện tử và thiết kế chế tài giám sát phù hợp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Dược học (Tổ chức quản lý dược, Dược lâm sàng, Dược xã hội học) và Y tế công cộng: Tham khảo khung phân tích lý thuyết hành vi có dự định (TPB) tích hợp với mô hình KAP, phương pháp thiết kế kịch bản đóng vai khách hàng bí mật (Simulated Client Method), bộ công cụ thang đo đã kiểm định độ tin cậy và kỹ thuật phân tích mô hình hồi quy đa biến.
  • Người hành nghề dược và chủ cơ sở bán lẻ thuốc: Tham khảo các số liệu thực trạng, phân tích về nguy cơ dùng sai kháng sinh và nguyên tắc tư vấn chuyên môn (FRAIS) nhằm chuẩn hóa quy trình bán thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ bán kháng sinh không có đơn trên thế giới và tại Việt Nam được tổng quan trong luận án là bao nhiêu? Theo tổng quan hệ thống 46 công trình tại 27 quốc gia trên PubMed đến năm 2017, tỷ lệ bán kháng sinh không đơn trung bình toàn cầu là 62,1% (95%CI: 54,1-70,1%). Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2011 tại Hà Nội ghi nhận tỷ lệ này là 88% ở thành thị và 91% ở nông thôn; kết quả khảo sát thực tế qua đóng vai khách hàng trong luận án tiếp tục ghi nhận tỷ lệ bán không đơn ở mức rất cao trong tình huống nhiễm trùng hô hấp cấp thể nhẹ ở trẻ em.

2. Phương pháp nào được luận án xác định là mang lại độ tin cậy cao nhất khi đánh giá thực hành bán thuốc của NBT? Luận án chỉ ra phương pháp quan sát bí mật thông qua kỹ thuật đóng vai khách hàng (Simulated Client Method - ĐVKH) có tính giá trị và độ tin cậy cao nhất, không bị ảnh hưởng bởi sai số nhớ lại và loại trừ được hiệu ứng Hawthorne (sự thay đổi hành vi của đối tượng khi biết mình đang bị quan sát công khai).

3. Khung lý thuyết hành vi có dự định (TPB) của Ajzen được ứng dụng như thế nào trong luận án? Luận án ứng dụng mô hình TPB để giải thích hành vi bán kháng sinh không đơn của NBT thông qua ba nhóm cấu phần: Thái độ hướng đến hành vi (niềm tin về hiệu quả điều trị và lợi ích doanh thu), Chuẩn chủ quan (áp lực từ người mua thuốc, sự cạnh tranh của nhà thuốc khác và thói quen kê đơn của bác sĩ) và Nhận thức kiểm soát hành vi (năng lực tự kiểm soát và sự giám sát, xử phạt từ cơ quan quản lý).

4. Cỡ mẫu và cách thức phân bổ mẫu nghiên cứu định lượng được thiết kế ra sao? Nghiên cứu sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính tỷ lệ tương đối của WHO, lấy $p = 0,90$, sai số tương đối $\epsilon = 0,05$, hệ số thiết kế $DEFF = 2,0$ và lấy dư 5%, cho cỡ mẫu chuẩn là 360 cơ sở bán lẻ thuốc. Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng nhiều giai đoạn tại 9 tỉnh/thành phố (mỗi địa phương 40 cơ sở, gồm 20 nhà thuốc ở thành thị và 20 quầy thuốc ở nông thôn).

5. Những nguyên nhân chính nào từ phía khách hàng dẫn đến việc mua kháng sinh không đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc? Theo kết quả khảo sát khách hàng trong luận án, các lý do chính khiến người dân mua thuốc trực tiếp mà không đi khám bác sĩ gồm có: ngại mất thời gian chờ đợi tại bệnh viện, thủ tục khám chữa bệnh phức tạp, chi phí khám bệnh cao đối với các bệnh nhẹ và nhận thức hạn chế về việc kháng sinh có thể tự dùng cho các triệu chứng cảm ho thông thường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy đã đánh giá có hệ thống thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành bán kháng sinh của người bán lẻ thuốc tại 360 cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn 9 tỉnh, thành phố của Việt Nam giai đoạn 2017-2018. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và thực hành thực tế, đồng thời áp dụng thành công Lý thuyết hành vi có dự định (TPB) để định lượng các yếu tố tâm lý, thương mại và quản lý chi phối hành vi bán kháng sinh không đơn. Đây là công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng quan trọng phục vụ công tác hoạch định chính sách quản lý dược, kiểm soát kê đơn và đẩy mạnh chiến lược quốc gia về phòng chống kháng kháng sinh tại Việt Nam.