mở đầu cho các khám phá về VCDD sau này trong suốt những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XIX. Cho tới những năm 50 của thế kỷ XIX, phần lớn các VCDD cần thiết cho cơ thể con người và đặc tính của chúng đã được khám phá [12]. Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization – WHO) định nghĩa: VCDD là những chất cơ thể chỉ cần với lượng rất nhỏ nhưng nó giúp cơ thể tạo ra các enzym, các hormon và các chất khác cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển, mà nếu thiếu chúng sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đối với sức khoẻ [13]. 4 luan an Nhìn chung,VCDD là thuật từ chỉ các vitamin và chất khoáng cần thiết cho cơ thể.
Cơ thể cần khoảng 15 loại chất khoáng khác nhau (trong đó có 13 chất khoáng vi lượng nằm trong nhóm VCDD, 2 chất còn lại là đa lượng) và 14 loại vitamin khác nhau. Các loại VCDD này cơ thể con người không thể tự tổng hợp được mà phải lấy từ thức ăn [14]. Trong số các VCDD thì vitamin A, sắt, kẽm, Iod là các VCDD quan trọng nhất mà tình trạng thiếu hụt gây ra các vấn đề có YNSKCĐ trên toàn cầu [15]. Sự thiếu hụt vitamin A, sắt, kẽm là nguy cơ lớn đối với sức khoẻ, sự tăng trưởng và phát triển cả về thể lực và trí tuệ của trẻ em.
Đặc điểm lứa tuổi học đường và vai trò dinh dưỡng đối với lứa tuổi này Giai đoạn học đường hoặc tuổi thiếu nhi là giai đoạn từ 6-11 tuổi. Năm 2019, số trẻ em tuổi học đường trên thế giới là 694 triệu trẻ em, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số dân số thế giới [16]. Sức khỏe, sự phát triển của trẻ em là phản ánh sự tương tác của nhiều yếu tố gồm di truyền, dinh dưỡng, chất lượng chăm sóc, hoàn cảnh xã hội, chính trị, kinh tế, chăm sóc sức khỏe, dự phòng bệnh tật và môi trường. Có thể nói giai đoạn 6-11 tuổi là một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của mỗi cá thể [17], là giai đoạn phát triển tối đa các tiềm năng di truyền liên quan đến tầm vóc thể lực và trí tuệ.
Trẻ em tuổi học đường do vậy có nhu cầu cao về các chất dinh dưỡng. Sự phát triển tối ưu về thể chất và trí tuệ trong giai đoạn này phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng tốt [18]. Đây là giai đoạn tích lũy chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển tiếp theo khi cơ thể trẻ bắt đầu dậy thì, tăng trưởng nhanh, phát triển trí tuệ, tình cảm nhanh do vậy cũng là giai đoạn rất dễ tổn thương về dinh dưỡng, dễ bị các thiếu hụt về VCDD. Đây cũng là giai đoạn quan trọng để trẻ vị thành niên, các em gái chuẩn bị bước vào giai đoạn làm mẹ sau này có một tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng tối ưu chuẩn bị cho các thế hệ tương lai.
Trong giai đoạn này, dinh dưỡng có tầm quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển, giúp trẻ bắt kịp đà tăng trưởng, phòng chống suy dinh dưỡng (SDD), thừa cân, béo phì, phát triển tốt về trí tuệ, cảm xúc và tăng cường miễn dịch chống đỡ với nhiễm khuẩn. Nghiên cứu ở các nước đang phát triển cho thấy chế độ ăn của trẻ tuổi học đường kém đa dạng, ít thức ăn động vật, nghèo rau 5 luan an quả tươi nhưng lại quá thừa các thức ăn sẵn thừa năng lượng [19]. Do vậy, dinh dưỡng đủ năng lượng, giàu VCDD góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở các nước đang phát triển. Chăm sóc dinh dưỡng cho giai đoạn tuổi học đường đặc biệt đảm bảo đủ nhu cầu VCDD cho trẻ cần được chú trọng để đảm bảo trẻ phát triển tối ưu, góp phần nâng cao tầm vóc và trí tuệ cho người Việt Nam.
