Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu mang tên "Nghiên cứu số đo và chỉ số nhân trắc của học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Giao Hạ, dưới sự hướng dẫn khoa học của Võ Huỳnh Trang, bảo vệ năm 2022 tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Giải phẫu người (Mã số: 62720104).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nhân trắc học là chuyên ngành nghiên cứu về các số đo cơ thể và sử dụng các thuật toán thống kê để xác định quy luật phát triển hình thái, thể lực của con người. Các chỉ số nhân trắc chịu sự chi phối chặt chẽ bởi yếu tố dân tộc, môi trường địa lý và điều kiện kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về số đo và chỉ số nhân trắc đã được tiến hành qua các thời kỳ nhưng phần lớn tập trung chủ yếu ở khu vực miền Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh. Tại khu vực 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), số liệu nghiên cứu nhân trắc quy mô lớn trên lứa tuổi học sinh còn rất hạn chế. Các ứng dụng thực tiễn tại địa phương chủ yếu phải dựa vào các hằng số sinh học chung của cả nước hoặc chuẩn tham chiếu quốc tế. Do đó, việc thực hiện một nghiên cứu toàn diện nhằm cập nhật, bổ sung kho dữ liệu nhân trắc học đường cho khu vực này là một yêu cầu khoa học cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định các số đo nhân trắc của học sinh từ 6 đến 17 tuổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm học 2018-2019.
  2. Xác định các chỉ số nhân trắc của học sinh từ 6 đến 17 tuổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm học 2018-2019.
  3. Đánh giá sự thay đổi của các số đo theo thời gian và xây dựng phương trình hồi quy tính các số đo theo tuổi và giới tính.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Học sinh đang theo học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Mẫu nghiên cứu bao gồm học sinh thuộc 3 dân tộc: Kinh, Khơme và Chăm (đáp ứng tiêu chuẩn 3 đời: bản thân học sinh, cha mẹ và ông bà đều thuộc cùng một dân tộc).
  • Phạm vi không gian: Các cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập và theo dõi số liệu được triển khai trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, trong đó khảo sát cắt ngang trọng tâm diễn ra vào năm học 2018-2019 kết hợp với thiết kế theo dõi dọc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả đã hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của nhân trắc học thế giới từ thế kỷ XVIII đến nay:

  • Giai đoạn khởi đầu: Các quan sát sớm về kích thước và cân nặng trẻ em của Roederer (1753), Diezt (1757), Joseph Clake (1786). Nghiên cứu cắt ngang đầu tiên trên trẻ em từ 1 đến 25 tuổi được thực hiện bởi Christian Friedrich Jumpert (1754). Nghiên cứu theo dõi dọc sớm nhất về chiều cao được Philibert Guenauze Montheillard tiến hành trên con trai từ lúc sinh đến 18 tuổi (1757–1774). Godin (1935) theo dõi dọc 10 học sinh thiếu sinh quân tại St. Hipolite le Fort trong 5 năm (13–18 tuổi).
  • Chuẩn hóa phương pháp luận: Rudolf Martin (1919, 1924, 1925) đề xuất hệ thống kỹ thuật, dụng cụ đo đạc chuẩn mực và xử lý thống kê, đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại. R. Fisher đưa toán thống kê vào sinh học. Vanderael (1964) và Olivier (1960) hoàn thiện hệ thống phân loại thể lực và thực hành nhân trắc.
  • Nghiên cứu hiện đại và chuẩn tham chiếu: Các chương trình theo dõi dọc tại Đại học Harvard và Đại học Colorado (Hoa Kỳ); nghiên cứu dọc 6 năm tại đảo Crete/Bêlarut (2000); khảo sát nhân trắc của Erol Burdurlu (Thổ Nhĩ Kỳ); bộ chuẩn tăng trưởng trẻ em của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2006 (trẻ dưới 5 tuổi) và năm 2007 (trẻ 5–19 tuổi) đi kèm phần mềm Anthro 2005; dữ liệu tham chiếu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2000).
  • Các nghiên cứu học đường đương đại: Nghiên cứu tương quan giữa tầm vóc và học lực tại quận Kumi, Uganda (2008); khảo sát dinh dưỡng và nhân trắc học đường tại Nigeria của O. Oluwakemi (2008), F. Akor (2010), Ekpa Emmanuel (2017); nghiên cứu tại Ai Cập của Walid El Ansari (2010); nghiên cứu tại Limpopo, Nam Phi (2012); nghiên cứu tại Ghana của Angelina Opoku Danquah (2013); công trình tại Owerri của Obiakor-Okeke (2014); nghiên cứu tại Karachi, Pakistan của Kashmala Khan (2016); khảo sát nhân trắc phục vụ thiết kế bàn ghế tại Iran của Abdolreza Gilavand (2016) và Naser Hasheminejad (2017); tiêu chuẩn nhân trắc trên 29.285 trẻ em Úc (2016); nghiên cứu của Massrat Firdos tại Ấn Độ (2018).

