Chương 1- TỔNG QUAN 1. Một số đặc điểm dịch tễ của COVID-19: 1. Địa dư: Ca đầu tiên mắc COVID-19 được ghi nhận tại Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019. Tháng 1 năm 2020 ghi nhận các ca ở Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ, Việt Nam, Pháp.
sau đó lan ra toàn thế giới. Tính đến 17 tháng 6, 213 quốc gia và vùng lãnh thổ có dịch (4 vùng lãnh thổ thuộc Mỹ được tính vào Mỹ. Đỉnh dịch tại Trung Quốc trung tuần tháng 2 (ngày 12 tháng 2 là 14.108 ca, tử vong nhiều nhất ngày 23 tháng 2 với 150 ca). Tính đến hết năm 2020, Đã có gần 84 triệu ca toàn cầu, hơn 1,8 triệu ca tử vong trên tất cả các châu lục.
Mỹ đứng đầu số ca cũng lập kỷ lục tử vong vào 30 tháng 12 với 3.880 tử vong/ ngày. Dịch bệnh tăng nhanh tại nhiều nước khác như Brazil, Anh, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Đức, Ý, Pháp, Colombia, Hà Lan, Nam Phi, Mexico, Ukraina, Tây Ban Nha, Ba Lan (trên 100. [9] Tính đến hết năm 2021, dịch tăng nhanh ở Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Ailen. ở châu Âu, Mỹ, Canada, Argentina.
ở châu Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ,. ở châu Á, Úc ở châu Đại Dương. Việt Nam ghi nhận vào ngày 21 tháng 12 một người từ Anh về Việt Nam nhiễm biến chủng Omicron (B. Đây là ca đầu tiên biến chủng mới ở Việt Nam.
Cho đến hai tháng đầu năm 2022 dịch bệnh tiếp tục rất nghiêm trọng trên quy mô toàn thế giới. Thống kê chưa đầy đủ đã có gần 440 triệu ca nhiễm và gần 6 triệu tử vong. Con số tử vong theo WHO có thể cao gấp 2-3 lần. Đến cuối tháng 2 dịch giảm ở nhiều nơi, bao gồm nhiều nước châu Âu và châu Mỹ, Trung, Nam và Tây Á, và vẫn được cho là ít nghiêm trọng ở hầu hết châu Phi.
Tuy nhiên dịch vẫn nghiêm trọng và lây lan nhanh ở nhiều nước châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt như Việt Nam (một số ngày trên 100.000 ca nhiễm cộng dồn, cao hàng top đầu thế giới, lan rộng khắp miền bắc.) và các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Brunei, New Zealand, Úc,. Còn Trung Quốc vẫn khống chế dịch tốt và một số nước Đông Nam Á dịch đã giảm sâu. 1 Luan van Tính đến hết tháng 3 năm 2022 dịch đã lan tới 225 quốc gia và vùng lãnh thổ (trong số này chỉ có 8 nước/vùng chưa ghi nhận tử vong). Theo khu vực, châu Âu là khu vực có số ca nhiễm cao nhất, tiếp theo là châu Á.
Mỹ vẫn đứng đầu về số ca nhiễm và số ca tử vong (tử vong vượt 1 triệu). Tính đến hết tháng 4 năm 2022, thống kê chưa đầy đủ, thế giới đã có trên 513 triệu ca nhiễm và trên 6,2 triệu tử vong. Đến cuối tháng 4 năm 2022 số ca nhiễm và tử vong có xu hướng giảm trên toàn cầu, tuy nhiên một số nước như Trung Quốc hay Đài Loan lại có xu hướng nghiêm trọng hơn trước. Việt Nam xếp 12 thế giới về ca nhiễm và 24 thế giới về tử vong.[9] Tại Việt Nam, vào ngày 23/01/2020 ghi nhận 02 trường hợp đầu tiên nghi ngờ nhiễm COVID-19 nhập cảnh từ Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc, có biểu hiện triệu chứng bệnh được ghi nhân, và có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID-19.
Kể từ đầu dịch đến nay Việt Nam có 10.692 ca nhiễm, đứng thứ 12/227 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 110/227 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân 101.849 ca/ 1 triệu người). [43] 2 Luan van Hình 1. Bản đồ số ca mắc COVID-19 trên toàn thế giới [51] Hình 1. Bản đồ số ca tử vong vì COVID-19 trên toàn thế giới [51] Theo báo cáo của WHO trên toàn cầu, tính đến ngày 9 tháng 6 năm 2022, số ca mắc COVID-19 là 531.982 trường hợp tử vong [51].
