Tổng quan luận án
Đề tài "Nghiên cứu số đo và chỉ số nhân trắc của học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Giao Hạ thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Võ Huỳnh Trang, bảo vệ tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022, thuộc chuyên ngành Giải phẫu người (mã số: 62720104).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nhân trắc học là một bộ phận của nhân học hình thể, chuyên nghiên cứu về các số đo cơ thể và ứng dụng các thuật toán thống kê để phân tích các kết quả đo đạc nhằm tìm ra quy luật phát triển thể lực của con người. Đo lường cơ thể là phương pháp quan trọng để đánh giá tình trạng sức khỏe, thể lực và dinh dưỡng của cá nhân cũng như quần thể dân cư, đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc thiết kế, sản xuất các công cụ, phương tiện sinh hoạt, học tập và trang phục học đường.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về nhân trắc học đã được triển khai từ sớm nhưng phần lớn chỉ tập trung ở khu vực miền Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu nhân trắc tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn rất hạn chế; hầu hết các ứng dụng thực tiễn tại đây đều phải dựa vào kết quả chung trên thế giới hoặc các vùng miền khác. Do đó, việc triển khai một nghiên cứu toàn diện nhằm giải quyết câu hỏi: "Các số đo và chỉ số nhân trắc của học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long có gì khác với các nghiên cứu trước đây, các thành phố khác và trên thế giới không?" là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Xác định các số đo nhân trắc của học sinh từ 6 đến 17 tuổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm học 2018-2019.
- Xác định các chỉ số nhân trắc của học sinh từ 6 đến 17 tuổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm học 2018-2019.
- Đánh giá sự thay đổi của các số đo theo thời gian và xây dựng phương trình hồi quy tính các số đo theo tuổi và giới tính.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh từ 6 đến 17 tuổi đang theo học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) tại Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm các nhóm học sinh thuộc dân tộc Kinh, Khơme và Chăm.
- Phạm vi không gian: Các trường tiểu học, THCS và THPT thuộc 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu được triển khai từ năm 2015 đến năm 2019, trong đó dữ liệu cắt ngang chính được thu thập trong năm học 2018-2019 kết hợp với theo dõi dọc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử phát triển nhân trắc học trên thế giới
Tài liệu tổng quan của luận án hệ thống hóa các mốc phát triển chính của nhân trắc học quốc tế:
- Thời kỳ khởi đầu: Các nghiên cứu về kích thước và cân nặng cơ thể đã xuất hiện từ thế kỷ XVIII với Roederer (1753), Diezt (1757), Joseph Clake (1786). Năm 1754, Christian Friedrich Jumpert trình bày số liệu về cân nặng, chiều cao trẻ từ 1 đến 25 tuổi trong luận án tiến sĩ "Nghiên cứu giới hạn của sự phát triển cơ thể động vật", được xem là nghiên cứu cắt ngang đầu tiên. Buffon là người đầu tiên nghiên cứu lứa tuổi học sinh, và Rog-Pernot xuất bản cuốn "Tăng trưởng phương pháp và sự nối tiếp". Philibert Guenauze Montheillard (Pháp) thực hiện nghiên cứu theo dõi dọc đầu tiên trên con trai từ lúc sinh đến 18 tuổi (1757–1774). Godin (1935) theo dõi 10 học sinh nam tại trường thiếu sinh quân St. Hipolite le Fort trong 5 năm (13–18 tuổi).
- Hình thành phương pháp luận chuẩn hóa: Nhân trắc học trở thành môn khoa học thực thụ khi R. Fisher xây dựng toán thống kê ứng dụng vào sinh học. Rudolf Martin xuất bản "Giáo trình nhân trắc học" (1919) và "Chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê" (1924), đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại. Năm 1960, Olivier xuất bản "Thực hành nhân trắc". Nold và Volsuski (1961) chứng minh ảnh hưởng của địa lý đến chiều cao; Baskirop (1962) xuất bản "Học thuyết về sự phát triển thể lực con người"; Vanderael (1964) xây dựng thang phân loại thể lực theo độ lệch chuẩn.
- Các nghiên cứu hiện đại: Đại học Harvard và Đại học Colorado tiến hành theo dõi dọc trẻ từ 4 đến 16 tuổi trong thập niên 70–90. Năm 2000, nghiên cứu triển vọng 6 năm tại đảo Crete (Bêlarut/Hy Lạp) trên 1.046 học sinh ghi nhận tình trạng thừa cân, béo phì. Năm 2006 và 2007, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố bộ chuẩn tăng trưởng trẻ em (kèm phần mềm Anthro 2005). Các nghiên cứu khác bao gồm Erol Burdurlu (Thổ Nhĩ Kỳ) đo 23 thông số nhân trắc trên 668 học sinh; O. Oluwakemi (Nigeria, 2008); F Akor và cộng sự (Nigeria, 2010); Walid El Ansari và cộng sự (Ai Cập, 2010); Limpopo (Nam Phi, 2012); Angelina Opoku Danquah và cộng sự (Ghana, 2013); Obiakor-Okeke P. N (Nigeria, 2014); Kashmala Khan và cộng sự (Pakistan, 2016); Abdolreza Gilavand (Iran, 2016); Đại học Canberra (Úc, 2016) trên 29.285 trẻ từ 5–12,5 tuổi; Naser Hasheminejad và cộng sự (Iran, 2017); Ekpa Emmanuel (Nigeria, 2017); Dr. MassratFirdos và cộng sự (Ấn Độ, 2018).
Tình hình nghiên cứu nhân trắc học tại Việt Nam
- Trước năm 1975: Đầu thế kỷ XX, các công trình của P. Huard và Bigot (1938), P. Huard và Đỗ Xuân Hợp trong "Hình thái học người và giải phẫu mỹ thuật học" ghi nhận kích thước cơ thể các dân tộc Việt Nam qua 9 tập tạp chí của Viện Giải phẫu học Đông Dương (1936–1944). Giai đoạn 1945–1954, Đỗ Xuân Hợp nghiên cứu nhân trắc thanh niên phục vụ quân sự. Năm 1967 và 1972, Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ trì hai Hội nghị về hằng số sinh học người Việt Nam, xuất bản thành sách năm 1975. Năm 1974, Nguyễn Quang Quyền xuất bản cuốn "Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam".
- Sau năm 1975: Võ Hưng chủ biên cuốn "Atlas Nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động" (1986). Thẩm Thị Hoàng Điệp và Nguyễn Quang Quyền theo dõi dọc 101 học sinh Hà Nội từ 6 đến 17 tuổi (1980–1990). Năm 1999, Lê Nam Trà chủ trì đề tài xây dựng hằng số sinh học mới; trong đó số liệu tỉnh Cần Thơ do Nguyễn Phi Hùng thực hiện và công bố năm 2000. Lê Đình Vấn (2002) nghiên cứu học sinh 6–17 tuổi tại Thừa Thiên Huế; Trần Việt Cường (2003) nghiên cứu học sinh THCS tại Long An; Nguyễn Trường An (2004) khảo sát người miền Trung từ 15 tuổi trở lên; Trương Đình Kiệt, Lê Đình Vấn và cộng sự (2009) nghiên cứu 4.137 thanh thiếu niên; Trần Thị Xuân Ngọc (2012) nghiên cứu dinh dưỡng học sinh Hà Nội; Mai Văn Hưng và cộng sự (2010–2013) nghiên cứu nhân trắc học sinh THPT các vùng sinh thái phía Bắc; Đồng Hương Lan (2016) nghiên cứu học sinh chuyên bắc miền Trung; Nguyễn Thị Tường Loan (2018) nghiên cứu 6.514 học sinh tiểu học tại Bình Định.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Các công trình nhân trắc học sinh quy mô lớn tại Đồng bằng sông Cửu Long còn rất thưa thớt, hầu hết chỉ khảo sát cục bộ tại một tỉnh hoặc một nhóm tuổi hẹp. Luận án thực hiện nghiên cứu toàn diện trên địa bàn 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, khảo sát liên tục từ 6 đến 17 tuổi, phân tích đa dân tộc (Kinh, Khơme, Chăm), kết hợp cả thiết kế cắt ngang và theo dõi dọc để thiết lập phương trình hồi quy và so sánh sự thay đổi thể lực sau 20 năm so với nghiên cứu Cần Thơ năm 2000.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Các mốc giải phẫu và chỉ số nhân trắc học
Luận án áp dụng các tiêu chuẩn đo lường quốc tế (theo International Standards for Anthropometric Assessment, 2001 và Anthropometric Techniques, 2014) với các mốc giải phẫu chính:
- Mỏm cùng vai: Điểm cao nhất trên đường viền ngoài cùng của vai.
