Chương 1: TỔNG QUAN 1. Một số định nghĩa và khái niệm 1. Huyết áp và Huyết áp động mạch * Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết làm máu lưu thông trong hệ tuần hoàn, đưa máu đến các mô trong cơ thể. Trong hệ mạch máu có huyết áp động mạch, huyết áp tĩnh mạch, huyết áp mao mạch.
Huyết áp động mạch gồm có: - Huyết áp tâm thu (còn gọi là huyết áp tối đa) là trị số huyết áp cao nhất đo được trong chu kỳ tim. Huyết áp tâm thu là áp lực của máu lên thành động mạch khi tim co (tim ở trạng thái co bóp). Huyết áp tâm thu thay đổi theo tuổi, giới, trạng thái hoạt động của cơ thể. Trị số bình thường ở người trưởng thành là 90 - 140 mmHg [9].
- Huyết áp tâm trương (còn gọi là huyết áp tối thiểu) là trị số huyết áp thấp nhất đo được trong chu kỳ tim, đo được lúc tim giãn (tâm trương), do lực đàn hồi của động mạch tác động lên máu trong động mạch. Huyết áp tâm trương thay đổi theo tình trạng của thành động mạch. Trị số bình thường dao động trong khoảng từ 50 đến 90 mmHg [9]. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), người được gọi là tăng huyết áp (THA) khi có một trong hai hoặc cả hai trị số tăng cao hơn giá trị bình thường: Huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương) ≥ 90 mmHg.
Trị số được tính trung bình cộng của ít nhất 2 lần đo liên tiếp với cách đo chuẩn [49]. Thang Long University Library 4 Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm tăng huyết áp của Tổ chức Y tế thế giới được trình bày ở trên. Khái niệm này cũng trùng hợp với khái niệm mà Bộ y tế và các chương trình y tế tại Việt Nam đang sử dụng [38]. Phân loại và các giai đoạn của THA Các giai đoạn của THA phân loại như sau: Bảng 1.
Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI Mức độ Tâm thu (mmHg) Tâm trương (mmHg) Tối ưu <120 <80 Bình thường <130 <85 Bình thường cao 130 – 139 85 – 89 THA giai đoạn I 140 – 159 90 – 99 THA giai đoạn II 160 – 179 100 – 109 THA giai đoạn III ≥180 ≥110 Nguồn : JNC VI [9] Với 2 lần đo, khi huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương cho các giá trị khác nhau thì mức độ tăng huyết áp được xác định ở kết quả đo cao nhất [9]. Đến năm 1999, để hòa hợp với phân loại của JNC VI, Hội tăng huyết áp thế giới ISH (Internationnal Society ofHypertension) đã đưa ra cách phân loại tăng huyết áp mới: dùng từ “độ” thay cho “ giai đoạn” vì từ giai đoạn chỉ sự tiến triển theo thời gian, do đó không phù hợp cho phân độ. Phân loại tăng huyết áp theo WHO/ISH 1999 Loại HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Tối ưu <120 <80 Bình thường <130 <85 5 Bình thường cao 130 – 139 85 – 89 THA độ I 140 – 159 90 – 99 THA độ II 160 – 179 100 – 109 THA độ III ≥180 ≥110 THATT đơn thuần ≥140 <90 Phân nhóm giới hạn 140 - 149 90 - 94 Phân nhóm giới hạn 140 - 145 <90 Nguồn WHO/ISH 1999 [21]. Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương cho các giá trị khác nhau thì loại tăng huyết áp được xác định ở kết quả đo cao nhất [9].
Ví dụ: Huyết áp đo được 160/92mmHg là THA độ II. Huyết áp đo được 170/120mmHg là THA độ III. * Cách phân loại tăng huyết áp ở Việt Nam [9]: Theo đề nghị của Phạm Gia Khải và các cộng sự thì ở Việt Nam cả hai cách đều có thể áp dụng và khi dùng cách nào chúng ta phải ghi rõ. Tuy nhiên JNC VI ngày càng có giá trị thực tế khi các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp đang gia tăng.
Xơ vữa động mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, tuổi đời kéo dài. và khả năng chẩn đoán các tổn thương ở các cơ quan đích, xác định các yếu tố nguy cơ được cải thiện hơn. Một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp Các bệnh không lây nhiễm thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển gọi là yếu tố liên quan (YTLQ). Theo Tổ chức Y tế thế giới, yếu tố liên quan là bất cứ thuộc tính, đặc điểm nào làm tăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm.
Các yếu tố liên quan của bệnh không lây nhiễm gồm: Hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học Thang Long University Library 6 [33]. Khi các cá thể phơi nhiễm với các YTLQ một thời gian dài (thường là hàng chục năm) sẽ dẫn tới nguy cơ trung gian hay còn gọi là tình trạng tiền bệnh. Nếu không có các giải pháp ngăn ngừa các nguy cơ trung gian mà vẫn tiếp tục phơi nhiễm với các YTLQ sẽ dẫn tới các BKLN như tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh phổi mạn tính. Và hậu quả tất yếu của những bệnh này là tử vong và tàn tật [34].
- Một số yếu tố hành vi lối sống Các YTLQ thuộc về hành vi lối sống vô cùng quan trọng trong BKLN. Một số nước, ví dụ như Nhật Bản gọi BKLN là những bệnh liên quan đến lối sống. Kiểm soát tốt các YTLQ này là cách hiệu quả nhất trong phòng bệnh BKLN. Theo WHO, 80% bệnh tim mạch, đái tháo đường có thể phòng được thông qua thực hiện lối sống lành mạnh loại bỏ các YTLQ hành vi [35].
