Luận văn thạc sĩ nông nghiệp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học căn bệnh của bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà công nghiệp tại thành phố buôn ma thuột và biện pháp phòng trị

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp nghiên cứu dịch tễ học bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà công nghiệp tại Buôn Ma Thuột và biện pháp phòng trị.

Trường đại học

Trường Đại Học Tây Nguyên

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2011

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dịch tễ học bệnh viêm đường hô hấp mãn tính

Nghiên cứu dịch tễ học bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) trên gà công nghiệp tại Buôn Ma Thuột là một vấn đề quan trọng trong ngành chăn nuôi gia cầm. Bệnh này gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi, đặc biệt là ở các trại gà công nghiệp với mật độ nuôi cao. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên đến 70% ở các đàn gà trưởng thành. Việc xác định tình hình dịch tễ học của bệnh là cần thiết để có biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Bệnh CRD không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của gà mà còn làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.

1.1. Tình hình dịch bệnh tại Buôn Ma Thuột

Tại Buôn Ma Thuột, tình hình dịch bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà công nghiệp đang diễn ra phức tạp. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm Mycoplasma ở gà thịt và gà đẻ cao, với nhiều triệu chứng lâm sàng như khó thở, sưng phù mặt và giảm tỷ lệ đẻ. Việc điều tra dịch tễ học giúp xác định các yếu tố nguy cơ và tình hình lây lan của bệnh. Các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí trong chuồng nuôi có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bệnh. Do đó, việc quản lý môi trường nuôi là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

II. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh CRD

Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà công nghiệp có nhiều đặc điểm dịch tễ học đáng chú ý. Bệnh thường xuất hiện ở các đàn gà nuôi với mật độ cao, đặc biệt là trong điều kiện chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh. Các nghiên cứu cho thấy bệnh lây lan nhanh chóng qua không khí và tiếp xúc trực tiếp giữa các cá thể. Tỷ lệ nhiễm bệnh có thể thay đổi theo mùa, với tỷ lệ cao hơn vào mùa mưa. Việc xác định các yếu tố dịch tễ học như tuổi, giống gà và điều kiện nuôi dưỡng là cần thiết để xây dựng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà. Nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng nuôi là hai yếu tố quan trọng. Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể làm giảm sức đề kháng của gà, tạo điều kiện cho vi khuẩn Mycoplasma phát triển. Độ ẩm cao cũng tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn. Ngoài ra, việc sử dụng thức ăn không đảm bảo chất lượng và thiếu dinh dưỡng cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Do đó, việc quản lý tốt các yếu tố này là rất cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra.

III. Biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh CRD

Để phòng ngừa và điều trị bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà công nghiệp, cần áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ. Việc tiêm phòng vaccine cho gà là một trong những biện pháp quan trọng nhất. Các loại vaccine hiện có giúp tăng cường sức đề kháng cho gà, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh. Bên cạnh đó, việc cải thiện điều kiện vệ sinh trong chuồng nuôi cũng rất cần thiết. Cần thường xuyên vệ sinh, khử trùng chuồng trại và cung cấp đủ không khí trong lành cho gà. Ngoài ra, việc theo dõi sức khỏe của đàn gà và phát hiện sớm các triệu chứng bệnh cũng giúp giảm thiểu thiệt hại.

3.1. Các phương pháp điều trị hiệu quả

Trong trường hợp gà mắc bệnh, việc điều trị kịp thời là rất quan trọng. Sử dụng kháng sinh phù hợp có thể giúp điều trị hiệu quả bệnh CRD. Các nghiên cứu cho thấy một số loại kháng sinh như Tylosin và Erofloxacin có tác dụng tốt trong việc điều trị bệnh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc sử dụng kháng sinh phải tuân thủ đúng liều lượng và thời gian để tránh tình trạng kháng thuốc. Ngoài ra, việc bổ sung vitamin và khoáng chất cho gà cũng giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ quá trình hồi phục.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học căn bệnh của bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà công nghiệp tại thành phố buôn ma thuột và biện pháp phòng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ BỆNH Lần ñầu tiên bệnh ñược mô tả chính xác vào năm 1905 bởi Dobb (Hà Lan) dưới tên gọi “Bệnh viêm phổi ñịa phương”[08] (trích dẫn). Sau ñó cũng tại Anh năm 1907, Graham Smith mô tả bệnh phù ñầu ở gà tây[30]. Tại Mỹ, năm 1926, Tyzzer mô tả bệnh viêm xoang ở gà tây[50].

