chương 1 cho người đọc cái nhìn khái quát về (1) lý do tại sao thực hiện đề tài; (2) mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Khảo sát kiến thức, thực hành về phòng ngừa bệnh 123doc 4 Lao phổi, Sốt xuất huyết, Rubella; (3) đối tượng nghiên cứu là tất cả người dân đến khám tại Phòng khám chuyên khoa tổng quát - Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM; (4) ý nghĩa của đề tài. Chương 2 - Cơ sở lý luận: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu liên quan. Nội dung Chương 2 khái quát về (1) các lý thuyết, mô hình sức khỏe có liên quan tới nghiên cứu, các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe; (2) mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả; (3) một số khái niệm về bệnh truyền nhiễm (Bệnh Lao phổi, Sốt xuất huyết, Rubella); (4) một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu. Nội dung Chương 3 khái quát (1) thiết kế nghiên cứu; (2) định nghĩa các biến liên quan; (3) Phương pháp chọn mẫu; (4) Phương pháp xử lý số liệu. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả mô tả các biến khảo sát, phân tích kết quả theo phép kiểm tích t-test, Oneway, Chi bình phương. Xác định mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân, kinh tế xã hội và kiến thức, thực hành về bệnh truyền nhiễm, mối liên quan giữ kiến thức và thực hành.
Chương 5 - Kết luận và hàm ý chính sách: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, những hạn chế và đề xuất kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày các khái niệm quan trọng, tổng quan cơ sở lý thuyết, mô hình áp dụng cho nghiên cứu, các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan.1 Dịch tễ học bệnh truyền nhiễm 2.1 Căn nguyên gây bệnh Một số bệnh có nguyên nhân đơn thuần là các yếu tố di truyền, phần lớn các bệnh có nguyên nhân là sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và môi trường. Chúng ta định nghĩa khái niệm môi trường một cách rất rộng, bao gồm các yếu tố sinh học, 123doc 5 hoá học, vật lý, tâm thần hay các yếu tố văn hoá có thể tác động lên sức khoẻ và yếu tố kinh tế xã hội. Hành vi cá nhân tác động lên mối liên quan hệ này và dịch tễ học được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng và tác động của can thiệp dự phòng thông qua tăng cường sức khoẻ.
Yếu tố di truyền Sức khỏe tốt Sức khỏe kém Yếu tố môi trường Nguồn: WHO (2006) 2.2 Đánh giá can thiệp Chữa bệnh, chăm sóc y tế Sức khỏe tốt Sức khỏe kém Nâng cao sức khỏe, Các biện pháp phòng ngừa Các dịch vụ y tế công cộng Nguồn: WHO (2006) 123doc 6 2.2 Bệnh truyền nhiễm Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. Tác nhân gây bệnh truyền nhiễm là vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm có khả năng gây bệnh truyền nhiễm. Trung gian truyền bệnh là côn trùng, động vật, môi trường, thực phẩm và các vật khác mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm và có khả năng truyền bệnh. Người mắc bệnh truyền nhiễm là người bị nhiễm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có biểu hiện triệu chứng bệnh.
Người mang mầm bệnh truyền nhiễm là người mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhưng không có biểu hiện triệu chứng bệnh. Người tiếp xúc là người có tiếp xúc với người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh và có khả năng mắc bệnh. Người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm là người tiếp xúc hoặc người có biểu hiện triệu chứng bệnh truyền nhiễm nhưng chưa rõ tác nhân gây bệnh. Giám sát bệnh truyền nhiễm là việc thu thập thông tin liên tục, có hệ thống về tình hình, chiều hướng của bệnh truyền nhiễm, phân tích, giải thích nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm Nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.
Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A bao gồm bệnh bại liệt; bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê - bô - la (Ebola), Lát- sa (Lassa) hoặc Mác-bớc (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh; 123doc 7 Nhóm B gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong. Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B bao gồm bệnh do vi rút A-đê-nô (Adeno); bệnh do vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); bệnh bạch hầu; bệnh cúm; bệnh dại; bệnh ho gà; bệnh Lao phổi; bệnh do liên cầu lợn ở người; bệnh lỵ A-míp (Amibe); bệnh lỵ trực trùng; bệnh quai bị; bệnh sốt Đăng gơ (Dengue), sốt xuất huyết Đăng gơ (Dengue); bệnh sốt rét; bệnh sốt phát ban; bệnh sởi; bệnh tay-chân-miệng; bệnh than; bệnh thủy đậu; bệnh thương hàn; bệnh uốn ván; bệnh Ru-bê-ôn (Rubeon); bệnh viêm gan vi rút; bệnh viêm màng não do não mô cầu; bệnh viêm não vi rút; bệnh xoắn khuẩn vàng da; bệnh tiêu chảy do vi rút Rô-ta (Rota); Nhóm C gồm các bệnh truyền nhiễm ít nguy hiểm, khả năng lây truyền không nhanh. Các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm C bao gồm bệnh do Cờ-la-my-đi-a (Chlamydia); bệnh giang mai; các bệnh do giun; bệnh lậu; bệnh mắt hột; bệnh do nấm Can-đi-đa-an-bi-căng (Candida albicans); bệnh Nô-ca-đi-a (Nocardia); bệnh phong; bệnh do vi rút Xi-tô-mê-ga-lô (Cytomegalo); bệnh do vi rút Héc-péc (Herpes); bệnh sán dây; bệnh sán lá gan; bệnh sán lá phổi; bệnh sán lá ruột; bệnh sốt mò; bệnh sốt do Rích-két-si-a (Rickettsia); bệnh sốt xuất huyết do vi rút Han-ta (Hanta); bệnh do Tờ-ri-cô-mô-nát (Trichomonas); bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm; bệnh viêm họng, viêm miệng, viêm tim do vi rút Cốc-xác-ki (Coxsakie); bệnh viêm ruột do Giác- đi-a (Giardia); bệnh viêm ruột do Vi-bờ-ri-ô Pa-ra-hê-mô-ly-ti-cút (Vibrio Parahaemolyticus) và các bệnh truyền nhiễm khác. Lấy phòng bệnh là chính trong đó thông tin, giáo dục, truyền thông, giám sát bệnh truyền nhiễm là biện pháp chủ yếu.