- Đầu trên xương quay: Giao điểm của mặt phẳng qua nếp gấp khuỷu và cạnh ngoài cẳng tay.
- Điểm cao nhất của mào chậu: Điểm bên và cao nhất ở mặt trên bờ mào chậu.
- Đỉnh đầu và mặt phẳng Frankfort: Xác định khi đường thẳng từ bờ dưới ổ mắt đến bờ trên lỗ ống tai ngoài nằm trên mặt phẳng ngang.
Các kích thước và chỉ số nhân trắc được thu thập và tính toán bao gồm:
- Số đo trực tiếp: Cân nặng (kg), Chiều cao đứng (cm), Chiều cao ngồi (cm), Vòng đầu (cm), Vòng ngực (vòng ngực 2 lứa tuổi dậy thì, đo khi hít vào/thở ra/bình thường), Vòng eo (cm), Vòng mông (cm), Đường kính ngang ngực, Đường kính ngực trước sau, Chiều dài chi dưới (Chiều dài chi dưới = Chiều cao đứng − Chiều cao ngồi).
- Chỉ số khối cơ thể (BMI): $\text{BMI} = \frac{\text{Cân nặng (kg)}}{[\text{Chiều cao đứng (m)}]^2}$, đánh giá theo chuẩn WHO (1998) và IDI & WPRO (2000) cho người châu Á.
| Phân loại BMI |
WHO (1998) |
IDI & WPRO (2000) |
| Cân nặng thấp (gầy) |
< 18,5 |
< 18,5 |
| Bình thường |
18,5 – 24,9 |
18,5 – 22,9 |
| Thừa cân |
$\ge$ 25 |
$\ge$ 23 |
| Tiền béo phì |
25 – 29,9 |
23 – 24,9 |
| Béo phì độ I |
30 – 34,9 |
25 – 29,9 |
| Béo phì độ II |
35 – 39,9 |
$\ge$ 30 |
| Béo phì độ III |
$\ge$ 40 |
- |
- Chỉ số Skélie (Manouvrier): $\text{Chỉ số Skélie} = \frac{\text{Chiều dài chi dưới}}{\text{Chiều cao ngồi}} \times 100$.
| Phân loại hình thái |
Chuẩn quốc tế |
Chuẩn người Việt Nam 18–25 tuổi (Nguyễn Quang Quyền, 1974) - Nam |
Chuẩn người Việt Nam 18–25 tuổi (Nguyễn Quang Quyền, 1974) - Nữ |
| Chân rất ngắn |
< 74,9 |
< 83,3 |
< 78,0 |
| Chân ngắn |
< 84,9 |
83,4 – 87,8 |
78,1 – 82,7 |
| Chân vừa |
85,0 – 89,9 |
87,9 – 92,8 |
82,8 – 87,4 |
| Chân dài |
> 90,0 |
92,4 – 96,8 |
87,5 – 92,4 |
| Chân rất dài |
> 100,0 |
> 96,9 |
> 92,2 |
- Các chỉ số thể lực khác:
- $\text{Chỉ số QVC} = \text{Cao đứng} - (\text{Vòng ngực hít hết sức} + \text{Vòng đùi phải} + \text{Vòng cánh tay phải co})$.
- $\text{Chỉ số Pignet} = \text{Cao đứng} - (\text{Cân nặng} + \text{Vòng ngực trung bình})$.
- $\text{Chỉ số Sinh lực} = \frac{\text{Vòng ngực trung bình}}{\text{Cao đứng}} \times 100$.
- $\text{Hiệu số ngực bụng} = \text{Vòng ngực trung bình} - \text{Vòng bụng trung bình}$.
- $\text{Độ giãn ngực} = \text{Vòng ngực hít vào hết sức} - \text{Vòng ngực thở ra hết sức}$.
- Chỉ số ngực (theo Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền, 1963).
Thiết kế và phương pháp chọn mẫu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (năm học 2018-2019) kết hợp nghiên cứu mô tả theo dõi dọc.
- Tiêu chuẩn chọn mẫu: Học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại các trường phổ thông ở 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; đang khỏe mạnh tại thời điểm đo; tự nguyện đồng ý tham gia. Đối với học sinh người dân tộc (Khơme, Chăm), tiêu chuẩn bắt buộc là có 3 đời thuần dân tộc (ông bà, cha mẹ và bản thân học sinh).
- Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh có dị tật bẩm sinh hoặc mắc phải ảnh hưởng đến kích thước cơ thể (gù, vẹo cột sống, thọt, teo cơ); mắc bệnh cấp hoặc mãn tính ảnh hưởng đến thể chất (hen, lao, phù, thiếu máu); sử dụng thuốc corticosteroid, có tình trạng co cứng cơ hoặc hạn chế tầm vận động khớp.
- Công thức tính cỡ mẫu: Cỡ mẫu được xác định theo công thức ước tính cho biến định lượng:
$$n = \frac{Z_{(1-\alpha/2)}^2 \times SD^2 \times D}{d^2}$$
Trong đó:
- $Z_{(1-\alpha/2)} = 1{,}96$ (ứng với độ tin cậy $95%$, $\alpha = 0{,}05$).
- $d$: Độ chính xác mong muốn, chọn $d = 0{,}85$.
- $D$: Hiệu ứng thiết kế chọn mẫu cụm, chọn $D = 1$.
- $SD$: Độ lệch chuẩn của các số đo. Luận án sử dụng độ lệch chuẩn lớn nhất giữa các thông số cùng lứa tuổi từ số liệu nghiên cứu của Nguyễn Phi Hùng (2000) tại Cần Thơ để tính toán cỡ mẫu $n$ cao nhất cho từng độ tuổi và giới tính.
Bảng thông số độ lệch chuẩn tham chiếu và cỡ mẫu tối thiểu cho học sinh nam theo từng lứa tuổi:
| Tuổi |
$SD$ Cân nặng |
$SD$ Cao đứng |
$n$ tính theo Cao đứng |
$SD$ Cao ngồi |
$SD$ Vòng đầu |
$SD$ Ngực TB |
| 6 |
2,319 |
4,839 |
125 |
3,669 |
2,454 |
1,169 |
| 7 |
2,296 |
4,218 |
95 |
2,507 |
2,562 |
1,449 |
| 8 |
3,148 |
5,128 |
140 |
2,786 |
3,070 |
1,345 |
| 9 |
3,333 |
4,724 |
119 |
2,849 |
3,355 |
1,398 |
| 10 |
3,695 |
4,966 |
132 |
2,964 |
3,592 |
1,195 |
| 11 |
4,390 |
6,433 |
221 |
3,443 |
3,991 |
1,361 |
| 12 |
5,686 |
6,743 |
242 |
3,583 |
4,797 |
1,419 |
| 13 |
6,551 |
5,889 |
229 |
4,014 |
4,928 |
1,455 |
| 14 |
5,492 |
4,730 |
161 |
4,003 |
4,904 |
1,294 |
| 15 |
4,308 |
4,962 |
131 |
2,737 |
4,137 |
1,602 |
| 16 |
4,733 |
4,977 |
132 |
2,891 |
3,896 |
1,475 |
| 17 |
5,494 |
5,099 |
161 |
3,211 |
4,038 |
1,438 |
- Công cụ đo lường: Cân đồng hồ kiểm định; Thước đo chiều cao chuyên dụng Martin; Thước dây Martin không co giãn; Compa trượt (compa đo bề dày ngực).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử phát triển của nhân trắc học trên thế giới và tại Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến nay. Tác giả phân tích các mốc giải phẫu quy chuẩn, định nghĩa kỹ thuật và sai số trong đo lường hình thái cơ thể (cân nặng biến thiên theo thời điểm trong ngày, tư thế đo chiều cao đứng, chiều cao ngồi, độ căng thước dây khi đo chu vi các vòng). Chương này cũng điểm lại các công thức tính chỉ số thể lực cổ điển (Broca, Quetelet, Rohrer, Pignet, Skélie, QVC, sinh lực) và tổng thuật các công trình nghiên cứu nhân trắc học đường trong và ngoài nước, khẳng định sự thiếu hụt dữ liệu nhân trắc tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận của đề tài:
- Trình bày thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa mô tả cắt ngang và theo dõi dọc.
- Xác định tiêu chuẩn chọn mẫu cụ thể cho học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và tiêu chuẩn 3 đời đối với các nhóm dân tộc Kinh, Khơme, Chăm; quy định rõ ràng các tiêu chuẩn loại trừ bệnh lý.
- Trình bày công thức tính cỡ mẫu dựa trên độ lệch chuẩn của nghiên cứu Cần Thơ năm 2000.
