Tổng quan luận án

Phẫu thuật nội soi qua đường mũi trong điều trị các bệnh lý viêm và u vùng mũi xoang cũng như nền sọ mang lại nhiều ưu điểm so với phẫu thuật mở kinh điển: hạn chế tối đa đường rạch da mặt, tránh việc cắt khối xương hàm mặt hay mở nắp sọ, giảm sang chấn mô mềm, ít mất máu, rút ngắn thời gian hồi phục và bảo tồn chức năng cũng như thẩm mỹ. Nhờ sự phát triển của hệ thống camera độ phân giải cao và nguồn sáng lạnh, phẫu thuật nội soi đã mở rộng phạm vi tiếp cận đến các vùng giải phẫu nằm sâu và phức tạp như sàn sọ trước, sàn sọ giữa, hố chân bướm khẩu cái và hố dưới thái dương.

Hố chân bướm khẩu cái là khoang giải phẫu có hình tháp ngược nằm sau thành sau xoang hàm, liên thông với nhiều khoang quan trọng qua 7 lỗ và ống xương tự nhiên, đồng thời chứa đựng hệ thống mạch máu và thần kinh phức tạp (phân nhánh động mạch hàm, thần kinh V2, hạch chân bướm khẩu cái, thần kinh ống chân bướm). Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: hình ảnh cấu trúc giải phẫu dưới góc nhìn nội soi qua hốc mũi có sự khác biệt so với phẫu thuật mở truyền thống; đồng thời các dữ liệu định lượng về nhân trắc học, khoảng cách, tương quan vị trí giữa các mốc giải phẫu hố chân bướm khẩu cái trên người Việt Nam vẫn chưa được khảo sát đầy đủ.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Võ Công Minh, chuyên ngành Tai - Mũi - Họng (Mã số: 62720155), thực hiện tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Kiên Hữu và PGS.TS. Trần Thị Bích Liên, tập trung giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định các mốc giải phẫu: mào sàng, bó mạch bướm khẩu cái, thần kinh V2 và lỗ thần kinh ống chân bướm trong phẫu tích hố chân bướm khẩu cái dưới nội soi qua hốc mũi.
  2. Khảo sát các thành phần giải phẫu thần kinh, mạch máu, xương và cơ của hố chân bướm khẩu cái dưới nội soi.
  3. Mô tả đường tiếp cận hố chân bướm khẩu cái từ thành sau xoang hàm bằng nội soi qua hốc mũi.

Đối tượng nghiên cứu là 30 thi hài người Việt Nam trưởng thành (tương ứng 60 bên hốc mũi và hố chân bướm khẩu cái phải - trái) được ướp formol không quá 6 tháng tại Bộ môn Giải phẫu, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ tháng 12/2013 đến tháng 12/2017.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử phát triển của phẫu thuật nội soi mũi xoang và nền sọ qua các dấu mốc:

  • Hirschman (1901), Reichert (1902), Spielberg (1922) bắt đầu ứng dụng dụng cụ soi thăm dò xoang hàm.
  • Hopkins (thập niên 1960) sáng chế thấu kính dạng que dẫn sáng; Karl Storz sản xuất ống nội soi góc nhìn rộng từ 0° đến 120°.
  • Messerklinger (1970, 1978), Stammberger, Draf, Wigand và Kennedy (1985) đặt nền móng cho phẫu thuật nội soi chức năng xoang mũi (FESS).
  • Trong phẫu thuật nền sọ: Schloffer (1907) mở xoang bướm tiếp cận tuyến yên; Jules Hardy (1967) dùng kính hiển vi; Jankowski (1992), Cappabianca, de Divitiis phát triển nội soi tuyến yên; Jho (1996) dùng nội soi lấy u chordoma mặt dốc; Jho và Carrau (1997), Graham nghiên cứu chất lượng sống; Weiss (1987) mở rộng xuyên xoang bướm; Stamm (1985, 2008) ứng dụng trong u sọ hầu và thắt động mạch bướm khẩu cái; Couldwell nghiên cứu trên 105 bệnh nhân; Devaiah phân tích gộp 361 bệnh nhân u nguyên bào thần kinh khứu giác; Komotar, Padhye và Wormald tiếp cận u màng não sàn sọ trước kích thước trên 7 cm; Gustavo Rassier Isolan (2007), Yu Q (1998), Rivera-Serrano (2010), Varsney (2013) nghiên cứu đường mổ xuyên chân bướm và hố dưới thái dương.
Vùng giải phẫu Phương pháp kinh điển Phẫu thuật nội soi mới
Tuyến yên Mổ mở qua kính hiển vi Nội soi xuyên xoang bướm mở rộng
Hố sọ trước Tiếp cận qua khối sọ mặt Nội soi qua đường hốc mũi
Mặt dốc Mở sọ kinh điển qua bản dốc Nội soi xuyên mặt dốc
Hố chân bướm khẩu cái và hố dưới thái dương Xuyên thái dương hoặc xuyên thành sau xoang hàm (mổ mở) Nội soi xuyên thành sau xoang hàm qua hốc mũi

Luận án tổng kết các nghiên cứu trên thi hài quốc tế:

  • Solari (2007) khảo sát không gian thần kinh hố chân bướm khẩu cái trên 6 xác (12 bên).
  • Vescan (2007) đo chiều dài ống chân bướm trung bình 18 mm trên 44 bệnh nhân, xác định tương quan hằng định giữa ống Vidian và đoạn gối trước động mạch cảnh trong xương đá.
  • Isaacs (2007) xác định khoảng cách từ lỗ bướm khẩu cái đến hạch chân bướm khẩu cái (5 mm), đến lỗ tròn (7 mm) và đến ống chân bướm (2 mm).
  • Fortes (2008) phẫu tích 3 xác (6 bên) bơm silicone màu định vị động mạch hàm và thần kinh V2.
  • Gee (2012) khảo sát 3 xác (6 bên), ghi nhận đường kính động mạch hàm trung bình 4 mm (đoạn vào hố dày 5 mm).

Về mặt bệnh lý, hố chân bướm khẩu cái là nơi xâm lấn của u sợi mạch vòm mũi họng (phân loại theo Radkowski cải tiến: từ giai đoạn IIA đến IIIB), ung thư vòm mũi họng, sarcoma hố dưới thái dương, u tế bào Schwann (Schwannoma), u biểu mô nang tuyến (ACC) khẩu cái, ung thư xoang hàm, viêm xoang nấm xâm lấn và các tổn thương mạch máu cần can thiệp thắt động mạch bướm khẩu cái (Budrovich 1992, Nouraei, Lê Thị Mộng Thu) hoặc thắt động mạch hàm (McClurg).

Phân độ Radkowski cải tiến Mô tả mức độ xâm lấn
IA Giới hạn ở mũi và/hoặc hầu mũi
IB Xâm lấn vào các xoang cạnh mũi
IIA Xâm lấn tối thiểu vào hố chân bướm khẩu cái
IIB Chiếm toàn bộ hố chân bướm khẩu cái có hoặc không có hủy xương đỉnh hốc mắt
IIC Xâm lấn hố dưới thái dương có hoặc không có xâm lấn gò má ở trước hoặc chân bướm ở sau
IIIA Hủy xương sàn sọ (hố sọ giữa, thân xương bướm), xâm lấn nội sọ tối thiểu
IIIB Hủy xương sàn sọ, xâm lấn nội sọ mức độ nhiều, có/không xâm lấn xoang tĩnh mạch hang

Vị trí của luận án là thiết lập cơ sở dữ liệu giải phẫu định lượng và mô tả quy trình phẫu tích nội soi từng bước qua thành sau xoang hàm trên mẫu thi hài người Việt Nam, lấp đầy khoảng trống dữ liệu giải phẫu nhân trắc học trong nước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên lý thuyết giải phẫu định khu đầu mặt cổ và giải phẫu phẫu thuật nội soi sàn sọ. Hố chân bướm khẩu cái được xác định có 7 đường thông thương chính với các cấu trúc lân cận:

Hướng / Vị trí Lỗ hoặc ống xương tự nhiên Thành phần đi qua Cấu trúc kết nối
Phía sau Lỗ tròn (Foramen rotundum) Thần kinh sọ V2 Hố sọ giữa
Phía sau Ống chân bướm (Pterygoid / Vidian canal) Động mạch và thần kinh Vidian Hố sọ giữa / Đỉnh xương đá
Phía sau Ống khẩu cái hầu Bó mạch thần kinh hầu Hầu mũi / Hầu họng
Phía trước Khe dưới ổ mắt Động mạch và thần kinh dưới ổ mắt Hốc mắt
Phía trong Lỗ bướm khẩu cái (Sphenopalatine foramen) Động mạch bướm khẩu cái, thần kinh mũi sau Hốc mũi
Phía ngoài Khe chân bướm hàm Động mạch hàm, thần kinh huyệt răng sau trên Hố dưới thái dương
Phía dưới Ống khẩu cái lớn Động mạch khẩu cái xuống, thần kinh khẩu cái lớn và bé Khoang miệng

