ĐẶT VẤN ĐỀ Để có được những quyết định đúng đắn cho các can thiệp về hình thái và chức năng ở vùng đầu mặt, cung răng, từ gần hai thế kỷ qua đã liên tục có những cố gắng của nhiều tác giả để tìm hiểu về những quy luật phát triển hình thái đầu mặt và đã khẳng định các chỉ số sọ mặt, cung răng, khuôn mặt có sự khác nhau giữa các chủng tộc, dân tộc, giữa nam và nữ [1]. Các chỉ số đặc trưng về sọ mặt, cung răng, khuôn mặt và đặc điểm khớp cắn khác nhau giữa các chủng tộc, do vậy khi chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị nên sử dụng các chỉ số của chủng tộc đó. Trường hợp dân tộc nào chưa có được các chỉ số trung bình riêng, cần lựa chon các chỉ số trung bình trong các nghiên cứu trên các dân tộc cùng chủng tộc với mình [2]. Hình thái đầu mặt là yếu tố quan trọng trong nhận dạng con người.
Ứng dụng trong hội họa, điêu khắc, bảo hộ lao động, an toàn giao thông, thời trang và y học Ở Việt Nam đã có một vài công trình nghiên cứu về nhân trắc đầu mặt nhưng còn một số hạn chế, chưa có nghiên cứu nào có cỡ mẫu lớn và nghiên cứu sâu về các chỉ số nhân trắc của người Việt Nam. Từ các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhân trắc trên các đối tượng người Việt Nam ở các lứa tuổi 7,12,18-25 với mục đích: 1. Xác định đặc điểm nhân trắc đầu mặt ở người Việt Nam. Xây dựng phần mềm phân tích và dự đoán hình thái đầu mặt ở người Việt Nam.
Đề xuất quy trình ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong điều trị một số bất thường vùng hàm mặt. Lịch sử quá trình hình thành nghiên cứu nhân trắc đầu mặt 1. Trên thế giới Việc đo đạc đầu mặt cũng như toàn bộ cơ thể đã được thực hiện từ thời Hy Lạp cổ đại và rất nhiều phép đo từ thời cổ đại vẫn được áp dụng trong nhân trắc học hiện đại. Điểm khác biệt chính giữa nhân trắc học cổ điển và hiện đại là sự phủ nhận những kích thước và tỉ lệ được đưa ra bởi các nghệ sĩ và nhà khoa học thời trước, các tác giả này thường mô tả hình thái và các tiêu chuẩn của cơ thể một cách chủ quan theo ý muốn của họ.
Tuy nhiên, đối với phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ, những kích thước và tỉ lệ thật được đánh giá bằng cách sử dụng các kĩ thuật nhân trắc học và được dùng như những nguyên tắc để sửa chữa những khiếm khuyết và sự mất cân đối. Trƣớc thời kì Phục hƣng Những tiêu chuẩn chính về cơ thể con người đã được định nghĩa bởi các nghệ sĩ Ai Cập cổ đại và có ảnh hưởng lớn đến người Hy Lạp và La Mã cổ đại. Họ chia cơ thể từ đầu đến chân thành những phần có kích thước là 22,25, như vậy độ dài ngón tay giữa ở người trưởng thành bằng 1/19 chiều dài cơ thể. Tuy nhiên, một số điểm mốc quan trọng không được tính đến như núm vú, rốn và đầu gối.
Do đó Snijder đã phủ nhận những tiêu chuẩn của người Ai Cập, ông cho rằng họ không sử dụng hệ thống đường thẳng để đo đạc các phần của cơ thể trong mối quan hệ với phần khác. Sang thời kì Hy Lạp cổ đại, đã có nhiều nhà nghiên cứu khác như Polycleitus (Khoảng 420-450 TCN), Aristotle (384 - 322 TCN).Các tác giả đã nghiên cứu và đưa ra nhiều tiêu chuẩn để đánh giá vẻ đẹp của cơ thể và khuôn mặt như: chiều cao mặt bằng 1/10 chiều dài cơ thể, chiều cao toàn bộ đầu bằng 1/8 chiều dài toàn bộ cơ thể, tổng chiều dài của đầu và cổ bằng 1/6 chiều dài cơ thể. Thời kỳ Phục hƣng Leonardo Da Vinci (1452 - 1519) tập trung nghiên cứu những tỷ lệ cơ thể và khuôn mặt được cho là lý tưởng và ứng dụng những tiêu chuẩn đó vào những tác phẩm nghệ thuật của mình. Albrecht Dϋrer (1471 - 1528) cũng thấy rằng cần phải có một hệ thống những tiêu chuẩn về các tỷ lệ lý tưởng cho các đặc điểm trên cơ thể, từ đó đưa ra những đặc điểm đẹp nhất.