3 Luan van Bảng 1. Ca nhiễm và tử vong vì COVID-19 theo khu vực tính đến 29/05/2022[9]. Tỉ lệ ca Tỉ lệ ca mắc Tỉ lệ tiêm ít Tổng số tử vong Tổng số trên nhất một Khu vực ca tử trên một ca một liều vong triệu triệu vaccine % dân dân Bắc Mỹ 87.281 2960 79,7 Liên minh Châu 141.709 2437 74,5 Âu và Vương quốc Anh Các quốc gia Châu 51.103 2050 60,3 Âu khác Trung Mỹ 9.7 Nga và Trung 22.822 892 50,6 Ca-ri-bê 2.234 330 66,4 Châu Đại Dương và các 29.646 454 68,6 đảo ở Đông Á Bắc Phi 3.310 409 38,9 Châu Phi cận 8.511 804 63,1 trung bình) 4 Luan van 1. Đặc điểm tuổi, giới tính của trẻ em mắc COVID-19 CDC Mỹ đã báo cáo có 2.572 (1,7%) trẻ em dưới 18 tuổi mắc COVID- 19 trong số 149.082 ca nhiễm từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 2 tháng 4 năm 2020.
Dữ liệu có sẵn hết sức hạn chế (dưới 10% dữ liệu có mô tả triệu chứng, 13% dữ liệu về các bệnh kèm, 33% đề cập liệu trẻ có phải nhập viện hay không). Ba trường hợp tử vong đã được báo cáo cho CDC nhưng không bao gồm các thông tin cụ thể. Độ tuổi trung bình là 11 và 57% là trẻ trai. 15 trẻ em phải chuyển vào ICU (≤2%).
Trẻ <1 tuổi chiếm tỷ lệ nhập viện cao nhất (15- 62%) [3]. Báo cáo từ CDC Trung Quốc bao gồm 2.143 trẻ em năm 2020 cho thấy chỉ có 731 trẻ em (34,1%) được xác nhận chẩn đoán bằng xét nghiệm. Độ tuổi trung bình là 7 với 56,6% bé trai, dưới 5% được phân loại là bệnh nặng và dưới 1% là nguy kịch[8]. Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Ngừa Bệnh Tật Hàn Quốc vào ngày 20 tháng 3 đã báo cáo rằng 6,3% trong tổng số các trường hợp mắc COVID-19 là trẻ em dưới 19 tuổi; bên cạnh đó, trẻ em được ghi nhận là chỉ mắc bệnh nhẹ [37].
Dữ liệu của Ý được công bố vào ngày 18 tháng 3 cho thấy chỉ có 1,2% là trẻ em trong tổng số 22.512 trường hợp mắc COVID-19; không có ca tử vong. Hệ thống giám sát Châu Âu (TESSy) thu thập dữ liệu từ các quốc gia Châu Âu và Vương quốc Anh về các ca nhiễm COVID-19 được xác nhận bởi phòng thí nghiệm.024 ca nhiễm COVID-19 được xác nhận bởi phòng thí nghiệm, 0.7% ca nhiễm từ 0-4 tuổi, 0. Sự lây truyền của COVID-19 ở trẻ em Tác giả Lu và Guo ở Trung Quốc cho rằng các trẻ em được chẩn đoán mắc COVID-19 đều có yếu tố gia đình chiếm tỉ lệ lần lượt là 71% và 66% [11, 25]. Tác giả Parri cho rằng nguồn lây gia đình của trẻ chiếm 55% các ca trẻ em [32].
Một phân tích tổng hợp của tác giả Kotlyar bao gồm 936 trẻ sơ sinh từ các bà mẹ có COVID-19 cho thấy khả năng lây truyền từ mẹ sang con là có thể xảy ra nhưng chỉ xảy ra trong một số ít trường hợp. COVID-19 ở phụ nữ mang thai có thể ảnh hưởng đến thai nhi, cụ thể là suy thai, nguy cơ sinh non hoặc suy hô hấp nếu người mẹ bị bệnh nặng. Đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy SARS-CoV-2 có thể truyền từ mẹ sang con. Xét nghiệm nước ối, máu dây rốn, phết họng ở trẻ sơ sinh đều cho kết quả âm tính trong một nghiên cứu đoàn hệ nhỏ [5].