Năm 1938, bệnh ñược Dicikinson và Hinshow ñặt tên là “Bệnh viêm xoang truyền nhiễm” của gà tây [29]. Năm 1930, Nelson tìm thấy lần ñầu tiên Mycoplasma spp trên gà, cũng theo Nelson (1935)[43] ñã mô tả những thể cầu trực khuẩn liên quan ñến bệnh sổ mũi truyền nhiễm ở gà. Sau ñó ông ñã liên kết chúng với bệnh sổ mũi nổ ra chậm và thời gian dài ñồng thời thể cầu trực khuẩn này có thể tăng trưởng trên phôi trứng, mô nuôi cấy và môi trường không có tế bào.O Stuart[28] phân lập từ cơ quan hô hấp của gà con bị bệnh viêm xoang truyền nhiễm và thấy tác nhân gây bệnh giống Nelson ñã tìm thấy, từ ñó bệnh ñược gọi là “Viêm ñường hô hấp mãn tính - CRD”. Năm 1952, Markham, Wong, Olesiuk và Vanrokell[41][45] công bố việc nuôi cấy thành công vi sinh vật bệnh gây bệnh từ gà và gà tây bị nhiễm CRD và ñề nghị xếp Mycoplasma ở gà vào nhóm vi sinh vật gây bệnh ở phổi- màng phổi (Pleuro Pleumonia Group) và mầm bệnh ñược D.A Freundt[33] xếp vào giống Mycoplasma.

Năm 1954, Sernan và cộng sự phát hiện ra bệnh và gọi tên bệnh là “Bệnh viêm túi khí truyền nhiễm”[18] (trích dẫn). Công trình nghiên cứu của nhiều tác giả Mackham và Wong (1952)[41], Nelson (1960)[44], thừa nhận các cá thể Coccobacillaris ñược tìm thấy trước kia chính là P.O (Pleuro- Pleumonia- Like- Organissm ) về sau thống nhất gọi tên phổ thông là Mycoplasma. 4 Edward và Freundt (1956)[33] ñề nghị phân loại lại các chủng Mycoplasma và ñặt tên theo tên giống Mycoplasma, những nghiên cứu về phân loại các type huyết thanh, ñộc lực, khả năng gây bệnh và những kết quả phân lập mới ở những loài thuộc lớp chim ñã thống nhất ñược tên gọi các type huyết thanh và tên gọi các loài Mycoplasma ở gia cầm như ngày nay.E Adler và cộng sự (1954)[23], sau khi thực hiện nhiều nghiên cứu cho thấy trong tự nhiên có nhiều chủng Mycoplasma nhưng chỉ có một chủng nhất ñịnh mới có khả năng gây bệnh. Đến năm 1961, A Brion và M Fontaine gọi tên khoa học của bệnh là Mycoplasma avium.

Năm 1961, tại hội nghị lần thứ 29 về gia cầm ñã thống nhất gọi tên bệnh Mycoplasma respyratoria, tác nhân gây bệnh ñược gọi tên là Mycoplasma respyratoria và Mycoplasma synoviae. Shirine(1961)[24] có công trình nghiên cứu về hình thái học, tính chất nhuộm màu và kỹ thuật chẩn ñoán Mycoplasma.W Joder nghiên cứu sự biến ñổi hình thái khuẩn lạc Mycoplasma (Characteziation of avian Mycoplasma)[51]. Frey và cộng sự (1968)[36], nghiên cứu môi trường ñặc hiệu ñể nuôi cấy và phân lập Mycoplasma. Yamamoto ñã sử dụng kháng thể ñơn huỳnh quang trực tiếp ñể phát hiện CRD ở gà[18](trích dẫn).W Yorder (1977)[18] (trích dẫn), ñã nghiên cứu và ứng dụng phản ứng kết tủa trên thạch (Agar gel precipitin test) ñể phát hiện kháng thể kháng Mycoplasma.

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1. Ở trên thế giới Báo cáo về trình trạng nhiễm Mycoplasma ở Ai Cập và giá trị chẩn ñoán 5 khác nhau, Saif – Edin (1997)[32] ñã cho thấy : - Tỷ lệ nhiễm Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma synoviae ở các trại gà Ai Cập là 100% trên gà thịt, 66% trên gà ñẻ và các ñàn giống cha mẹ là 40%. - Về các thử nghiệm chẩn ñoán, kỹ thuật PCR và nuôi cấy có giá trị trong chẩn ñoán Mycoplasma galisepticum và Mycoplasma synoviae. - Đối với kỹ thuật Elisa, HI chứng tỏ ñặc hiệu hơn với các thử nghiệm huyết thanh học khác.

