Chương I: bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng. + Chương II: bướu tân sinh. + Chương III: bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan đến cơ chế miễn dịch. + Chương IV: bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa.
+ Chương V: rối loạn tâm thần và hành vi. + Chương VI: bệnh hệ thần kinh. + Chương VII: bệnh mắt và phần phụ. + Chương VIII: bệnh tai và xương chũm.
+ Chương IX: bệnh hệ tuần hoàn. + Chương X: bệnh hệ hô hấp. + Chương XI: bệnh hệ tiêu hóa. + Chương XII: các bệnh da và mô dưới da.
+ Chương XIII: bệnh hệ cơ - xương - khớp và mô liên kết. + Chương XIV: bệnh hệ sinh dục - tiết niệu. + Chương XV: thai nghén, sinh đẻ và hậu sản. + Chương XVI: một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh.
+ Chương XVII: dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể. luan an 7 + Chương XVIII: các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở phần khác. + Chương XIX: chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài. + Chương XX: nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong.
+ Chương XXI: các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế. + Chương XXII: mã phục vụ những mục đích đặc biệt. * ICD 10 đã được Tổ chức Y tế thế giới triển khai xây dựng từ tháng 9 năm 1983. Tài liệu liên quan đến ICD 10 do WHO xuất bản lần đầu tiên năm 1992 bằng tiếng Anh.
Chương XXII không có trong lần ban hành trước. Bảng phân loại tiếng Việt được biên tập lại năm 2013 và ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2015 [6]. Bộ mã ICD 10 được quy định như sau: Ký tự thứ nhất (chữ cái) mã hóa chương bệnh. Ký tự thứ hai (số thứ nhất) mã hóa nhóm bệnh.
Ký tự thứ ba (số thứ hai) mã hóa tên bệnh. Ký tự thứ tư (số thứ 3 sau dấu (.)) mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính đặc thù của một bệnh. Các bệnh bị chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài thuộc chương XIX; do các nguyên nhân bên ngoài của các bệnh tật và tử vong là tai nạn giao thông, sinh hoạt, tự tử, thiên tai, ẩu đả gây thương tích… thuộc chương XX. Như vậy với một người bệnh bị chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do bên ngoài sẽ có chẩn đoán bệnh thuộc chương XIX và chẩn đoán nguyên nhân thuộc chương XX.
Một số chỉ số đo lường bệnh tật và tử vong 1. Tỷ số, tỷ lệ, tỷ suất [7] Tỷ số (ratio) là một phân số trong đó tử số (x) và mẫu số (y). X và y có thể hoàn toàn độc lập. Ví dụ: xem xét về giới tính của số trẻ được tiêm chủng trong bệnh viện: nam/nữ.
Tỷ lệ (proportion) là một dạng phân số trong đó tử số (x) thuộc mẫu số (y) thường được dùng cho các biến lưỡng phân. Ví dụ: tỷ lệ (%) nữ trong vùng A = [Nữ/ (nam + nữ)] x 100 Tỷ suất (rate) là dạng đơn vị đo lường tần số thứ 3 được dùng cho các biến nhị phân, tỷ lệ thường là một tỷ số, nó đo sự xuất hiện của một sự kiện trong quần thể trong một khoảng thời gian. Công thức cơ bản của tỷ suất là: Số trường hợp hoặc sự kiện xuất hiện trong một khoảng thời gian Quần thể có nguy cơ trong cùng khoảng thời gian đó Lưu ý ba khía cạnh quan trọng của công thức này: Những người ở mẫu số phải phản ánh được quần thể mà từ đó những trường hợp ở tử số xuất hiện. Những trường hợp ở tử số và mẫu số được thực hiện trong cùng một khoảng thời gian.
Theo lý thuyết, những người ở mẫu số phải chịu nguy cơ của sự kiện đó, nghĩa là những người ở mẫu số cũng có khả năng chịu tác động của sự kiện. Đơn vị đo tần số mắc bệnh [7] Để mô tả sự hiện diện của bệnh tật trong quần thể hay xác suất (nguy cơ) của sự xuất hiện bệnh, ta sử dụng một trong những đơn vị đo tần số mắc bệnh. Theo khái niệm của y tế công cộng, bệnh tật bao gồm ốm đau, chấn luan an 9 thương hay tàn phế. Tất cả những đơn vị này có thể chuyển thành những đơn vị đo đặc thù cho tuổi, chủng tộc, giới tính hay một số đặc tính nào đó của quần thể mà ta đang mô tả.
Tỷ lệ mới mắc Tỷ lệ mới mắc (còn gọi là incidence) là đơn vị đo tần số xuất hiện một sự kiện (ví dụ như những trường hợp mới mắc một loại bệnh) trong một quần thể trong một khoảng thời gian. Công thức tính tỷ lệ mới mắc: Số trường hợp mới xuất hiện trong một khoảng thời gian xác định Quần thể có nguy của giai đoạn nghiên cứu đó Tỷ lệ hiện mắc (prevalence) Tỷ lệ hiện mắc (prevalence), là tỷ lệ của những người trong một quần thể bị mắc một loại bệnh hoặc mang một thuộc tính tại một thời điểm xác định hay trong một khoảng thời gian xác định. Công thức tính tỷ lệ hiện mắc của một bệnh là: Tổng số các trường hợp mới mắc và đã mắc từ trước trong một khoảng thời gian xác định Tổng quần thể trong cùng khoảng thời gian đó 1. Các đơn vị đo tần số tử vong [7] - Tỷ suất chết (Mortality rate) Tỷ suất chết là đơn vị đo tần số xuất hiện tử vong trong một quần thể xác định trong một khoảng thời gian xác định.