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Thời kỳ trước năm 1975: Các công trình nhân chủng của P. Huard, Bigot (1938) và P. Huard, Đỗ Xuân Hợp trong giai đoạn 1936–1944; nghiên cứu nhân trắc phục vụ tuyển quân của Đỗ Xuân Hợp (1945–1954); công trình của Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền (1959, 1963); công trình của Nguyễn Quang Quyền và Đỗ Như Cương (1969); các báo cáo tại Hội nghị Hằng số sinh học người Việt Nam năm 1967 và 1972 do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ trì (xuất bản thành sách năm 1975); cuốn sách chuyên khảo của Nguyễn Quang Quyền (1974).
  • Thời kỳ sau năm 1975: Công trình nghiên cứu của Đinh Kỷ (1972–1973), Trịnh Hữu Vách (1987); Atlas Nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động của Võ Hưng (1986); nghiên cứu theo dõi dọc 10 năm (1980–1990) trên học sinh Hà Nội của Thẩm Thị Hoàng Điệp và Nguyễn Quang Quyền; chương trình nghiên cứu chỉ tiêu sinh học người Việt Nam của Lê Nam Trà (1999).
  • Các nghiên cứu theo vùng địa lý: Nghiên cứu nhân trắc học sinh Cần Thơ của Nguyễn Phi Hùng (2000); nghiên cứu hình thái thể lực học sinh Thừa Thiên Huế của Lê Đình Vấn (2002); nghiên cứu thể lực học sinh THCS Long An của Trần Việt Cường (2003); nghiên cứu người miền Trung từ 15 tuổi trở lên của Nguyễn Trường An (2004); nghiên cứu thanh thiếu niên người Kinh của Trương Đình Kiệt, Lê Đình Vấn và cộng sự (2009); nghiên cứu béo phì học sinh Hà Nội của Trần Thị Xuân Ngọc (2012); loạt nghiên cứu nhân trắc học sinh THPT các vùng sinh thái của Mai Văn Hưng và cộng sự (2010–2013); nghiên cứu học sinh chuyên Bắc miền Trung của Đồng Hương Lan (2016); nghiên cứu 6.514 học sinh tiểu học Bình Định của Nguyễn Thị Tường Loan (2018).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, sau nghiên cứu của Nguyễn Phi Hùng (2000) tại Cần Thơ, hầu như chưa có một công trình nào khảo sát toàn diện các số đo và chỉ số nhân trắc trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi bao phủ cả 13 tỉnh thành. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách cung cấp dữ liệu cập nhật, so sánh sự khác biệt theo giới tính, lứa tuổi và giữa 3 dân tộc (Kinh, Khơme, Chăm), đồng thời theo dõi dọc để xây dựng các mô hình hồi quy tuyến tính dự báo tăng trưởng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các chỉ số nhân trắc ứng dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết giải phẫu bề mặt và nhân trắc học chuẩn quốc tế (ISAK/Martin), xác định các mốc giải phẫu chuẩn:

  • Mỏm cùng vai (Acromion): Điểm cao nhất trên đường viền ngoài cùng của vai.
  • Đầu trên xương quay (Radiale): Giao điểm của mặt phẳng qua nếp gấp khuỷu và cạnh ngoài cẳng tay.
  • Điểm cao nhất của mào chậu (Iliocristale): Điểm nhô cao nhất ở bờ trên ngoài của mào chậu.
  • Đỉnh đầu (Vertex): Điểm cao nhất trên vòm sọ khi đầu định vị theo mặt phẳng Frankfort (mặt phẳng nối bờ dưới ổ mắt và bờ trên lỗ ống tai ngoài).
Chỉ số / Số đo Công thức toán học Phân loại và tiêu chuẩn đánh giá trong văn bản
BMI $\text{Cân nặng (kg)} / [\text{Chiều cao đứng (m)}]^2$ Phân loại theo WHO (1998) và IDI&WPRO (2000): Gầy ($<18,5$), Bình thường ($18,5-22,9$), Thừa cân ($\ge 23$), Tiền béo phì ($23-24,9$), Béo phì độ I ($25-29,9$), Béo phì độ II ($\ge 30$).
Chỉ số Skélie (Manouvrier) $[\text{Chiều dài chi dưới (cm)} \times 100] / \text{Chiều cao ngồi (cm)}$ (Trong đó: Chiều dài chi dưới = Chiều cao đứng - Chiều cao ngồi) Chuẩn Nguyễn Quang Quyền (1974) cho người Việt Nam: Chân rất ngắn (Nam $<83,3$; Nữ $<78,0$), Chân ngắn (Nam $83,4-87,8$; Nữ $78,1-82,7$), Chân vừa (Nam $87,9-92,8$; Nữ $82,8-87,4$), Chân dài (Nam $92,4-96,8$; Nữ $87,5-92,4$), Chân rất dài (Nam $>96,9$; Nữ $>92,2$).
Chỉ số QVC (Nguyễn Quang Quyền & Đỗ Như Cương, 1969) $\text{Cao đứng} - (\text{Vòng ngực hít sâu} + \text{Vòng đùi phải} + \text{Vòng cánh tay co})$ Cực khỏe ($<-4$), Rất khỏe ($-4 \text{ đến } 1,9$), Khỏe ($2 \text{ đến } 7,9$), Trung bình ($8 \text{ đến } 14$), Yếu ($14,1 \text{ đến } 20$), Rất yếu ($>20$).
Chỉ số Pignet $\text{Cao đứng (cm)} - [\text{Cân nặng (kg)} + \text{Vòng ngực TB (cm)}]$ Cực khỏe ($<10$), Rất khỏe ($10-15$), Khỏe ($16-20$), Trung bình ($20-25$), Yếu ($25-30$), Rất yếu ($30-35$), Cực yếu ($>35$).
Chỉ số Sinh lực $[\text{Vòng ngực trung bình (cm)} / \text{Chiều cao đứng (cm)}] \times 100$ Mức trung bình chuẩn là $50$.
Hiệu số ngực bụng $\text{Vòng ngực trung bình (cm)} - \text{Vòng bụng trung bình (cm)}$ Béo ($<14$), Trung bình ($=14$), Gầy ($>14$).
Độ giãn ngực $\text{Vòng ngực hít vào hết sức} - \text{Vòng ngực thở ra hết sức}$ Mức trung bình dao động từ $5 \text{ đến } 10\text{ cm}$.
Chỉ số ngực (Đỗ Xuân Hợp & Nguyễn Quang Quyền, 1963) $[\text{Đường kính ngực trước sau} / \text{Đường kính ngang ngực}] \times 100$ Trẻ $4-6$ tuổi đạt cao nhất ($77-77,8$); tuổi trưởng thành ổn định mức $66,8-69,3$.