- Mô tả quy trình đo đạc chuẩn hóa theo bộ dụng cụ Martin (thước đứng, thước dây, compa) và cân đồng hồ.
- Trình bày các bước phân tích dữ liệu thống kê y học, tính toán giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), hệ số tương quan Pearson ($r$), phương trình hồi quy tuyến tính và các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được thông qua hệ thống bảng và biểu đồ:
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Phân bố học sinh theo lứa tuổi (6–17 tuổi), giới tính (nam, nữ) và dân tộc (Kinh, Khơme, Chăm) trong cả nghiên cứu cắt ngang và theo dõi dọc.
- Các số đo nhân trắc (năm học 2018-2019): Giá trị trung bình và phân loại của chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực 2 lứa tuổi dậy thì, vòng eo, vòng mông, phân bố kích thước theo giới tính và so sánh giữa các nhóm dân tộc Kinh, Khơme, Chăm.
- Các chỉ số nhân trắc: Phân phối chỉ số BMI theo tuổi và giới; phân loại thể lực theo chỉ số Skélie, chỉ số Pignet, chỉ số QVC, chỉ số sinh lực, hiệu số ngực bụng và độ giãn ngực ở cả nghiên cứu cắt ngang và phân nhóm dân tộc.
- Nghiên cứu theo dõi dọc và hồi quy: Mức tăng trung bình hàng năm về cân nặng, chiều cao đứng, vòng ngực 2, vòng eo, vòng mông ở nam và nữ; hệ số tương quan Pearson ($r$) và các phương trình hồi quy tính các số đo theo tuổi và giới tính.
Chương 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tập trung biện luận và so sánh các kết quả nghiên cứu:
- Biện luận về đặc điểm nhân trắc và quy luật tăng trưởng hình thái của học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo từng giai đoạn lứa tuổi và giới tính.
- Phân tích sự khác biệt về hình thái thể lực giữa học sinh các dân tộc Kinh, Khơme, Chăm.
- So sánh sự biến đổi các kích thước (cân nặng, chiều cao đứng, chiều dài chi dưới, vòng đầu, vòng ngực) của học sinh sau 20 năm bằng cách đối chiếu trực tiếp với kết quả nghiên cứu học sinh Cần Thơ năm 2000 của Nguyễn Phi Hùng.
- So sánh dữ liệu tăng trưởng chiều cao, cân nặng và BMI của học sinh Đồng bằng sông Cửu Long với chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và dữ liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2000).
- Đánh giá sự thay đổi các số đo qua theo dõi dọc và ý nghĩa ứng dụng của các phương trình hồi quy tuyến tính trong thực tiễn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Cung cấp bộ dữ liệu hoàn chỉnh về các số đo và chỉ số nhân trắc học của học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong năm học 2018-2019.
- Xác định quy luật tăng trưởng kích thước cơ thể theo lứa tuổi, giới tính và ghi nhận các đặc trưng hình thái riêng biệt giữa ba nhóm dân tộc Kinh, Khơme và Chăm tại khu vực.
- Thiết lập hệ thống phương trình hồi quy tương quan tuyến tính giữa các số đo cơ thể (chiều cao đứng, vòng ngực 2, vòng eo, vòng mông) theo tuổi và giới tính dựa trên phương pháp theo dõi dọc.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Làm rõ xu hướng phát triển thể lực của học sinh Đồng bằng sông Cửu Long sau 20 năm (so sánh với mốc nghiên cứu năm 2000 tại Cần Thơ), phản ánh sự thay đổi về tầm vóc, cân nặng và chiều dài chi dưới dưới tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Cung cấp dữ liệu đối chiếu với chuẩn tăng trưởng quốc tế của WHO và CDC (2000), phục vụ đánh giá tình trạng dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu cân, thấp còi hoặc thừa cân béo phì ở học sinh học đường.
- Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho việc ứng dụng thiết kế trang thiết bị học đường (bàn ghế, đồ dùng học tập) và trang phục phù hợp với nhân trắc học sinh Đồng bằng sông Cửu Long.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu tập trung trên nhóm học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long; các dữ liệu chưa bao phủ nhóm trẻ dưới 6 tuổi và thanh niên sau 17 tuổi ngoài môi trường học đường tại khu vực.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng theo dõi dọc ở các giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, cập nhật định kỳ hằng số nhân trắc học sinh theo từng thập kỷ và nghiên cứu sâu hơn về mối tương quan giữa tình trạng dinh dưỡng, hoạt động thể lực với sự phát triển hình thái của học sinh các dân tộc thiểu số tại khu vực.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều lĩnh vực:
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu Y sinh học: Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Giải phẫu người, Nhân trắc học, Y học dự phòng và Y tế công cộng.