Những thành quả của ông trở thành cơ sở cho những họa sĩ khác. 3 Thế kỷ XVIII - XIX Hầu hết các phép đo khuôn mặt được thực hiện trực tiếp trên sọ và chỉ một số ít phần mềm được đo. Mục đích đo đạc chủ yếu là để chỉ ra một số nhóm người ưu việt hơn nhóm người khác. Petrus Camper (1722 - 1789) bằng cách chứng minh mối quan hệ gần gũi giữa người da đen và người da trắng và những điểm khác biệt chung của họ so với vượn người, ông đã đi ngược lại quan điểm chủ đạo của thời kỳ đó là người da đen liên hệ gần gũi với loài linh trưởng hơn người da trắng.
Ông nghiên cứu góc mặt (góc giữa đường kẻ ngang nối giới hạn dưới của phần mũi với lỗ ống tai ngoài và đường thẳng từ trán tới rìa cắn răng hàm trên) trên một số lượng lớn sọ người và vượn. Ông nhận thấy rằng góc mặt lớn đặc trưng cho các loài linh trưởng, trong khi người da đen và da trắng có góc mặt nhỏ hơn. Ceasare Lobroso (1836 -1909) cho rằng những tên du côn, những kẻ giết người, nghiện rượu, những người động kinh và người lùn khác biệt với những người bình thường ở hình thể sọ, sự mất cân đối của khuôn mặt, hình thể lỗ mũi, răng, cơ cắn và kích thước xoang trán. Ông thực hiện các phép đo trên sọ và trên người [3] Thế kỷ XX: thời kì của những tỉ lệ và phép đo khách quan Jacques Joseph (1865 - 1934) - cha đẻ của ngành tạo hình mũi hiện đại nhấn mạnh tầm quan trọng của mũi nhìn nghiêng với thẩm mỹ khuôn mặt.
Ông nghiên cứu hướng nghiêng của sống mũi trong mối liên quan với các đường trên mặt nghiêng hơn là với mặt phẳng Frankfort. + Nghiên cứu của Brodie (1941): Tiến hành đo trực tiếp trên trẻ, Brodie nhận thấy: So với lúc mới sinh ra, khi trưởng thành sọ lớn gấp 4 lần và mặt lớn gấp 12 lần. ở tuổi 12, sọ gần như đạt đến mức trưởng thành trong khi mặt vẫn đang tăng trưởng chậm cho đến sau tuổi dậy thì [4] + Nghiên cứu của Björk (1955): Nghiên cứu tiến hành trên trẻ sau sinh cho thấy: Sự tăng trưởng diễn ra tại các đường khớp xương, mức tăng trưởng giảm đột ngột trước tuổi dậy thì từ 2-3 năm, sau đó tăng nhanh ở tuổi dậy thì ở cả hai giới và giảm dần đến tuổi trưởng thành. Tốc độ tăng trưởng ở giai đoạn dậy thì khoảng 1mm/ năm [5] + Nghiên cứu của Hunter (1966), Popovich và Thompson (1977): Nghiên cứu cắt ngang ở tuổi dậy thì cho thấy thời kỳ tăng trưởng mặt tối đa và thời kỳ tăng trưởng chiều cao nhanh nhất trùng nhau, một số kích thước vùng mặt đạt mức 4 trưởng thành ngay trước tuổi trưởng thành, giúp các nhà lâm sàng tiên lượng được mức độ tăng trưởng trước và sau khi can thiệp trên bệnh nhân trẻ tuổi [6].
+ Nghiên cứu của Farkas (1994) [7]: Nghiên cứu trên 2326 người Caucasian ở Bắc Mỹ trong đó có 1096 nam và 1230 nữ từ sơ sinh đến 25 tuổi, tác giả chia thành 3 nhóm tuổi: 0-3 tuổi, 4-18 tuổi và 19-25 tuổi đánh giá sự tăng trưởng đầu- mặt ở cả hai giới. Cũng vào năm 2012, Koralakunte và Budihal nghiên cứu trên 200 sinh viên Ấn Độ đã kết luận có khoảng 31,5% dân số có mối tương quan hình dạng răng – mặt. Theo nghiên cứu của Al-Khatib AR, Rajion ZA, Masudi SM và cộng sự (2011) khi nghiên cứu trên 252 mẫu hàm của người Malay có độ tuổi từ 13-30 cũng đã kết luận kích thước ngang cung hàm ở nam lớn hơn nữ. Ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc đầu mặt, rải rác có một số công trình như sau nhưng chưa hệ thống, cỡ mẫu bé, chưa đại diện nên đến nay chưa có được các chỉ số đầu mặt cho ngừoi Việt nam để ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị mà chủ yếu các bác sỹ lâm sàng thường sử dụng các chỉ số của ngừơi Caucasian.
- Phạm Thị Hƣơng Loan và Hoàng Tử Hùng (1999) nghiên cứu so sánh đặc điểm cung răng người Việt với người Ấn Độ và Trung Quốc đưa ra nhận xét: Cung răng người Việt rộng hơn đáng kể so với cung răng người Ấn Độ, nhưng lại gần với kích thước cung răng người Trung Quốc. - Nghiên cứu của Lê Đức Lánh (2002): Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu- mặt và cung răng ở 140 trẻ từ 12-15 tuổi bằng cách đo trực tiếp và trên mẫu hàm thạch cao rút ra kết luận sau: kích thước đầu- mặt ở nam lớn hơn nữ, các kích thước tăng trưởng chậm từ 12-15 tuổi, chiều cao tầng mặt giữa đặc biệt chiều cao mũi tăng trưởng nhiều nhất, chỉ số đầu có xu hướng giảm cả hai giới để chuyển từ dạng đầu ngắn sang ranh giới giữa đầu ngắn và trung bình ở người trưởng thành [8]. - Nghiên cứu của Võ Trƣơng Nhƣ Ngọc (2010): Nghiên cứu Đặc điểm kết cấu sọ mặt và đưa ra tiêu chuẩn khuôn mặt hài hòa từ 18-25 tuổi bằng cả ba phương pháp đo cho thấy: Các kích thước ngang và dọc ở nam đều lớn hơn ở nữ, các tỷ lệ và chỉ số ở nam và nữ không khác nhau, mặt nam nhìn nghiêng nhô hơn mặt của nữ, mũi của nam cao và nhọn hơn của nữ, môi trên của nam nhô nhiều hơn của nữ [9] - Nghiên cứu của Hồ Thị Thùy Trang (2015): Nghiên cứu tuổi xương đốt sống cổ và ứng dụng khảo sat tăng trưởng hệ thống sọ mặt giai đoạn 8-18 tuổi. Kết 5 quả cho thấy: Các kích thước ở nam lớn hơn nữ, đỉnh tăng trưởng các kích thước hệ thống sọ mặt tương đương tuổi xương đốt sống cổ giai đoạn I và II, xương hàm dưới tăng trưởng nhiều nhất và nhiều hơn xương hàm trên, tầng mặt sau tăng trưởng nhiều hơn tầng mặt trước, tầng mặt trước tăng trưởng ít nhất[10] 1.
Các phƣơng pháp nghiên cứu nhân trắc đầu mặt 1. Trực tiếp Đo trực tiếp trên lâm sàng cho chỳng ta biết chính xác kích thước thật, các chỉ số trung thực. Tuy nhiên, phương pháp này mất nhiều thời gian và cần có nhiều kinh nghiệm để xác định các điểm chuẩn chính xác trên mô mềm. Tại Việt Nam, từ lâu phép đo trực tiếp đã được nhiều tác giả sử dụng trong nghiên cứu hình thái, điển hình là Nguyễn Quang Quyền (1974), Vũ Khoái (1978).