Thiết kế và phương pháp chọn mẫu

  • Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp nghiên cứu mô tả cắt ngang (trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi năm học 2018–2019) và nghiên cứu mô tả theo dõi dọc (từ năm 2015 đến 2019).
  • Tiêu chuẩn chọn mẫu: Học sinh từ 6 đến 17 tuổi đang theo học tại các trường tiểu học, THCS, THPT ở ĐBSCL; tại thời điểm đo hoàn toàn khỏe mạnh; tự nguyện đồng ý tham gia. Nhóm đối tượng người dân tộc thiểu số bắt buộc phải có 3 đời liên tục (ông bà, cha mẹ và học sinh) là người dân tộc đó.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh có dị tật bẩm sinh hoặc mắc phải làm thay đổi hình thái nhân trắc (gù, vẹo cột sống, thọt, teo cơ); học sinh mắc bệnh lý cấp hoặc mạn tính ảnh hưởng đến thể lực (hen suyễn, lao, hội chứng thận hư/phù, thiếu máu); học sinh đang điều trị bằng thuốc chứa corticosteroid hoặc có co cứng cơ, hạn chế tầm vận động khớp.
  • Công thức tính cỡ mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính cho thiết kế mẫu cụm:

$$n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \times \sigma^2 \times D}{d^2}$$

Trong đó:

  • $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$ (ứng với độ tin cậy $95%$, mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$).
  • $d$: Độ chính xác mong muốn, chọn $d = 0,85$.
  • $D$: Hệ số hiệu ứng thiết kế trong chọn mẫu cụm, chọn $D = 1$.
  • $\sigma$: Độ lệch chuẩn của các biến số nhân trắc, được trích xuất từ dữ liệu tham chiếu của Nguyễn Phi Hùng (2000) tại Cần Thơ. Giá trị $\sigma$ lớn nhất trong các số đo cùng lứa tuổi được chọn để đảm bảo cỡ mẫu đạt mức tối đa.
Độ tuổi $\sigma$ Chiều cao đứng $\sigma$ Chiều cao ngồi $\sigma$ Cân nặng $\sigma$ Vòng đầu $\sigma$ Vòng ngực TB Cỡ mẫu tính toán tối thiểu ($n$)
6 tuổi 4,839 2,454 2,319 1,169 3,669 125
7 tuổi 4,218 2,562 2,296 1,449 2,507 95
8 tuổi 5,128 3,070 3,148 1,345 2,786 140
9 tuổi 4,724 3,355 3,333 1,398 2,849 119
10 tuổi 4,966 3,592 3,695 1,195 2,964 132
11 tuổi 6,433 3,991 4,390 1,361 3,443 221
12 tuổi 6,743 4,797 5,686 1,419 3,583 242
13 tuổi 6,551 4,928 5,889 1,455 4,014 229
14 tuổi 5,492 4,904 4,730 1,294 4,003 161
15 tuổi 4,962 4,137 4,308 1,602 2,737 131
16 tuổi 4,977 3,896 4,733 1,475 2,891 132
17 tuổi 5,494 4,038 5,099 1,438 3,211 161

Dụng cụ và quy trình thu thập dữ liệu

  • Dụng cụ chuyên dụng: Cân đồng hồ kiểm định; thước đo chiều cao đứng và chiều cao ngồi kim loại Martin; thước dây sợi thủy tinh Martin không co giãn; compa trượt và compa đo bề dày thân chuyên dụng.
  • Quy trình đo lường:
    • Cân nặng: Cân vào buổi sáng, đối tượng mặc quần áo nhẹ, đã đi tiểu tiện, đứng thăng bằng giữa mặt cân.
    • Chiều cao đứng: Đo ở tư thế đứng nghiêm, gót chân sát nhau, 4 điểm tiếp xúc thước (chẩm, lưng, mông, gót chân), đầu định vị theo mặt phẳng Frankfort.
    • Chiều cao ngồi: Ngồi trên ghế đẩu chuyên dụng cao 50 cm, đùi gập 90 độ so với cẳng chân, trục thân thẳng đứng.
    • Các kích thước vòng: Áp dụng kỹ thuật bắt chéo thước dây, duy trì lực căng ổn định, vuông góc trục chi hoặc thân thể. Đo vòng đầu qua ụ trán và ụ chẩm ngoài; vòng ngực đo ngang núm vú ở trạng thái hít vào tối đa, thở ra tối đa và thở bình thường; vòng eo đo ở vị trí hẹp nhất giữa bờ sườn và mào chậu; vòng mông đo qua điểm nhô cao nhất của khối cơ mông.
    • Đường kính ngực: Sử dụng compa bề dày đặt sát bờ xương, đo đường kính trước sau và đường kính ngang ngực trong trạng thái thở bình thường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý luận và lịch sử nghiên cứu nhân trắc học trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam. Nội dung chương chia thành 4 phần chính:

  1. Lịch sử phát triển nhân trắc học: Phân tích các giai đoạn phát triển từ các quan sát hình thái sơ khai đến khi hình thành các nhánh chuyên biệt (nhân trắc học đường, nhân trắc thể thao, nhân trắc lao động - nghề nghiệp, nhân trắc công nghiệp và nhân trắc y học).
  2. Hệ thống mốc giải phẫu đo đạc: Mô tả chi tiết kỹ thuật sờ nắn, xác định vị trí giải phẫu xương chuẩn mực làm mốc đo (mỏm cùng vai, đầu trên xương quay, mào chậu, đỉnh đầu, mặt phẳng mắt - tai Frankfort).
  3. Các số đo và chỉ số nhân trắc: Trình bày nguyên lý đo đạc cân nặng, chiều cao đứng, chiều cao ngồi, chu vi các vòng, các đường kính thân và phân tích ý nghĩa các chỉ số đánh giá thể lực: BMI, Skélie, QVC, Pignet, Sinh lực, Hiệu số ngực bụng, Độ giãn ngực, Chỉ số ngực.
  4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: Tổng thuật các công trình nghiên cứu cắt ngang và nghiên cứu theo dõi dọc tại các quốc gia trên thế giới và điểm lại tiến trình nghiên cứu nhân trắc tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết phương pháp luận khoa học được áp dụng trong luận án:

  • Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp song song giữa nghiên cứu mô tả cắt ngang trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi trong năm học 2018-2019 và nghiên cứu mô tả theo dõi dọc từ năm 2015 đến 2019.
  • Đối tượng và địa bàn: Học sinh thuộc 13 tỉnh ĐBSCL; quy trình tuyển chọn mẫu đại diện cho 3 nhóm dân tộc: Kinh, Khơme và Chăm.
  • Tiêu chuẩn chọn và loại trừ: Quy định tiêu chí chọn lựa học sinh khỏe mạnh, đồng ý tham gia, kiểm soát nguồn gốc dân tộc 3 đời và loại bỏ các đối tượng có dị tật hình thái, bệnh mạn tính hoặc can thiệp thuốc ảnh hưởng phát triển thể chất.
  • Quy trình kỹ thuật và công cụ đo: Mô tả chi tiết từng thao tác đo lường, quy chuẩn kiểm định thiết bị (thước Martin, cân, compa), kỹ thuật đọc thước dây bắt chéo và quy trình bảo đảm y đức trong nghiên cứu y sinh học.
  • Kỹ thuật xử lý số liệu: Ứng dụng các thuật toán thống kê y học để tính giá trị trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn (SD), tỷ lệ phần trăm phân loại, kiểm định tương quan Pearson ($r$), và xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính biểu diễn mối liên hệ giữa các số đo nhân trắc theo tuổi và giới tính.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ dữ liệu định lượng thu được từ cuộc khảo sát thực địa:

  • Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Tổng số lượng học sinh được phân bổ theo từng độ tuổi (từ 6 đến 17 tuổi), theo giới tính (nam, nữ) và theo từng thành phần dân tộc (Kinh, Khơme, Chăm). Số lượng đối tượng hoàn thành theo dõi dọc qua các năm.
  • Các số đo nhân trắc cắt ngang năm học 2018-2019:
    • Giá trị trung bình và phân phối của cân nặng, chiều cao đứng, chiều cao ngồi theo lứa tuổi và giới tính.
    • Phân tích các số đo vòng: vòng đầu, vòng ngực 2 (ở lứa tuổi dậy thì và các độ tuổi khác), vòng eo, vòng mông; tỷ lệ phần trăm phân loại các số đo vòng ở nam và nữ.
    • So sánh các số đo cơ bản (chiều cao đứng, chiều cao ngồi, vòng ngực 2) giữa các nhóm dân tộc Kinh, Khơme, Chăm.
  • Các chỉ số nhân trắc cắt ngang:
    • Phân phối chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tuổi và giới tính.
    • Phân loại hình thái cơ thể theo chỉ số Skélie (tỷ lệ chân rất ngắn, chân ngắn, chân vừa, chân dài, chân rất dài) ở nam và nữ và giữa các dân tộc.
    • Kết quả các chỉ số thể lực: Chỉ số QVC, chỉ số Pignet, chỉ số Sinh lực, chỉ số Ngực, Hiệu số ngực bụng và Độ giãn ngực.
  • Sự thay đổi số đo theo thời gian và phương trình hồi quy:
    • Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm về cân nặng (kg), chiều cao đứng (cm), vòng ngực 2 (cm), vòng eo (cm), vòng mông (cm) ở nam và nữ trong nghiên cứu theo dõi dọc.
    • Ma trận hệ số tương quan tuyến tính Pearson ($r$) giữa độ tuổi và các kích thước nhân trắc.
    • Các phương trình đường hồi quy biểu diễn sự biến thiên của chiều cao đứng, vòng ngực 2, vòng eo, vòng mông theo tuổi cho từng giới.

Chương 4: Bàn luận

Phân tích, đối chiếu và bàn luận sâu về các phát hiện nghiên cứu:

  • Phân tích đặc điểm thể lực học sinh ĐBSCL: Đánh giá nhịp độ tăng trưởng thể chất qua từng giai đoạn tuổi, sự bộc phát thể lực trong giai đoạn dậy thì và sự khác biệt rõ nét về hình thái giữa học sinh nam và học sinh nữ.
  • So sánh nhân trắc giữa các dân tộc: Bàn luận về sự tương đồng và khác biệt về chiều cao, chiều dài chi, vòng thân và các chỉ số hình thái giữa học sinh dân tộc Kinh, Khơme và Chăm sinh sống tại ĐBSCL.
  • Đánh giá sự biến đổi thế hệ sau 20 năm: So sánh trực tiếp các số đo cân nặng, chiều cao đứng, chiều cao ngồi, vòng đầu, vòng ngực và chiều dài chi dưới của học sinh ĐBSCL trong nghiên cứu này với số liệu học sinh Cần Thơ do Nguyễn Phi Hùng công bố năm 2000.
  • So sánh với các chuẩn tham chiếu quốc tế: Đối chiếu quỹ đạo tăng trưởng cân nặng, chiều cao đứng và chỉ số BMI của học sinh ĐBSCL với chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2007) và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC 2000).
  • Ý nghĩa của phương trình hồi quy: Thảo luận về tính ứng dụng của các mô hình hồi quy tuyến tính trong việc giám sát, tiên lượng nhịp độ tăng trưởng thể chất của học sinh theo lứa tuổi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và dữ liệu