Kết hợp các biện pháp chuyên môn kỹ thuật y tế với các biện pháp xã hội, hành chính trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm. Thực hiện việc phối hợp liên ngành và huy động xã hội trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm; lồng ghép các hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Công khai, chính xác, kịp thời thông tin về dịch. Chủ động, tích cực, kịp thời, triệt để trong hoạt động phòng, chống dịch.
123doc 8 Biện pháp phòng lây nhiễm bệnh truyền nhiễm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Cách ly người mắc bệnh truyền nhiễm, diệt khuẩn, khử trùng môi trường và xử lý chất thải tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; phòng hộ cá nhân, vệ sinh cá nhân; các biện pháp chuyên môn khác theo quy định của pháp luật. Nguồn: Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm (2007) 2.3 Bệnh Lao phổi Người bị bệnh Lao phổi là những người có biểu hiện ho khạc kéo dài trên 2 tuần, kèm theo các triệu chứng sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi " trộm", gầy sút cân, kém ăn, mệt mỏi. Cũng có thể ho khạc ra máu số lượng ít hoặc nhiều, đau ngực. Tỷ lệ hơn 90% những người có các triệu chứng đó là người bị mắc bệnh Lao phổi.
Lao phổi lây truyền qua đường không khí. Vi khuẩn Lao từ các hạt nước bọt li ti, hoặc trong các hạt bụi nhỏ sẽ dễ dàng bị hít vào phổi, xuống tận phế nang và nhân lên, gây bệnh tại phổi. Từ phổi, vi khuẩn có thể qua máu, bạch huyết đến các tạng khác trong cơ thể (hạch bạch huyết, xương, gan, thận,.) và gây bệnh tại các cơ quan đó của cơ thể. Không có ổ chứa mầm bệnh trong thiên nhiên hoặc vật trung gian truyền bệnh.
Nguồn bệnh là những người bệnh Lao phổi, Lao thanh quản, phế quản trong giai đoạn ho khạc ra vi khuẩn Lao. Biện pháp dự phòng quan trọng nhất là "cắt đứt nguồn lây", có nghĩa là phải phát hiện sớm những người bị Lao phổi có AFB(+) và chữa khỏi cho họ. Tuy nhiên bệnh Lao là một bệnh có tính xã hội cho nên những biện pháp dự phòng mang tính cộng đồng cũng rất quan trọng. Làm tốt công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe cho mọi người.
Ai cũng hiểu được bệnh Lao là một bệnh lây truyền qua đường hô hấp, có thể phòng và chữa khỏi được hoàn toàn. Qua đó có ý thức phòng bệnh bằng cách tăng cường sức khỏe, làm sạch và thông thoáng tốt môi trường sống. Kiểm soát phòng chống lây nhiễm tại các cơ sở y tế hoặc tại những nơi có nguồn lây (bệnh viện Lao, trại giam.) bằng cách: Người bệnh phải đeo khẩu trang, khi ho, hắt hơi phải che miệng, khạc đờm vào chỗ qui định và đờm hoặc các vật chứa nguồn lây phải được hủy đúng phương pháp. Tận dụng ánh nắng mặt trời càng nhiều càng 123doc 9 tốt cho nơi ở và các vật dụng của người bệnh.
Tạo được những điều kiện thông gió tốt để không khí được lưu thông nhằm giảm thấp nhất nồng độ các hạt chứa vi khuẩn Lao trong không khí. Dự phòng: Tiêm phòng vắc xin BCG cho trẻ sơ sinh. Người bệnh bắt buộc phải đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác. Uống INH 300mg/ngày x 6 tháng dự phòng cho những người có nguy cơ mắc Lao cao như người có HIV trong các trại giam.
Các chất thải của người bệnh phải được xử lý trước khi thải ra hệ thống chung. Đờm và các dụng cụ chứa phải được đốt, hoặc xử lý bằng hóa chất. Thông gió tốt các buồng bệnh và những nơi tập trung nhiều người bệnh. Tận dụng tối đa ánh nắng và gió trong môi trường sống và làm việc.
Phòng ngừa lây truyền bệnh qua đường máu: áp dụng phòng ngừa chuẩn cho tất cả người bệnh trong cơ sở Khám bệnh chữa bệnh. Nguồn: Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm (2007) 2.4 Bệnh Sốt xuất huyết Ca bệnh lâm sàng sốt đăng-gơ (SD): Bệnh nhân có sốt đột ngột, sốt cao trên 38,5 0C, kéo dài 2 – 7 ngày, đi cùng với các triệu chứng đau đầu, đau hốc mắt, đau cơ, đau khớp, phát ban, có biểu hiện xuất huyết (dấu hiệu dây thắt dương tính); giảm bạch cầu.