Theo khảo sát quốc gia về các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam của Bùi Văn Tân và cộng sự năm 2016 cho thấy, tỷ lệ những người hút thuốc hiện tại (nam 57,7%, nữ 1,7 %), và người uống rượu (nam 25,11%, nữ 0,63%) và ở các khu vực có sự khác biệt về chế độ ăn uống, tỷ lệ dân số đô thị có chỉ số BMI trung bình cao hơn và tỷ lệ hoạt động thấp hơn[35]. Theo nghiên cứu của tác giả Hồng Mùng Hai (2014), các yếu tố như chỉ số khối lượng cơ thể, tỷ số vòng eo/vòng mông, béo bụng và ăn mặn đều có liên quan đến tăng huyết áp [25]. Tác giả Élodie Giroux (2013), thực hiện nghiên cứu Framingham về tim (được gọi tắt là nghiên cứu Framingham), là một nghiên cứu dài hạn về hệ tim mạch tiến hành trên các cư dân thị trấn Framingham, bang Massachusetts, Mỹ. Kết quả tìm thấy từ nghiên cứu Bramingham đã giúp xác định được các 06 yếu tố liên quan chính của các bệnh tim mạch, bao gồm: Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, béo phì, đái tháo đường và lối sống ít vận động.
Tại Trung Quốc có một nghiên cứu thuần tập trên quy mô lớn (Chinese Multi-provincial Cohort Study - CMCS) thực hiện trên 16.552 người sống ở 11 tỉnh và 3.118 người sống ở Bắc Ninh, tuổi từ 5 đến 64, không có bệnh 13 mạch vành, được theo dõi từ 1992 đến 2002. Vào lúc kết 7 thúc nghiên cứu có 191 ca mắc bệnh mạch vành và 625 ca chết [36]. Nghiên cứu dịch tễ học tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch tại Việt Nam (2001 - 2009) của tác giả Nguyễn Lân Việt cho thấy, các yếu tố nguy cơ tim mạch chính khá phổ biến trong cộng đồng người trưởng thành ở Việt Nam, đa số các yếu tố nguy cơ này là đi với nhau thành chùm. Do đó, việc kiểm soát từng yếu tố nguy cơ riêng rẽ sẽ thu được lợi ích không nhiều so với việc can thiệp tác động đồng thời lên nhiều yếu tố nguy cơ.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối tương quan “kiểu chữ U” giữa số huyết áp và BMI, điều này cho thấy gánh nặng THA khá nổi cộm ngay cả trên người gầy, đối tượng thường bị xem nhẹ trong các chương trình bệnh lý tim mạch. Đỗ Thái Hoà và cộng sự, nghiên cứu trên 1.200 đối tượng trung niên (40 - 59 tuổi), thuộc 4 xã thuần nông của huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu xác định được mối liên quan giữa tỷ lệ tăng huyết áp và nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, chỉ số BMI, số đo vòng mông với các OR từ 1,84 - 2,24, p< 0,05 [26]. Hút thuốc (lá, lào): Những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh mạch vành gấp 2 - 4 lần và tử vong nhiều hơn khoảng 70% do bệnh này.
Tác giả Aurelio Leone nghiên cứu về hút thuốc và tăng huyết áp, cho thấy có bằng chứng có sự kết hợp của hút thuốc với tăng huyết áp theo cấp số nhân làm tăng nguy cơ tim mạch [37]. Nghiên cứu của Trương Thị Thùy Dương cho thấy có mối liên quan giữa hút thuốc với THA (p < 0,05) [38]. Tác giả A Stallones Reuel (2015), nghiên cứu mối liên quan giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch vành, cho thấy hút thuốc là liên quan đến nguyên nhân của bệnh tim mạch. Lạm dụng rượu, bia: Theo quy chuẩn của WHO, lượng rượu, bia uống trung bình trên ngày trên 4 đơn vị chuẩn đối với phụ nữ và trên 5 đơn vị 14 chuẩn đối với nam được coi là lạm dụng rượu bia [29].
Theo tác giả Phan Thị Kim Liên, uống nhiều rượu (> 3 xuất/ngày, mỗi suất khoảng 148 ml rượu vang hay 1 lon bia) có nguy cơ THA gấp 2 - 3 lần bình thường [39]. Nghiên cứu của Trương Thị Thùy Thang Long University Library 8 Dương, Lê Thị Hương, Nguyễn Văn Hiến (2013) tại Hà Nam cũng cho thấy uống rượu có mối liên quan với THA (OR = 1,19; CI95%: 0,85-1,67) [38]. Ăn uống không hợp lý: Ăn nhiều muối: Phân tích gộp của Feng JoHe và cộng sự (2004) cho thấy, có mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ giảm muối và mức độ giảm huyết áp, so với điều trị thông thường, chế độ ăn giảm muối làm giảm huyết áp 2,6/1,1 mmHg [40]. Nhiều nghiên cứu dịch tễ và thử nghiệm lâm sàng cho thấy có mối liên quan giữa chế độ ăn giảm muối và con số huyết áp.
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, người bình thường chỉ nên tiêu thụ dưới 5g muối/người/ngày [33][39][34]. Lê Đức Hạnh và cộng sự (2013), nghiên cứu trên 115 bệnh nhân có tăng huyết áp tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Kết quả, những yếu tố nguy cơ chính của THA nguyên phát lần lượt là: tuổi cao > 60 chiếm 57,39%; rối loạn lipid máu 88,69%; đái tháo đường 33,91%; ăn mặn 21,74%. Tỷ lệ bệnh nhân không biết mình bị THA chiếm tỷ lệ cao 33,04%; tỷ lệ người biết mình bị THA mà không điều trị cũng cao 30,04%; tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được huyết áp mục tiêu chỉ đạt 21,74% [41].