Tác giả Schwartz đã đánh giá 5 bài báo từ Trung Quốc và xác định được 38 phụ nữ mang thai với 39 trẻ, trong đó có 30 trẻ được xét nghiệm COVID-19 và tất cả đều âm tính [39]. Lây truyền qua sữa mẹ chưa được ghi nhận và không có trường hợp nào phát hiện được virus SARS- CoV-2 trong sữa mẹ. SARS-CoV-2 ở trẻ em lây truyền qua các tiếp xúc với thành viên trong gia đình và chủ yếu qua các giọt bắn. Trong một nghiên cứu tại Pháp, bệnh lây truyền từ trẻ sang trẻ và từ trẻ sang người lớn dường như không phổ biến [5].
SARS-CoV-2 cũng có thể được truyền qua đường tiêu hóa. ACE2 cũng được tìm thấy trong các tế bào thực quản và biểu mô đường tiêu hóa trên cũng như các tế bào biểu mô ruột ở hồi tràng và đại tràng [41]. RNA của SARS- CoV-2 có thể được phát hiện trong phân của bệnh nhân [14]. Cai cho rằng RNA của virus được phát hiện ở phân của trẻ với tỉ lệ cao (và có thể được bài tiết 2-4 tuần) [16].
Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng trực tiếp ghi nhận về việc lây truyền qua đường phân-miệng. Đặc điểm vi sinh vật của SARS-CoV-2: Phân tích phát sinh loài cho thấy SARS-CoV-2 có liên quan chặt chẽ với hai coronavirus SARS có nguồn gốc từ dơi là dơi-SL-CoVZC45 và dơi- SL-CoVZXC21. Các cuộc điều tra dịch tễ học cho thấy các loài động vật khác nhau (dơi, tê tê, rắn) có thể là vật chủ trung gian tạo điều kiện cho sự lây lan của SARS-CoV-2 như một Betacoronavirus người khác biệt từ dơi sang quần thể người [1]. Phân họ Coronavirinae được chia thành bốn chi α, β, ϒ và δ.
Trong số này, hai chi α và β của Virus corona là gây ảnh hưởng đến quần thể người 6 Luan van [16]. Chi α chứa HCoV-229E (Human Coronavirus) và NL63, trong khi chi β bao gồm HKU1, 229E, OC43, MERS-CoV, SARS-CoV và SARS-CoV-2. Virus corona có cấu tạo các protein gai hình vương miện, có RNA sợi đơn, được báo cáo ở dạng đa nhân có kích thước 80–160 nm, có RNA không phân đoạn và có kích thước từ 26 đến 32 kb. Virus corona có cấu tạo chủ yếu với các thành phần sau: RNA sợi đơn, protein nucleocapsid, protein bao bọc, protein màng, protein gai [38].
Cấu trúc của virus SARS-CoV-2[38]. • Spike Protein (protein gai) tạo cấu trúc gai trên bề mặt của virus giúp gắn virus vào tế bào niêm mạc vật chủ. • Membran Protein (Protein màng) tạo hình cầu cho vi rút. • Envelope Protein (protein bao bọc) giúp vi rút xâm nhập vào tể bảo vật chủ.
• Nucleocapsid protein giúp đóng gói bộ gen virus. Giải trình tự gen cho thấy mức độ tương đồng với bộ gen SARS-CoV là 79,6% và tương đồng với chúng coronavirus phân lập từ dơi là 96%[38]. Trong phân tích phát sinh gen của 103 chủng SARS-CoV-2 từ Trung Quốc, hai loại SARS-CoV-2 khác nhau đã được xác định, loại L (chiếm 70% số chủng) và loại S (chiếm 30%). Loại L chiếm ưu thế trong những ngày đầu 7 Luan van của dịch ở Trung Quốc, nhưng chiếm tỷ lệ thấp hơn các chủng bên ngoài Vũ Hán.
Ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này là không chắc chắn [38]. Các biến thể của COVID-19: Dựa trên cập nhật dịch tễ học của WHO tính đến ngày 11 tháng 12 năm 2021, kể từ khi bắt đầu đại dịch đã xác định được 5 biến thể SARS-CoV-2 cần quan tâm: ● Alpha (B.