ĐẶT VẤN ĐỀ Biếng ăn là một triệu chứng rất hay gặp ở trẻ em, có thể gặp ở nhiều lứa tuổi khác với nhiều hình thức bệnh lý khác nhau. Nghiên cứu của Carruth (1998) , Wright (2007) cho thấy có tới 20-50% trẻ ở độ tuổi 6-36 tháng có xuất hiện dấu hiệu biếng ăn [1],[2]. Theo nghiên cứu đánh giá tình trạng bệnh nhi đến khám hàng năm tại khoa Khám tư vấn dinh dưỡng trẻ em, Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ chẩn đoán biếng ăn ở trẻ đến khám chiếm 46,9% [3]. Trẻ biếng ăn sẽ dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi cho sự phát triển của trẻ như kém hấp thu các chất dinh dưỡng tại đường tiêu hóa, chậm phát triển cân nặng, nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng đến chiều cao; Nguy cơ SDD thể nhẹ cân, thể thấp còi cao hơn từ 2,5-3 lần và nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn ở những trẻ biếng ăn cao hơn so với trẻ không biếng ăn [4],[5].
Nhiễm trùng là nguyên nhân chính của bệnh tật và tử vong ở trẻ nhỏ đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [6]. Kháng sinh đã giúp phần điều trị bệnh và góp phần hạ thấp tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên trong quá trình điều trị có xu hướng sử dụng kháng sinh quá rộng rãi, phối hợp kháng sinh quá thường xuyên một cách không cần thiết, nhất là việc tự mua kháng sinh điều trị không có đơn của thầy thuốc là nguyên nhân của tình trạng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng [7],[8]. Với tần xuất mắc các bệnh nhiễm khuẩn tăng cao như hiện nay, cùng với tình trạng lạm dụng kháng sinh, gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, biếng ăn ở trẻ ngày càng được quan tâm chú ý.
Nghiên cứu của Barbut (2002) và McFarland (1998) cho thấy có đến 30% trường hợp có rối loạn vi khuẩn chí đường ruột, xuất hiện tiêu chảy sau sử dụng kháng sinh [9] [10]. Trẻ SDD, rối loạn tiêu hóa thường kéo theo suy giảm chức năng sản xuất và bài tiết các enzyme tại hệ tiêu hóa, mất các chất dinh dưỡng, có rối loạn vi khuẩn chí đường luan an 2 ruột. Bởi vậy những trẻ này thường có những dấu hiệu phân sống, còn cặn tinh bột, cặn mỡ, sợi cơ… chưa được tiêu hóa hết [11],[12]. Đây là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu VCDD, làm cho trẻ giảm cảm giác ngon miệng, suy giảm miễn dịch, chậm phát triển thể lực, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn; gây nên vòng xoắn bệnh lý SDD và thiếu VCDD, với các biểu hiện nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa; thiếu kẽm, thiếu sắt với SDD, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài [13],[14],[15].
Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng kháng sinh ở trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn có thể ảnh hưởng đến hoạt động của enzyme tiêu hóa, trong đó enzyme tiêu hóa polysacarit bị suy yếu nhiều nhất, sau đó là enzyme tiêu hóa protein [17]. Những rối loạn về ăn uống này đã dẫn đến tình trạng biếng ăn, thiếu VCDD, SDD ở trẻ em [16]. Trên thế giới, nhiều báo cáo tổng hợp với hàng trăm nghiên cứu về bổ sung probiotic trên trẻ có sử dụng kháng sinh, trong phòng và điều trị tiêu chảy ở trẻ em, cho thấy probiotic có tác dụng làm giảm nguy cơ tiêu chảy 15-40% ở trẻ sử dụng kháng sinh [16],[18]. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về phòng chống SDD, thiếu VCDD cũng được quan tâm mạnh mẽ trong thập kỷ qua.
Nhiều sản phẩm dinh dưỡng, bổ sung vi chất, enzyme tiêu hóa, lysine, kẽm… cũng được chứng minh là có tác dụng tích cực cải thiện tình trạng biếng ăn, tình trạng dinh dưỡng, VCDD cho trẻ SDD phù hợp với các vùng nông thôn, khó khăn [19],[20],[21],[22]. Tuy nhiên những nghiên cứu về đánh giá tình trạng biếng ăn, đặc biệt biếng ăn sau sử dụng kháng sinh, cũng như các nghiên cứu sản xuất các sản phẩm dinh dưỡng đặc hiệu cho nhóm đối tượng này còn chưa được quan tâm chú ý. Câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu là: ở trẻ em Việt Nam lứa tuổi 12-36 tháng, biếng ăn có thường xảy ra sau sử dụng kháng sinh hay không? Tình trạng dinh dưỡng và rối loạn vi khuẩn chí ở những trẻ này như thế nào? Việc nghiên cứu luan an 3 sản xuất những sản phẩm bổ sung dinh dưỡng giàu vi chất dinh dưỡng, kết hợp với men tiêu hóa sinh học và probiotic cho những trẻ biếng ăn sau sử dụng kháng sinh có cắt đứt được vòng xoắn bệnh lý, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ biếng ăn hay không? Vì lý do trên, đề tài “Hiệu quả can thiệp dinh dưỡng cho trẻ 12-36 tháng tuổi biếng ăn sau sử dụng kháng sinh tại khoa nhi Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh” được tiến hành. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 1.
Mô tả thực trạng biếng ăn, tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 12-36 tháng tuổi sau sử dụng kháng sinh tại Khoa nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh. So sánh hiệu quả cải thiện tình trạng biếng ăn, kẽm huyết thanh, hemoglobin ở trẻ 12-36 tháng tuổi biếng ăn sau sử dụng kháng sinh, khi được sử dụng 2 sản phẩm dinh dưỡng: MTH.VC (chứa enzyme tiêu hóa, probiotic, kẽm, lysin, vitamin B1) và VC (chứa kẽm, lysine, vitamin B1) tại Khoa nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Đánh giá sự thay đổi về cân nặng, tình trạng rối loạn tiêu hóa (vi khuẩn chí, loạn khuẩn, cặn dư phân) của việc bổ sung sảnphẩm MTH.VC và sản phẩm VC cho trẻ từ 12 đến 36 tháng tuổi có biếng ăn sau sử dụng kháng sinh. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.
Tỷ lệ biếng ăn, suy dinh dưỡng ở trẻ 12-36 tháng tuổi có sử dụng kháng sinh đến khám tại bệnh viện Bắc Ninh là phổ biến. Bổ sung sản phẩm chứa enzyme tiêu hóa, probiotic, kẽm, lysine, vitamin B1 có tác dụng cải thiện tình trạng biếng ăn, cân nặng, vi chất dinh dưỡng, tiêu hóa của trẻ sau 21 ngày can thiệp và sau 15 ngày ngừng can thiệp. Sản phẩm MTH.VC cải thiện tốt hơn sản phẩm VC về cải thiện tình trạng rối loạn tiêu hóa. luan an 4 Chương1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Biếng ăn: tiêu chuẩn chẩn đoán, nguyên nhân và hậu quả 1. Định nghĩa, tiêu chuẩn chẩn đoán biếng ăn: Biếng ăn là một trong những vấn đề của rối loạn ăn uống. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế WHO năm 1993 và Hội tâm lý Hoa Kỳ DSM-5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition, 2015), rối loạn ăn uống bao gồm 3 hội chứng chủ yếu là biếng ăn tâm thần (Anorexia Nervosa), rối loạn nhận thức ăn uống (Bingue) và ăn uống quá độ (Bullima). Bệnh có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, phổ biến nhất là trẻ nhỏ, lứa tuổi vị thành niên, một số nhóm khác như người trưởng thành, cao tuổi cũng gặp nhưng với tỷ lệ thấp hơn [23],[24],[25],[26].
Biếng ăn ở trẻ vị thành niên và người lớn thường liên quan đến tâm lý và tâm thần. Với trẻ em dưới 6 tuổi, cho đến nay chưa có một chẩn đoán biếng ăn chính thức và chưa phân loại được các loại biếng ăn. Dưới đây là một số chẩn đoán biếng ăn cho trẻ em mà được các chuyên gia nhi khoa trên thế giới áp dụng. Chẩn đoán biếng ăn dựa vào phân loại Chatoor Chatoor đưa ra phân loại biếng ăn, gồm có 6 nhóm không bao gồm tất cả nhưng nó bao phủ hầu hết các dạng biếng ăn thường gặp.
Phân loại biếng ăn của Chatoor, bao gồm: (1) Biếng ăn do điều chỉnh trạng thái: Tiêu chí chẩn đoán: - Khó khăn ăn uống của trẻ xuất hiện trong những tháng đầu đời và kéo dài ít nhất 2 tuần. - Trẻ khó khăn trong việc đạt được và duy trì một trạng thái tỉnh táo, ổn định trong lúc ăn; trẻ quá buồn ngủ hoặc là quá kích động hoặc rất khó chịu khi ăn. luan an 5 - Trẻ không đạt được cân nặng phù hợp với lứa tuổi hoặc sụt cân. - Khó khăn ăn uống của trẻ không thể giải thích được do bệnh lý thực thể.
(2) Biếng ăn do thiếu đồng cảm giữa người cho ăn và trẻ: Tiêu chí chẩn đoán: - Dạng biếng ăn này thường quan sát thấy trong những năm đầu đời. - Trẻ nhũ nhi thiếu các dấu hiệu phát triển về giao tiếp thích hợp (ánh mắt, mỉm cười, nói chuyện) với người chăm sóc. - Trẻ nhũ nhi chậm tăng trưởng đáng kể. - Người chăm sóc ban đầu thường không nhận thấy hoặc phủ nhận các vấn đề về nuôi ăn và tăng trưởng của trẻ.
- Sự thiếu tăng trưởng và thiếu các mối quan hệ không phải chỉ so rối loạn thực thể hay rối loạn phát triển toàn thân. (3) Biếng ăn nhũ nhi: Tiêu chí chẩn đoán: - Nhũ nhi trong tuổi tập đi từ chối ăn đủ khối lượng thức ăn cần thiết ít nhất trong 1 tháng. - Việc từ chối thức ăn thường bắt đầu vào giai đoạn chuyển tiếp sang ăn bằng muỗng hoặc tự ăn, điển hình từ lúc 6 tháng đến 3 tuổi. - Trẻ hiếm khi đòi ăn, không thích thức ăn và việc ăn.
Thích chơi, chạy xung quanh, thích nói chuyện hơn là ăn. - Trẻ chậm tăng trưởng rõ rệt (SDD cấp hay mạn tính theo tiêu chuẩn của Waterlow (1997) hoặc trọng lượng của trẻ lệch quá 2 bách phân vị trong giai đoạn 2-6 tháng tuổi). - Từ chối thức ăn không khởi đầu sau một chấn thương vùng hầu họng hay ống tiêu hóa. - Việc từ chối thức ăn không do một bệnh lý nền khác.
luan an 6 (4) Ác cảm với thức ăn: Tiêu chí chẩn đoán: - Biếng ăn đặc trưng bởi từ chối một số thức ăn nhất định của trẻ do mùi, độ mịn, nhiệt độ hay khẩu vị của thức ăn trong vòng tối thiểu 1 tháng. - Khởi đầu của việc từ chối thức ăn diễn ra trong khi bắt đầu một thức ăn mới hay một loại thức ăn mà trẻ có ác cảm. - Phản ứng của trẻ đưa đến ác cảm với thức ăn xếp loại từ nhăn mặt hoặc phun thức ăn ra ngoài đến nôn khan và nôn ói. Sau phản ứng ác cảm, trẻ từ chối luôn cả những thức ăn trẻ vẫn thường dùng và từ chối luôn các thức ăn có màu sắc, hình thức hoặc mùi vị tương tự.
Hậu quả trẻ từ chối hầu hết thức ăn. - Trẻ miễn cưỡng ăn thức ăn mới nhưng khi đưa thức ăn trẻ thích thì trẻ ăn nhanh hơn.