Esendal (1997)[34] ñã xác ñịnh kháng thể gà chống lại Mycoplasma gallisepticum bằng các phản ứng huyết thanh học như: ngưng kết nhanh trên phiến kính, HI, kết tủa khyếch tán trên thạch và Elisa cho thấy trong 900 mẫu huyết thanh gà gồm gà thịt, gà giống, gà ñẻ thì có tỷ lệ dương tính 20,2 % trên phản ứng ngưng kết nhanh, 14,2% trên phản ứng HI, 5,7% ở phản ứng kết tủa khếch tán trên thạch và 60,3% ở phản ứng Elisa. Để kiểm soát Mycoplasma gallisepticum trên gà thịt của Ai Cập, Mousa và ctv (1997)[42] ñã dùng hai loại vaccin sống chủng F ñược dùng lúc 1 ngày tuổi bằng cách nhỏ mắt, phun sương, nhúng mỏ hay uống và vaccin chết nhũ dầu, làm từ chủng có ñộc lực S6, tiêm dưới da cho gà 14 ngày tuổi, kết quả cho thấy gà ñã ñược chủng ngừa ñược bảo vệ không bị viêm túi khí, sụt ký, tỷ lệ sống sót cao và sự phối hợp hai loại vaccin này cho kết quả tốt nhất. Điều tra dịch tễ học bệnh gia cầm trên các trại giống thương phẩm ở Zambia. Hasegawa – M và ctv (1999)[37] ñã báo cáo xét nghiệm 228 mẫu huyết thanh thu thập từ 7 trại thương phẩm ở Zambia ñể tìm kháng thể chống lại virut và vi khuẩn từ 9/1994 ñến tháng 8/1995, kết quả như sau: - Kháng thể chống lại virut Gumnoro ñược tìm thấy trong tất cả các mẫu của 5 trại và 68%, 88% cho 2 trại còn lại.

6 - Hai mẫu dương tính với vi rút hội chứng giảm ñẻ EDS – 76, sự hiện diện của virut này lần ñầu tiên ñược báo cáo ở Zambia. - Kháng thể chống lại Salmonella pullorum và S.gallinarum ñược xác ñịnh ở 3 trại lần lượt là 92%, 19%, 16%, các trại khác ñều âm tính. - Kháng thể chống lại M. gallisepticum ñã thấy ở tất cả các mẫu của 4 trại, tỷ lệ nhiễm M.synoviae thay ñổi 8,3 – 100%.

Ở Việt Nam Đào Trọng Đạt và cộng sự (1975) [01] ñã ñiều tra tình trạng mang kháng thể chống Mycoplasma trên 5 cơ sở chăn nuôi gà tập trung và gà nuôi trong dân ở một số tỉnh phía Bắc cho thấy tỷ lệ nhiễm Mycoplasma là 26,4% mà trong ñó gà dưới 2 tháng tuổi không bị nhiễm, 3 – 5 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 55%, 5 – 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 66,6 % và gà trên 8 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 50%. Đồng thời tác giả cũng phát hiện ñược kháng thể Mycoplasma trong lòng ñỏ trứng gà ở các trại xác ñịnh có bệnh với tỷ lệ mẫu dương tính 12,5% và phân lập ñược Mycoplasma từ các bệnh phẩm như khí quản, phổi, não, mắt và xoang mắt của gà bệnh với tỷ lệ 44%. Nguyễn Vĩnh Phước và ctv (1985)[13] ñã báo cáo về ñiều tra cơ bản bệnh hô hấp mãn tính của gà công nghiệp ở một số tỉnh phía nam như sau: - Tỷ lệ nhiễm tại 8 cơ sở ñiều tra là 70,2%, Mycoplasma nhiễm cao ở trên gà Plymouth và các giống con lai. - Bệnh thường xuất hiện vào thời gian chuyển tiếp giữa mùa mưa và mùa nắng tháng 4 – 5 rồi giảm ñi từ tháng 7 – 8.

- Gà dưới 2 tháng tuổi ít phát hiện thấy kháng thể, từ 3 tháng tuổi trở lên phát hiện thấy kháng thể nhiều hơn và cao nhất là 6 – 8 tháng tuổi. Nguyễn Kim Oanh và ctv (1997)[12] khi ñiều tra về tỷ lệ nhiễm Mycoplasma gallisepticum ở gà nuôi tại các xí nghiệp chăn nuôi gia cầm trên ñịa 7 bàn Hà Nội là khá cao (46%). Các giống gà khác nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau, cao nhất là giống gà Goldline và thấp nhất là Ross 208. Tỷ lệ nhiễm tăng dần và cao nhất ở gà trưởng thành.

Thời ñiểm bắt ñầu ñẻ (165 ngày) tỷ lệ nhiễm tới 72,5%, mặc dù các ñàn gà này ñược phòng bệnh bằng thuốc như tylosin, tiamulin, syanovil, norflorxacin,… Nguyễn Ngọc Nhiên và ctv (1999)[11] ñã công bố kết quả phân lập Mycoplasma gây bệnh hô hấp mãn tính trên gà: - Tỷ lệ phân lập trên môi trường canh trùng là 53,33% và môi trường thạch là 40%. - Dùng chủng Mycoplasma phân lập ñược gây bệnh thí nghiệm, gà có biểu hiện triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống như bệnh ngoài tự nhiên. Hoàng Xuân Nghinh và ctv (2000)[10] ñã nghiên cứu biến ñổi bệnh lý ở biểu mô khí quản của 72 gà thí nghiệm 28 ngày tuổi ñược gây nhiễm thực nghiệm với Mycoplasma gallisepticum qua khí quản và xoang mũi. Từ 2 - 4 tuần sau khi gây bệnh, biểu mô khí quản gà bệnh chết ñược kiểm tra bằng kính hiển vi thường và kính hiển vi ñiện tử cho thấy: - Bề mặt khí quản tổn thương rõ, xuất hiện ổ loét sâu và lớn, quá trình viêm cấp tính ảnh hưởng ñến cấu trúc bề mặt tế bào của biểu mô khí quản.

- Sự hồi phục của biểu mô khí quản rất nhanh sau quá trình viêm loét, từ màng ñáy sau ñến lớp tế bào biểu mô và lớp nhung mao của tế bào biểu mô. - Sự tăng sinh không ñịnh hướng của nhung mao tế bào biểu mô chứng tỏ bệnh ñã chuyển sang giai ñoạn mãn tính. Phạm Văn Đông, Vũ Đạt (2001)[02] ñiều tra tình hình nhiễm CRD ở 4 trại gà thường phẩm nuôi công nghiệp cho thấy: - Gà từ 1 – 60 ngày tuổi nhiễm 16,55%, gà 60 – 140 ngày tuổi nhiễm 41,21%, gà 140 – 260 ngày tuổi nhiễm 56,17%, tỷ lệ nhiễm chung là 38,27%, 8 vậy cường ñộ nhiễm cũng tăng theo lứa tuổi. - Kết quả mổ khám cho thấy bệnh tích chủ yếu ở các cơ quan phủ tạng như mũi, thanh quản, phổi, túi khí và gan với tỷ lệ bệnh tích tương ứng là: 39,61%; 80,84%; 12,66%; 38,73; 34;80%.

Trương Quang (2002)[15] nghiên cứu bệnh CRD liên quan ñến một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của ñàn gà Isa bố mẹ hướng thịt, kết quả cho thấy: - Ở gà có hiệu giá kháng thể thấp (1/8) thì tỷ lệ ñẻ ñạt 73,3%, tỷ lệ trứng loại 1: 11,79%, chi phí thức ăn 3,13kg/10 trứng, tỷ lệ phôi chết 4,39%, tỷ lệ gà con loại 1: 77,51%. - Ở gà bị bệnh hiệu giá kháng thể cao (1/64) thì các chỉ tiêu trên thay ñổi rõ rệt với các tỷ lệ tương ứng : 14,48%; 28,06%; 8,64kg; 21,54% và 38,46%. Trương Quang (2002)[14] sử dụng vaccin Nobivac-M.G ñể phòng bệnh CRD cho ñàn gà Isa bố mẹ hướng thịt cho thấy: - Sau lần tiêm thứ nhất: 25,71% – 62,86% số gà kiểm tra có hiệu giá kháng thể 1/64; 17,14% - 54,29% số gà kiểm tra có hiệu giá kháng thể 1/128. - Sau lần tiêm thứ 2: 28,57% - 60,00% gà có hiệu giá kháng thể 1/128; 5,71% - 57,48% gà có hiệu giá kháng thể 1/256.

- Gà con nở ra từ trứng của gà bố mẹ ñã tiêm vaccin 2 lần có hiệu giá kháng thể thụ ñộng tương ñối cao và tồn tại ñến 3 tuần tuổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu dịch tễ học bệnh viêm đường hô hấp mãn tính trên gà công nghiệp tại Buôn Ma Thuột" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch tễ học của bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà công nghiệp, một vấn đề quan trọng trong ngành chăn nuôi gia cầm. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các yếu tố nguy cơ và tỷ lệ mắc bệnh mà còn đưa ra những khuyến nghị về biện pháp phòng ngừa và quản lý bệnh hiệu quả. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về cách thức bảo vệ đàn gà, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe động vật, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu bệnh gumboro trên gà tại một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long", nơi cung cấp thông tin về một bệnh khác cũng ảnh hưởng đến gà. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và đặc tính của vi khuẩn gây viêm phổi ở lợn tại Bắc Giang" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các bệnh hô hấp ở động vật nuôi. Cuối cùng, bài viết "Thực trạng nhiễm khuẩn phổi bệnh viện và đặc điểm kháng kháng sinh tại Thái Bình năm 2016-2017" cũng mang lại cái nhìn về tình hình nhiễm khuẩn phổi, một vấn đề không thể xem nhẹ trong y tế công cộng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các bệnh lý liên quan đến hô hấp trong động vật và con người.