  1. Thiết lập bộ dữ liệu nhân trắc chuẩn hóa cập nhật: Công trình đã xây dựng được bộ dữ liệu hoàn chỉnh, chi tiết về các số đo kích thước cơ thể (cân nặng, chiều cao đứng, chiều cao ngồi, vòng đầu, vòng ngực, vòng eo, vòng mông, đường kính lồng ngực) và các chỉ số thể lực (BMI, Skélie, QVC, Pignet, Sinh lực, Độ giãn ngực) của học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong năm học 2018-2019.
  2. Cung cấp dữ liệu so sánh đa dân tộc: Xác định đặc điểm hình thái và chỉ số nhân trắc đặc trưng giữa 3 dân tộc Kinh, Khơme và Chăm cùng sinh sống trong một vùng sinh thái địa lý.
  3. Xác định quy luật tăng trưởng dọc và phương trình hồi quy: Luận án đã tiến hành theo dõi dọc sự biến thiên kích thước cơ thể theo thời gian, tính toán tốc độ gia tăng trung bình hàng năm của các số đo chính và xây dựng các phương trình hồi quy tuyến tính tương quan giữa các kích thước nhân trắc với độ tuổi cho cả nam và nữ.
  4. Minh chứng sự gia tăng thể lực thế hệ: Phân tích sự chuyển biến về tầm vóc, cân nặng và chiều dài chi dưới của học sinh ĐBSCL sau khoảng 20 năm so với mốc nghiên cứu năm 2000 tại Cần Thơ, đồng thời xác định vị trí phát triển thể chất của học sinh khu vực so với chuẩn tăng trưởng quốc tế của WHO và CDC.

Kiến nghị và ứng dụng thực tiễn

  • Ứng dụng bộ số đo và chỉ số nhân trắc làm cơ sở khoa học để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, theo dõi sức khỏe học đường định kỳ tại các trường học vùng ĐBSCL.
  • Cung cấp hằng số kích thước nhân trắc học sinh cho ngành công nghiệp và giáo dục để thiết kế, sản xuất bàn ghế, trang thiết bị học tập, đồ dùng giảng dạy và đồng phục học sinh phù hợp với tầm vóc thực tế của trẻ em vùng ĐBSCL.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Đối tượng nghiên cứu giới hạn trong phạm vi học sinh phổ thông từ 6 đến 17 tuổi, chưa theo dõi tiếp tục giai đoạn sau 17 tuổi đến khi thể lực đạt mức trưởng thành hoàn toàn (18–25 tuổi) tại khu vực ĐBSCL.
  • Nghiên cứu theo dõi dọc đòi hỏi thời gian dài và việc duy trì mẫu nghiên cứu đầy đủ qua nhiều năm học gặp khó khăn do sự chuyển trường hoặc biến động của đối tượng.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu nhân trắc học theo dõi dọc từ lứa tuổi học sinh THPT kéo dài đến độ tuổi trưởng thành sinh học hoàn toàn (20–25 tuổi) ở các vùng sinh thái ĐBSCL.
  • Ứng dụng các công nghệ thu thập dữ liệu hình thái hiện đại như kỹ thuật chụp quét và dựng hình không gian 3 chiều (3D scanning) để khảo sát chuyên sâu hơn về giải phẫu học bề mặt.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm chuyên môn:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Thuộc các chuyên ngành Giải phẫu người, Nhân trắc học, Y học dự phòng, Y tế công cộng, Nhi khoa, và Sinh lý học thể dục thể thao; tài liệu cung cấp khung phương pháp luận đo đạc nhân trắc chuẩn mực theo hệ thống Rudolf Martin và kỹ thuật chọn mẫu dịch tễ học.
  • Cán bộ quản lý y tế học đường và dinh dưỡng: Sử dụng bộ dữ liệu và các thang phân loại BMI, Skélie, Pignet, QVC để xây dựng tiêu chuẩn theo dõi sức khỏe, lập kế hoạch can thiệp dinh dưỡng cho học sinh 13 tỉnh ĐBSCL.
  • Kỹ sư thiết kế công nghiệp và sản xuất: Tham khảo các thông số kích thước cơ thể (chiều cao đứng, chiều cao ngồi, chiều dài chi dưới, vòng ngực, vòng eo, mông) để thiết kế kích thước bàn ghế trường học, phương tiện sinh hoạt và trang phục học sinh phù hợp với nhân trắc học địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những mốc giải phẫu và dụng cụ chuyên dụng nào để tiến hành đo đạc?