Gánh nặng gấp ba về dinh dưỡng Các dạng suy dinh dưỡng khác nhau góp phần gây ra gánh nặng kép (double burden) và gánh nặng gấp ba (triple burden) về dinh dưỡng. Gánh nặng kép về dinh dưỡng được xác định bằng sự tồn tại chung của thừa cân và béo phì và tình trạng suy dinh dưỡng; còn gánh nặng gấp ba đề cập đến sự tồn tại của cả thừa dinh dưỡng, suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng và đều làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe khác nhau [20]. Thực tế, tình trạng thừa dinh dưỡng, suy dinh dưỡng và thiếu VCDD cùng tồn tại trong cùng một quốc gia, một cộng đồng và thậm chí trong cùng một cá nhân [21]. Ví dụ, trẻ em thấp còi thường kèm theo thiếu VCDD và có nguy cơ bị thừa cân khi trưởng thành.
Tình hình thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ tuổi học đường 1.Trên thế giới Sức khỏe và dinh dưỡng tốt trong suốt những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường đã góp phần vào thành tích học tập, sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em[22]. Trường học là một môi trường thực tiễn giúp cung cấp các giải pháp can thiệp tích hợp, chẳng hạn như các bữa ăn đủ dinh dưỡng, sự bổ sung hoặc tăng cường vi chất, vấn đề kiểm soát nhiễm khuẩn. để cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng của học sinh. Tuy vậy, SDD và thiếu VCDD ở trẻ em lứa tuổi học đường vẫn đang là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (YNSKCĐ).
Hầu hết đối tượng bị thiếu vi chất gặp ở các nước thu nhập thấp, điều kiện kinh tế còn khó khăn, chế độ ăn và chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế. Thiếu nhiều vitamin và khoáng chất thường xảy ra đồng thời và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong suốt quá trình tăng trưởng và 6 luan an phát triển của trẻ, có thể gây ra một số hậu quả như làm tăng nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng (tiêu chảy, viêm phổi, ho, sốt, sởi…), ảnh hưởng tới sự phát triển thể lực, nhận thức và kết quả học tập của các em. Thiếu hụt VCDD phổ biến nhất và gây ảnh hưởng rõ rệt lên sự phát triển thể lực và thành tích học tập của trẻ bao gồm: vitamin A, sắt, kẽm và iod. Thiếu vitamin A và mối liên quan đến các bệnh về mắt từ lâu cũng đã được nghiên cứu và chứng minh.
Vitamin A, đặc biệt dạng acid retinoic là dạng hoạt động ở hầu hết các nhân tế bào trong cơ thể và có vai trò như hoạt động của hormon thúc đẩy tăng trưởng [23]. Do đó, thiếu vitamin A ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể. Theo ước tính, cho tới năm 2005 trên thế giới có 190 triệu trẻ em tuổi học đường bị thiếu vitamin A; 5,2 triệu trẻ em bị quáng gà, và 1 đến 2 triệu trẻ tử vong do những bệnh lý liên quan đến thiếu vitamin A [24]. Hiện nay, thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt vẫn là một vấn đề YNSKCĐ quan trọng trên thế giới.
Theo UNICEF, có khoảng 750 triệu trẻ em bị thiếu máu do thiếu sắt. Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em vẫn rất cao: 53% ở Ấn Độ, 37,9% ở Trung Quốc,45% ở Indonesia, và 31,8% ở Philipine[25], trong khi đó các nước đã phát triển tỷ lệ này tương đối thấp: Mỹ: 3-20%, Hàn Quốc: 15% [26]. Ở Trung Quốc, theo điều tra (1992) có khoảng 20% dân số bị thiếu máu thiếu sắt, trong đó trẻ em tuổi học đường 6-10 tuổi là 40% [27]. Châu Phi và châu Á là những nơi có tỷ lệ thiếu máu ở trẻ học đường cao nhất.
Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ học đường ở Tanzania là 79,6% [28], Nigeria 82,6% [29], Uganda 47% [30]…,ở một số nước châu Á như Ấn Độ 53% [31], Pakistan 59% [32]. Năm 2015, một nghiên cứu cắt ngang thực hiện ở Kersa, Ethiopia cho thấy tỷ lệ thiếu máu chung ở trẻ học đường là 27,1%: 13,8% thiếu máu nhẹ; 10,8% ở mức trung bình và 2,3% thiếu máu nặng. Trẻ tiểu học là nhóm tuổi có nguy cơ thiếu máu cao nhất (tỷ lệ thiếu máu là 34,9% so với tỷ lệ này ở nhóm 10-14 tuổi là 23,6% [33]. Một nghiên cứu khác ở thị trấn Jimma, Ethiopia thu kết quả tương tự: tỷ lệ thiếu máu ở nhóm trẻ 6-11 tuổi là 40,5%,ở nhóm trẻ 12-14 tuổi là 30,1% [34].
Tỷ lệ thiếu máu cao ở trẻ tiểu học 7 luan an là do tỷ lệ thiếu máu ở trẻ tiền học đường (<5 tuổi) ở Ethiopia khá cao (44%) và có thể trẻ bắt đầu tới trường mà chưa được điều trị thiếu máu [35]. Thiếu kẽm cũng đang là vấn đề có YNSKCĐ ảnh hưởng tới một tỷ lệ không nhỏ trẻ em, trong đó có trẻ học đường. Kẽm là một nguyên tố vi lượng cần thiết, là một cofactor trong tổng hợp một loạt các enzym, DNA và RNA, tham gia vào nhiều chức năng quan trọng trọng cơ thể. Do đó, thiếu kẽm ở trẻ em gây ra ảnh hưởng lâu dài [36].
Thiếu kẽm liên quan đến sự tăng trưởng kém ở tuổi thơ ấu (chậm lớn, còi xương,SDD, chậm phát triển chiều cao), giảm khả năng miễn dịch và tăng tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm [37]. Các nghiên cứu cho thấy tình trạng kẽm hiện đang phổ biến ở những nước có thu nhập thấp, các nước đang phát triển [38]. Tỷ lệ ước lượng dân số thiếu kẽm cao nhất ở khu vực như Nam Á, tiếp theo là Bắc Phi và Trung Đông. Đông Nam Á là khu vực có nguy cơ thiếu kẽm cao đứng thứ ba trên toàn thế giới [39].
Một nghiên cứu ở miền Bắc Ethiopia cho thấy có tới 47% trẻ học đường bị thiếu kẽm [40]. Một số nghiên cứu khác cho thấy tình trạng thiếu kẽm ở trẻ em trong độ tuổi đi học và thanh thiếu niên [41-43]. Có mối liên quan giữa nồng độ kẽm thấp trong suốt thời thơ ấu và bệnh truyền nhiễm cũng như ảnh hưởng tới phát triển nhận thức [44]. Theo WHO, khi tỷ lệ thiếu kẽm ở cộng đồng trên 20% thì cần có các can thiệp để cải thiện tình trạng thiếu kẽm [45].Tại Việt Nam Trong những năm qua, Việt Nam có mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và từ năm 2010 Việt Nam đã trở thành một nước có thu nhập trung bình thấp.
Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% vào đầu năm 1990 [46] xuống còn 11,1% vào năm 2012 [47]. Việt Nam cũng đang phấn đấu để nhanh chóng trở thành nước có thu nhập trung bình cao. Song song với sự phát triển kinh tế xã hội, vấn đề y tế và sức khỏe cũng được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, thiếu VCDD vẫn là vấn đề có YNSKCĐ ở Việt Nam.
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tình trạng thiếu VCDD (vitamin A, sắt, kẽm, i-od…) ở nước ta vẫn còn cao.