Tỷ lệ tử vong của một quần thể xác định, trong một khoảng thời gian xác định được tính theo công thức: Số tử vong xuất hiện trong một giai đoạn thời gian cho trước Kích thước quần thể mà số tử vong xảy ra trong đó luan an 10 Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR) là tổng số trường hợp chết của một độ tuổi hoặc nhóm tuổi chia cho dân số của độ tuổi hoặc nhóm tuổi đó và nhân với hệ số, thường là 1000. Tỷ suất chết sơ sinh (neonatal mortality rate – NMR) là chỉ số thường dùng để mô tả tình trạng sức khỏe của một cộng đồng. Tỷ suất tử vong sơ sinh là số trẻ chết từ 0 – 28 ngày tuổi trên 1000 sơ sinh sống. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là thước đo quan trọng về mức sống, kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Tỷ suất chết trẻ em dưới một tuổi = Số tử vong trong một năm của trẻ dưới một tuổi = x 1000 Tổng số trẻ sinh ra sống trong cùng năm Tỷ suất chết của trẻ dưới 5 tuổi (under 5 mortality rate – U5MR) là số trẻ chết từ 0 – 5 tuổi trên 1000 sơ sinh sống. Mô hình bệnh tật Dịch tễ học là việc nghiên cứu sự phân bố và các yếu tố quyết định của các tình trạng hay sự kiện liên quan đến sức khoẻ trong các quần thể xác định và việc ứng dụng nghiên cứu này vào phòng ngừa và kiểm soát các vấn đề sức khoẻ [7]. Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện chủ yếu dựa vào hồ sơ lưu trữ tại các bệnh viện theo bệnh án mẫu thống nhất toàn ngành y tế. Có nhiều loại bệnh án khác nhau cho từng chuyên khoa nhưng phải đảm bảo tính thống nhất ở những thông tin chính, thuận lợi cho việc thống kê và nghiên cứu.
Nghiên cứu mô hình bệnh tật tại bệnh viện có thuận lợi là có tiêu chuẩn chẩn đoán, có sự hỗ trợ của xét nghiệm. Chẩn đoán lúc ra viện hay tử vong được thực hiện thống nhất theo bảng phân loại bệnh tật ICD 10. Tuy nhiên, chẩn đoán cũng còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của nhân viên y tế và luan an 11 điều kiện xét nghiệm của cơ sở y tế. Do đó, phân loại ở các bệnh viện khác nhau đôi khi có sự khác biệt, mặc dù từ năm 2015, với quyết định của 3970/QĐ - BYT của Bộ Y tế việc phân loại bệnh đã thống nhất hơn [6].
Tuy nhiên, mô hình bệnh tật tại bệnh viện cũng không phản ánh hết được bệnh lý trong cộng đồng. Một số bệnh lý nhẹ nhưng tỷ lệ mắc nhiều được điều trị ngoại trú dẫn đến làm thay đổi mô hình bệnh nội trú như các bệnh lý nhiễm khuẩn hô hấp trên, nhiễm trùng da, bệnh lý răng miệng,. Trong khi đó các bệnh lý mạn tính có thể được điều trị nhiều đợt trong năm làm số liệu thống kê bị ảnh hưởng như các bệnh lý tim bẩm sinh, bệnh máu, ung thư,. Điều này là sự khác biệt giữa mô hình bệnh tật và cấu trúc bệnh tật.
Mô hình bệnh tật trên thế giới Để định hướng cho phát triển, các nước trên thế giới đều thực hiện nghiên cứu mô hình bệnh tật để có những chính sách cải thiện tốt nhất cho sức khỏe người dân từ các nước đang phát triển đến các nước đã phát triển. Hoa Kỳ với nền kinh tế phát triển, năm 2007, có mô hình bệnh tật đặc trưng của một nước đã phát triển. Nhóm bệnh lý không lây như tiểu đường, tim mạch, bệnh lý người già là nhóm bệnh lý chính. Trong các nguyên nhân tử vong, hàng đầu là bệnh tim, ung thư và đột quỵ [9].
Trong khi đó, mô hình bệnh tật tại bệnh viện tỉnh Champasac - Lào cho thấy bệnh lý nhập viện cao nhất năm 2005 là: viêm dạ dày ruột do nhiễm khuẩn (18,3%), sốt rét (17,5%), tai nạn giao thông (14,9%), sốt xuất huyết (11,5%), viêm đường hô hấp (10,2%), tiêu chảy (9,8%), viêm Amydal (7,1%), viêm ruột thừa (6,4%), tâm thần thần kinh (2,3%) và tăng huyết áp (2,0%) [10]. Điều này cho thấy mô hình bệnh tật ở các nước đang phát triển khác biệt so với các nước phát triển. Mô hình bệnh tật tại Việt Nam Mô hình chung Tại Việt Nam, hằng năm Bộ Y tế đều có thống kê các số liệu về số mắc, số chết và mô hình bệnh tật trong niên giám thống kê Y tế Việt Nam được tổng kết từ báo cáo y tế địa phương gởi về Bộ Y tế. Theo số liệu báo cáo từ năm 1996 – 2007, mô hình bệnh tật nước ta đã dần thay đổi.
Nhóm bệnh không lây nhiễm và tai nạn, chấn thương có xu hướng tăng. Tỷ lệ giữa các bệnh lây - không lây - tai nạn, chấn thương, ngộ độc năm 1996 là 37,63% - 50,02% - 12,35%. Tuy nhiên, đến năm 2007 tỷ lệ này là 25,73% - 60,65% - 13,62% [11]. Nguyên nhân là do sự phát triển đô thị hóa làm gia tăng các tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông.