Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử phát triển nhân trắc học Nhân trắc học là môn khoa học về phương pháp đo đạc trên cơ thể người và sử dụng các thuật toán để phân tích kết quả đo đạc nhằm tìm hiểu quy luật về sự phát triển hình thái, thể lực của cơ thể con người. Những khái niệm đầu tiên về hình thái và thể lực cơ thể thực chất đã được hình thành từ ngàn xưa, có thể nói ngay từ khi con người biết đo chiều cao của mình, biết mình nặng bao nhiêu là đã bắt đầu biết nghiên cứu về hình thái và thể lực. Những khái niệm này ngày càng được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện hơn để trở thành những nền tảng chủ yếu cấu thành môn nhân trắc học [5], [7].
Những khái niệm về hình thái và kích thước của cơ thể đã được hình thành từ rất lâu, có thể nói ngay khi con người biết đo đạc chiều cao và cân nặng của mình là đã có sự xuất hiện của nhân trắc học. Tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta chia thành các loại: Nhân trắc học chuyên nghiên cứu hình thái các chủng tộc loài người; nhân trắc học đường nghiên cứu về thể lực và các tiêu chuẩn để kiểm tra sức khỏe của lứa tuồi học sinh [71], [90], [96]; nhân trắc học ứng dụng sản xuất dụng cụ học tập, bàn ghế, trang phục [17], [50], [66], [72], [84], [87]…; nhân trắc thể dục thể thao nghiên cứu các tiêu chuẩn để kiểm tra sức khỏe của vận động viên, xác định thiên hướng để chọn vận động viên vào môn thể thao phù hợp nhất [75]; nhân trắc nghề nghiệp giúp xác định nghề nghiệp thích hợp với từng người [40], [53], [73], [92]; nhân trắc y học [35], [61], [74], [91] nhằm nghiên cứu các quy luật phát triển của cơ thể trong từng thời kỳ, những thay đổi về hình thái do bệnh lý [23], [25], phân loại các tạng người liên quan đến chức năng và khả năng nhiễm 5 một số bệnh, đánh giá đúng tình trạng bình thường hay bệnh tật của con người [14], [27]…. Các nghiên cứu về sự phát triển của con người hình thành từ rất sớm như Roederer 1753, Diezt 1757, Joseph Clake 1786 đã nghiên cứu về cân nặng và tỉ lệ các kích thước cơ thể [35]. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài của lịch sử, con người chỉ làm nhân trắc một cách ngẫu nhiên, hay nói khác hơn thời bây giờ nhân trắc chưa trở thành môn khoa học.
Nhân trắc học chỉ thật sự trở thành môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác khi R. Fisher, một trong những người sáng lập môn di truyền học quần thể, xây dựng môn thống kê toán học ứng dụng vào sinh học vào đầu thế kỷ XX [35]. Năm 1961, Nold và Volsuski đã nghiên cứu ảnh hưởng của hoàn cảnh địa lý đến sự tăng trưởng chiều cao cơ thể và chứng minh những yếu tố ảnh hưởng đó là có thật. Cũng trong thời gian này Graef và Cone đã tập hợp được nhiều số liệu chứng tỏ tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến sự gia tăng chiều cao và cân nặng của cơ thể.
Năm 1962, Baskirop đã cho ra đời cuốn “Học thuyết về sự phát triển thể lực con người”. Cuốn sách này bàn về các qui luật phát triển cơ thể người dưới ảnh hưởng của những điều kiện sống [8]. Vanderael người Bỉ đã viết cuốn sách giáo khoa về nhân trắc học (1964), đưa ra những nhận xét toàn diện về các qui luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực theo các chỉ số đánh giá thể lực với các đặc trưng thống kê trung bình cộng và độ lệch chuẩn. Đến cuối thế kỷ XIX, theo Zack H.
thì Buffon là người đầu tiên trên thế giới nghiên cứu ở lứa tuổi trẻ em đến trường. Rog-Pernot đã xuất bản cuốn sách “Tăng trưởng phương pháp và sự nối 6 tiếp” đề cập tới các phương pháp nghiên cứu về sự tăng trưởng của cơ thể, đặc biệt là nghiên cứu thể lực ở trẻ em. Đây là một trong những cuốn sách hoàn chỉnh nhất, và thời sự nhất trong lĩnh vực nhân trắc học lúc bấy giờ. Bước vào thế kỷ XX, cùng với sự phát triển các khoa học khác có liên quan đến sức lớn của trẻ em như di truyền, sinh lý, sinh hoá, toán thống kê, … thì môn nhân trắc học cũng được đẩy mạnh.
Những hội, ban, ngành được thành lập nghiên cứu về nhân trắc học, trong đó có những bộ phận chuyên nghiên cứu về cơ thể và tầm vóc học sinh [8]. Đặc biệt, Rudolf Martin, nhà nhân học đi tiên phong người Đức đã đề xuất một hệ thống các phương pháp và dụng cụ để đo đạc kích thước cơ thể người. Năm 1919, ông đã xuất bản cuốn sách “Giáo trình nhân trắc học”, đó là cuốn sách đầu tiên trình bày một cách đầy đủ các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học với sự xâm nhập của toán học, đặc biệt là thống kê. Năm 1924, ông cho ra đời cuốn “Chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”.
Hai cuốn sách này trở thành kim chỉ nam cho ngành nhân trắc học và Rudolf Martin được coi là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại [82]. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, các nước phương tây đã vận dụng các số liệu nhân trắc vào thiết kế công nghiệp phục vụ cho chiến tranh. Đến những năm 40 của thế kỷ XX, không có một thiêt kế công nghiệp nào mà không sử dụng các số liệu nhân trắc. Nhân trắc học được ứng dụng phổ biến vào các lĩnh vực: tim mạch, tiểu đường, ung thư, đánh giá tình trạng dinh dưỡng … Với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về nhân trắc học ở một số nước châu Á, châu Phi, châu Âu, năm 1960 nhà nhân trắc học người Pháp Olivier đã viết cuốn “Thực hành nhân trắc”, trong đó ông đã phân tích và đưa ra những phương pháp nghiên cứu nhân trắc một cách khá đầy đủ và được các nhà nhân trắc khắp nơi trên thế giới ứng dụng rộng rãi.
7 Ở Việt Nam, nhân trắc học bắt đầu được chú ý từ rất sớm (đầu thế kỷ XX) bằng một số công trình lẻ tẻ về đo đạc một số kích thước như chiều cao, cân nặng và vòng ngực của học sinh ở Hà Nội [5]. Trong thời kỳ này, hầu hết các công trình nghiên cứu đều do một số bác sĩ người Pháp và người Việt Nam thực hiện tại ban nhân học thuộc Viện Viễn đông bác cổ và tại Viện Giải phẫu học thuộc Trường đại học Y khoa Hà Nội. Những kết quả nghiên cứu về các kích thước cơ thể người các dân tộc Việt Nam, Hơ mông, Ê đê, Chàm, Thượng… được đăng rải rác trong 9 tập tạp chí “Công trình nghiên cứu của Viện Giải phẫu học Trường đại học Y khoa Đông Dương” xuất bản từ 1936 – 1944 do P. Huard làm chủ biên.
Các cuốn sách “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương” do P. Huard và Bigot biên soạn năm 1938 và “Hình thái học người và giải phẫu mỹ thuật học” của hai tác giả P. Huard và Đỗ Xuân Hợp đã tập hợp được nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc học trên người Việt Nam. Những công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đóng góp tài liệu cho việc tìm hiểu các đặc điểm nhân trắc học và hình thái học nói chung của người Việt và một số dân tộc ít người ở nước ta.
Mặt khác, những tài liệu đó cũng góp phần vào việc bước đầu tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình đó còn lẻ tẻ, chưa hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu lúc bấy giờ còn đơn sơ, xử lý thống kê toán học chưa triệt để, chính xác bởi vậy các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc (1945 – 1954), giáo sư Đỗ Xuân Hợp – nhà nhân trắc học đầu tiên của Việt Nam, đã cùng với một số bác sĩ và sinh viên tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân và may áo quần, giày mũ cho bộ đội [5]. 8 Những năm sau giải phóng, các đề tài nghiên cứu được mở rộng theo nhiều chiều hướng.
Hướng nghiên cứu nhân trắc chủ yếu nhằm phục vụ y học tập trung ở bộ môn Giải Phẫu học của các trường Đại học Y Khoa Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình,… Hướng nghiên cứu nhân trắc học phục vụ điều tra cơ bản con người Việt Nam, các đặc điểm nhân chủng học của các dân tộc, tìm hiểu nguồn gốc người Việt Nam được thực hiện chủ yếu ở Bộ môn Sinh học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Viện Khảo cổ học, Viện Bảo tàng lịch sử, trường Đại học Y Khoa Hà Nội,… Trong đó, Viện Khoa học kỹ thuật, Viện Bảo hộ lao động, Viện Vệ sinh dịch tể,… là các đơn vị đi sâu nghiên cứu nhân trắc phục vụ lao động. Riêng hướng nghiên cứu phục vụ quốc phòng, trong nhiều năm cũng đã được tiến hành tại bộ môn Giải phẫu Học viện Quân Y. Hai hội nghị về hằng số sinh học người Việt Nam đã được tổ chức tại Hà Nội năm 1967 và 1972 dưới sự chủ trì của Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng. Hàng trăm công trình nghiên cứu về nhân trắc học đã được tập hợp để báo cáo trong hai hội nghị đó và được đăng lại trong cuốn “Hằng Số Sinh Học Ở Người Việt Nam” (1975) và xem như đó là những hằng số sinh học người Việt Nam bình thường [11].
Cùng thời điểm này, 1974 Nguyễn Quang Quyền đã xuất bản cuốn “Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam”. Cuốn sách là sự tập hợp những công trình nghiên cứu nhân trắc học trong vòng mấy chục năm của các tác giả và đồng nghiệp khác. “Atlas Nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” ra đời 1986 do Võ Hưng làm chủ biên. Cuốn sách này đã cung cấp khá đầy đủ các số liệu về hình thái cơ thể người Việt Nam chủ yếu trên đối tượng nghiên cứu là công nhân ở các lứa tuổi khác nhau, làm các nghề nghiệp khác nhau và sống ở những vùng sinh thái khác nhau.
9 Đối với tất cả những người làm nghiên cứu nhân trắc học ở nước ta những cuốn sách trên là một tài liệu vô cùng quí giá và bổ ích. Bởi vì, nó trình bày khá đầy đủ những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học lúc bấy giờ và nêu lên các số liệu, nhận định được nghiên cứu trên người Việt Nam.