- Ngành Giáo dục và Y tế học đường: Là căn cứ thực tiễn để đánh giá thể lực học sinh, xây dựng các chương trình can thiệp dinh dưỡng học đường và theo dõi sự phát triển thể chất của trẻ em từ tiểu học đến THPT.
- Sản xuất và Thiết kế công nghiệp học đường: Cung cấp thông số kích thước cơ thể chi tiết (chiều cao đứng, chiều cao ngồi, vòng ngực, vòng mông, vòng eo) phục vụ việc chuẩn hóa quy cách sản xuất bàn ghế học sinh, thiết bị trường học và trang phục thể thao học đường phù hợp với tầm vóc học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng công thức và căn cứ nào để tính toán cỡ mẫu nghiên cứu?
Cỡ mẫu được tính theo công thức xác định quy mô mẫu cho nghiên cứu định lượng:
$$n = \frac{Z_{(1-\alpha/2)}^2 \times SD^2 \times D}{d^2}$$
với hệ số tin cậy $Z = 1{,}96$ (độ tin cậy $95%$, $\alpha = 0{,}05$), sai số $d = 0{,}85$, hiệu ứng thiết kế cụm $D = 1$. Giá trị độ lệch chuẩn ($SD$) được trích xuất từ nghiên cứu nhân trắc Cần Thơ năm 2000 của Nguyễn Phi Hùng, lấy giá trị $SD$ lớn nhất giữa các kích thước trong cùng lứa tuổi để tính ra cỡ mẫu $n$ tối thiểu cao nhất cho từng nhóm tuổi từ 6 đến 17 tuổi.
2. Tiêu chuẩn chọn mẫu đối với học sinh các nhóm dân tộc thiểu số trong luận án là gì?
Đối với các nhóm học sinh dân tộc (như Khơme, Chăm), nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn chọn mẫu nghiêm ngặt là phải có đủ 3 đời thuần dân tộc (gồm ông bà, cha mẹ và bản thân học sinh) nhằm đảm bảo tính đồng nhất về mặt nhân chủng học.
3. Những công cụ và phương pháp nào được sử dụng để thu thập các số đo nhân trắc?
Nghiên cứu sử dụng các dụng cụ chuẩn hóa quốc tế gồm: cân đồng hồ để xác định khối lượng cơ thể; thước đo chiều cao Martin để đo chiều cao đứng và chiều cao ngồi; thước dây Martin để đo chu vi các vòng (vòng đầu, vòng ngực 2, vòng eo, vòng mông); compa trượt (compa bề dày) để đo đường kính ngang ngực và đường kính ngực trước sau. Tất cả thao tác đo đều dựa trên các mốc giải phẫu xác định (mỏm cùng vai, đầu trên xương quay, mào chậu, đỉnh đầu, mặt phẳng Frankfort).
4. Luận án so sánh dữ liệu nhân trắc thu được với những nghiên cứu và chuẩn tham chiếu nào?
Tác giả tiến hành so sánh dữ liệu thu thập được tại Đồng bằng sông Cửu Long với:
- Kết quả nghiên cứu các số đo của học sinh Cần Thơ 20 năm trước (công bố năm 2000 bởi Nguyễn Phi Hùng).
- Chuẩn tăng trưởng thể lực của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
- Chuẩn phát triển thể chất của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2000).
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Y học của Nguyễn Thị Giao Hạ đã hoàn thành việc khảo sát, phân tích toàn diện các số đo và chỉ số nhân trắc của học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong năm học 2018-2019. Công trình đã xác lập hệ thống dữ liệu nhân trắc học đường chi tiết theo lứa tuổi, giới tính và dân tộc (Kinh, Khơme, Chăm), đồng thời xây dựng các phương trình hồi quy tuyến tính có giá trị ứng dụng cao qua nghiên cứu theo dõi dọc. Kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác phục vụ cho công tác giảng dạy giải phẫu học, đánh giá sức khỏe học đường và thiết kế trang thiết bị giáo dục phù hợp với học sinh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.