Chương 1 TỎNG QUAN 1. Lịch sử bệnh 1. Tình hình bệnh ASF trên thế giới Năm 1921, bệnh ASF lần đầu tiên xuất hiện tại Kenya, Châu Phi và sau đó đã trở thành dịch địa phương tại nhiều nước Châu Phi. Năm 1957, bệnh ASF lần đầu tiên được phát hiện và báo cáo tại châu Âu và các nước châu Mỹ.
Đến năm 2007, bệnh ASF được báo cáo tại day núi Caucasus giữa châu Âu và chau A của quốc gia Georgia. ASFV được xác định thuộc kiểu gen II, có nguồn gốc từ Đông Nam Châu Phi. Bệnh tiếp tục lây lan khắp Armenia (2007), Liên Bang Nga (2007) và sang Azerbaijan (2008). Sau đó, bùng phát và lan rộng về phía tây Ukraine (2012), Belarus (2013), Liên minh Châu Âu (Litva, Ba Lan, Latvia va Estonia, 2014) va Moldova nam 2016 (FAO, 2017) va tro thanh dich dia phuong 6 nhiều nước trên thé giới.
Theo thông tin cập nhật từ OIE, từ năm 2017 đến ngày 08/11/2018, đã có 19 quốc gia (Bi, Bun-ga-ri, Trung Quốc, Cote D'Ivoire (Bờ biển Nga), Cộng hòa Séc, E- xt6-ni-a, Hung-ga-ri, Ké-ni-a, Lat-vi-a, Lit-va, Môn-đô-va, Ni-gié-ri-a, Ba Lan, Ru- ma-m, Liên Bang Nga, Nam Phi, U-crai-na va Dam-bi-a) đã báo cáo bệnh ASF với tổng số heo bệnh trên 372 nghìn con, số heo chết do bệnh trên 123 nghìn con, tổng đàn heo có nguy cơ, buộc phải tiêu hủy trên 840 nghìn con (FAO, 2018). Theo thông tin cập nhật từ OIE va FAO, từ ngày 03/8/2018 đến ngày 08/11/2018, Trung Quốc có trên 58 6 dịch tại 15 tỉnh (bao gồm: An Huy, Hắc Long Giang, Hà Nam, Liêu Ninh, Giang Tô, Chiết Giang, Cát Lâm, Khu tự trị Nội Mông, Thiên Tân, Sơn Tây, Hồ Nam, Quý Chau, Trùng Khánh và Phúc Kiến, đặc biệt là Vân Nam (tai Simao của thành phố Phố Nhĩ, cách biên giới với các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam khoảng 150km) với trên 210 nghìn con heo các loại buộc phải tiêu hủy (Zhou va ctv, 2018). Tình hình bệnh ASF tại Việt Nam Ngày 19 tháng 02 năm 2019, bệnh ASF lần đầu tiên được phát hiện tại Hưng Yên, Việt Nam, sau đó dịch đã bùng phát và xuất hiện khắp các tỉnh thành trên cả nước. Ở Việt Nam, sản xuất thịt heo chiếm 68 đến 70% tỷ trọng của ngành chăn nuôi, nguồn cung ứng thực phẩm thịt chính cho người tiêu dùng vai trò sản xuất thịt heo là rất quan trọng cho con người và các hoạt động kinh tế xã hội như chính sách nông nghiệp, an sinh xã hội, thức ăn chăn nuôi, thú y, công ăn việc làm, vận tai, giáo dục, khoa học và hoạt động liên quan khác.
Năm 2019, ASF đã xảy ra cả nước, làm giảm 21,5% tổng đàn heo và tổng sản lượng thịt heo sản xuất giảm sâu tương ứng 11,5% và 13,8%. Sự sụt giảm sâu và giảm lũy kế của tong đàn heo do ASF đã ngay lập tức thúc đây sự tăng trưởng nhanh chóng của chăn nuôi gia cầm (16,5%), thú nhai lại (trên 5,0%), vật nuôi khác (trên 3,0%) và cũng tăng nhanh chóng (63,0%) thịt heo được nhập khẩu trong 2019 (Đỗ Tiến Duy, 2020). Đặc điểm của bệnh ASF 1. Đặc điểm chung của bệnh ASE Bệnh ASF là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus gây ra.
Bệnh này chỉ lây nhiễm trên loài heo (bao gồm heo rừng và heo nhà), không gây bệnh cho các loài động vật khác. Bệnh ASF không lây sang người. Bệnh ASF gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Heo khỏi bệnh có khả năng mang virus trong thời gian dài, có thé là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu dé xảy ra bệnh ASF (EFSA, 2010).
Đặc điểm của virus Dịch tả heo Châu Phi (ASFV) ASFV thuộc chi Asfivirus, họ Asfarviridae, có kích thước lớn (200nm), có vỏ bọc bên ngoài với cấu trúc khối nhiều mặt (Icosahedral), kiểu gen di truyền dang ADN sợi đôi. Bộ gen của virus thay đối trong khoảng 170 đến 193 kbp (tùy thuộc vào chủng của virus) và mã hóa từ 150 đến 167 khung đọc mở (Open reading frames- ORFs) tùy thuộc vào chung virus, nó mã hóa cho hơn 50 protein (Chapman va ctv, 2008; Dixon và ctv, 2019; Yanez va ctv, 1995). Đến nay, 24 kiểu gen của ASFV đã được xác định dựa trên phân tích trình tự của gen p72, (Boshoff và ctv, 2007; Achenbach và ctv, 2016; Quembo và ctv, 2018). Tất cả 24 kiểu gen ASFV đã được mô tả ở các quốc gia châu Phi, Nam sa mac Sahara, 23 trong số đó hiện đang bị hạn chế ở Đông và Nam Phi (Costard và ctv, 2013; Achenbach và ctv, 2016).
Các kiểu gen L II và IX của ASFV đã được lan truyền tại một số quốc gia. Ví dụ, kiểu gen I lan truyền từ Tây Phi sang Châu Âu, Nam Mỹ và Caribe (Bastos và ctv, 2003). Mặt khác, kiểu gen II, được biết là lưu hành Zambia, Malawi va Mozambique, đã lan truyền đến Caucasus và sau đó đến Liên minh Châu Âu, Nga và Trung Quốc (Rowlands va ctv, 2008; Gallardo và ctv, 2014; Li and Tian, 2018; Ge va ctv 2018; Zhou va ctv, 2018). Hon nữa, ASFV kiểu gen II đã được giới thiệu đến Tanzania va Zimbabwe, nơi nó chưa từng được biết đến là có lưu hành (Misinzo và ctv; van Heerden và ctv, 2017).
Kiểu gen II có tầm quan trọng toàn cầu cao nhất, vì nó là nguyên nhân gây ra đại dịch heo đang diễn ra bao trùm một khu vực từ Đông Âu đến Trung Quốc và Đông Nam Á. Những thiệt hại kinh tế liên quan là rất lớn, lên tới 25% sản lượng heo toàn cầu (Ge và ctv, 2018). Tương tự, kiểu gen IX bị hạn chế ở Đông Phi đã được báo cáo là đã lây lan sang Tây Phi (Gallardo và ctv, 2011) Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo trong nhóm 32 virus được phân lập có đến 8 serotype khác nhau (Malogolovkin va ctv, 2015). ASFV có 24 kiểu gen liên quan đến dịch tễ học (Quembo va ctv, 2008) (Hình 1.
Nucleoid Bé gen DNA Hình 1. Hình dang và cấu tạo cua ASFV (Freitas, 2018) 1. Sức đề kháng của virus Bảng 1. Sự tồn tại của ASFV trong các điều kiện khác nhau Điều kiện Thời gian tồn tại Nhiệt độ ở 50°C 3 giờ Nhiệt độ 56°C 70 phút Nhiệt độ ở 60°C 20 phút pH 13.4 (25% huyết thanh) 7 ngày Sodium chloride 0,8% 30 phút Hypochlorites - 2.3% chlorine 30 phút Formalin 0,3% 30 phút Ortho-phenylphenol 30 phút (European Food Safety Authority, 2010).
ASFV khá khó bị tiêu diệt ở điều kiện bên ngoài môi trường. Thông thường virus bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°C trong 70 phút hoặc ở 60°C trong 20 phút. Hóa chất để diệt ASFV gồm ether, chloroform và hợp chất iodine hoặc sử dụng Sodium hydroxide với tỉ lệ 8/1.000 hoặc formalin với tỉ lệ 3/1.000 hoặc chất tây trắng hypochlorite chứa chlorine 2,3% hoặc chất ortho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút. Trong các vật chất hữu cơ, sự tồn tại của virus càng cao do được “bảo vệ” bởi các chất hữu cơ này.
Virus sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong máu khô không được 70 ngày; ASEV có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt heo và các chế phẩm từ thịt heo. Trong môi trường không có huyết thanh ASFV có thé sống được 21 giờ, ASFV có thé bị phá hủy ở pH< 3,9 hoặc ở pH > 11,5. Môi trường có huyết thanh virus có thé tồn tại được ở pH = 13,4 trong 7 ngày (EFSA, 2010). ASFV có thể tồn tại trong máu va trong xác của một con heo đã chết trong vai thang (FAO, 2017).
Tông hợp thông tin về sức đề kháng của ASFV Loại sản phẩm Thời gian virus tồn tại Thịt có xương, thịt nghiền 105 ngày Thịt chế biến ở nhiệt độ 70°C trong 30 phút 0 Thịt khô 300 ngày Thịt xông khói, bỏ xương 30 ngày Thịt đông lạnh 1.000 ngày Thịt mát 110 ngày Thịt chất lượng kém (hỏng) 105 ngày Da/Mỡ (kê cả đã khô) 300 ngày Máu ở nhiệt độ lạnh 4°C 18 tháng Phân heo ở nhiệt độ thường 11 ngày Thực phẩm thừa bỏ đi (có thịt heo) 15 tuần Chuồng heo nhiễm bệnh 1 tháng (Adkm và ctv, 2004). Cơ chế sinh bệnh ASFV xâm nhập vào cơ thể qua amidan hoặc niêm mạc họng đến các hạch bạch huyết ở hàm dưới hoặc sau hau từ đó lây lan một cách nhanh chóng trong cơ thé bằng hệ thống tuần hoàn (Greig, 1972; Plowright và ctv, 1994).Đại thực bao của heo là tế bào đích chính của ASFV (Franzoni và ctv, 2022). Tùy thuộc vào độc lực của các chủng ASFV gây ra các dấu hiệu lâm sàng khác nhau, từ các dấu hiệu lâm sàng nhẹ đến sốt xuất huyết cấp tính và tử vong. Trong các thé cấp tính và bán cấp tính, ASFV gây tổn thương nghiêm trong ở mạch máu với dau hiệu xuất huyết ở các cơ quan khác nhau như đỏ da, xuất huyết các hạch lympho ở da dày, gan va thận; phù phối, phổ biến là đông máu nội mạch, giảm bạch cầu đơn nhân, bạch cầu trung tính và giảm tiểu cầu (Gómez-Villamandos và ctv, 2013; James và ctv, 2019).
Trong quá trình sinh bệnh của virus, bạch cầu đơn nhân và đại thực bao tao ra cytokine — yếu tố đóng một vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh, đặc biệt là các phản ứng viêm mô quá mức làm lá lách to có nhồi huyết (James và ctv, 2019). Sự nhân lên của virus không được kiểm soát và các phản ứng viêm kèm theo sẽ thúc day hiện tượng xuất huyết và rối loạn đông máu (Christopher, 2017) với các biểu hiện heo bị chảy máu các lỗ tự nhiên. Phân tích huyết thanh của heo nhiễm ASFV cho thấy, các cytokine tiền viêm tăng mạnh bao gồm IFN-a, IFN- B, IL-1, IL-6, IL-8, IL-10, IL-12, IL-18. Dac biét la su tang manh IL-10 trong huyét thanh của heo nha va heo rừng bi nhiễm ASFV ở giai đoạn cuối (Wang và ctv, 2022).
Con đường truyền lây Các con đường sẽ làm tốc độ lây lan nhanh chóng gồm: dùng chung kim tiêm với heo bệnh, mồ xác heo bệnhở trại làm phát tán mầm bệnh ra ngoài, ca bệnh nặng bài thải nhiều mầm bệnh (tiêu chảy máu, ói, tiểu tiện ra máu), vay nhiễm vào thức ăn, nước uống, dung chung máng ăn với heo bệnh. Nguyễn Tat Toàn va ctv (2020) đã xác định, chuỗi thực phẩm thịt heo là gánh nặng lưu hành ASE. ASF là một bệnh lây lan giữa heo nha và heo rừng trong các khu vực rộng lớn của Âu-Á. - Truyền lây trực tiếp: Heo khỏe tiếp xúc gần với những heo bị nhiễm bệnh (Penrith và ctv, 2009).