Tác giả sử dụng các mốc giải phẫu xương bề mặt gồm: Mỏm cùng vai (Acromion), Đầu trên xương quay (Radiale), Điểm cao nhất của mào chậu (Iliocristale), Đỉnh đầu (Vertex) và định vị theo Mặt phẳng ngang mắt - tai Frankfort. Bộ công cụ đo lường gồm: Cân đồng hồ kiểm định, Thước kim loại đo chiều cao Martin, Thước dây Martin không co giãn và Compa trượt/compa đo bề dày thân chuyên dụng.

2. Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu được quy định ra sao?

  • Tiêu chuẩn chọn: Học sinh từ 6 đến 17 tuổi khỏe mạnh tại các trường phổ thông vùng ĐBSCL, tự nguyện tham gia; riêng học sinh dân tộc thiểu số phải đảm bảo nguồn gốc 3 đời liên tục (ông bà, cha mẹ, bản thân) thuộc cùng dân tộc.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Học sinh có dị tật bẩm sinh hoặc mắc phải (gù, vẹo cột sống, thọt chân, teo cơ); mắc bệnh cấp/mạn tính ảnh hưởng thể lực (hen, lao, thận hư/phù, thiếu máu); đang sử dụng corticosteroid hoặc có co cứng cơ, hạn chế tầm vận động khớp.

3. Công thức tính cỡ mẫu và căn cứ xác định số lượng mẫu trong luận án là gì?

Cỡ mẫu được tính theo công thức chọn mẫu cụm: $n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \times \sigma^2 \times D}{d^2}$, với $Z=1,96$ ($\alpha=0,05$), $d=0,85$, $D=1$. Độ lệch chuẩn $\sigma$ được trích xuất từ số liệu nghiên cứu của Nguyễn Phi Hùng (2000) tại Cần Thơ, trong đó giá trị $\sigma$ lớn nhất trong các số đo cùng lứa tuổi được chọn để tính cỡ mẫu tối thiểu cho từng nhóm tuổi từ 6 đến 17 (dao động từ 95 đến 242 học sinh cho mỗi lứa tuổi ở nam).

4. Luận án đã khảo sát và phân loại những chỉ số thể lực - hình thái chính nào?

Nghiên cứu tính toán và phân loại 8 chỉ số chính: Chỉ số khối cơ thể (BMI theo chuẩn WHO và IDI&WPRO), Chỉ số Skélie phân loại độ dài chi dưới (theo Manouvrier và chuẩn Nguyễn Quang Quyền 1974), Chỉ số thể lực QVC (Nguyễn Quang Quyền và Đỗ Như Cương 1969), Chỉ số Pignet, Chỉ số Sinh lực, Hiệu số ngực bụng, Độ giãn ngực và Chỉ số ngực (Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền 1963).

5. Luận án so sánh dữ liệu nhân trắc của học sinh ĐBSCL với những công trình và bộ chuẩn nào?

Dữ liệu của luận án được so sánh đối chiếu với: công trình nghiên cứu nhân trắc học sinh Cần Thơ của Nguyễn Phi Hùng thực hiện 20 năm trước (năm 2000); bộ chuẩn tăng trưởng trẻ em của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2007); và dữ liệu tham chiếu tăng trưởng của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC 2000).


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Y học của Nguyễn Thị Giao Hạ đã hoàn thành việc khảo sát toàn diện và hệ thống hóa các số đo, chỉ số nhân trắc của học sinh từ 6 đến 17 tuổi tại 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm học 2018-2019 kết hợp theo dõi dọc giai đoạn 2015-2019. Công trình đã làm rõ đặc điểm hình thái thể lực theo tuổi, giới tính và giữa 3 dân tộc Kinh, Khơme, Chăm, đồng thời xây dựng thành công các phương trình hồi quy tuyến tính phục vụ dự báo tăng trưởng. Kết quả nghiên cứu là nguồn cứ liệu khoa học giá trị cho chuyên ngành Giải phẫu người, cung cấp cơ sở thực tiễn cho công tác chăm sóc sức khỏe học đường và thiết kế trang thiết bị giáo dục phù hợp với tầm vóc học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.