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả hàng loạt ca, lấy mẫu thuận tiện.
  • Cỡ mẫu: 30 thi hài người Việt Nam trưởng thành (tổng cộng 60 bên hốc mũi và hố chân bướm khẩu cái).
  • Tiêu chuẩn chọn mẫu: Thi thể người trưởng thành (≥ 18 tuổi) hiến tặng tại Bộ môn Giải phẫu Đại học Y Dược TPHCM, được xử lý bơm và ngâm formol không quá 6 tháng, cấu trúc giải phẫu nguyên vẹn.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Tuổi < 18; có dị tật hoặc biến dạng vùng sọ mặt trên đại thể; tiền sử phẫu tích vùng mũi xoang - sàn sọ; có chấn thương hoặc tổn thương bệnh lý tại hố chân bướm khẩu cái.
  • Trang thiết bị, công cụ thu thập:
    • Hệ thống nội soi Gyeongbok® kèm nguồn sáng lạnh, optic góc nhìn và camera độ phân giải cao.
    • Thước nhựa mềm Aspen®.
    • Thước đo độ sâu Mitutoyo®, thước đo bề dày Micromed®, thước đo góc.
    • Bộ dụng cụ phẫu tích vi phẫu: dao liềm, curette, kéo phẫu tích, kẹp vi phẫu.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Xử lý thống kê mô tả, kiểm định tương quan Pearson và xây dựng phương trình hồi quy đa biến đối với các khoảng cách và kích thước giải phẫu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện về vị trí, ranh giới hình nón cụt/kim tự tháp ngược của hố chân bướm khẩu cái; mô tả chi tiết 7 lỗ thông tự nhiên; phân bố chi tiết của thần kinh V2 (các nhánh huyệt răng sau trên, dưới ổ mắt, gò má, hầu, khẩu cái lớn/bé, mũi khẩu cái) và hạch chân bướm khẩu cái nhận sợi đối giao cảm từ thần kinh đá lớn (thần kinh VII) cùng sợi giao cảm từ thần kinh đá sâu; lộ trình động mạch hàm và các nhánh phân chia trong hố (động mạch huyệt răng sau trên, động mạch khẩu cái xuống, động mạch dưới ổ mắt, động mạch bướm khẩu cái). Đồng thời, chương 1 phân tích chỉ định phẫu thuật nội soi trong các nhóm bệnh lý u (u sợi mạch, ung thư vòm, sarcoma, Schwannoma, di căn thần kinh), bệnh lý viêm (nấm xâm lấn, áp xe) và bệnh lý mạch máu (chảy máu mũi sau); đối chiếu cấu trúc lớp mỡ đệm Bichat, cơ chân bướm trong, cơ chân bướm ngoài, cơ thái dương; tổng hợp các công trình giải phẫu nội soi trên thi hài trên thế giới.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thực hiện phẫu tích nội soi mô phỏng theo 6 bước tuần tự:

  1. Nội soi hốc mũi, xác định cuốn mũi dưới, cuốn mũi giữa, mỏm móc và lỗ thông xoang hàm tự nhiên.
  2. Cắt mỏm móc, mở rộng lỗ thông xoang hàm và cắt phần sau vách mũi xoang để bộc lộ toàn bộ thành sau xoang hàm.
  3. Nạo sàng trước, sàng sau, xác định mào sàng (ethmoidal crest) và lỗ bướm khẩu cái chứa bó mạch bướm khẩu cái.
  4. Mở thành sau xoang hàm bằng curette/khoan từ mào sàng, bộc lộ lớp màng và túi mỡ Bichat bảo vệ khoang chân bướm khẩu cái.
  5. Gỡ bỏ lớp mỡ để phẫu tích hệ thống động mạch hàm và các nhánh nông (động mạch khẩu cái xuống, dưới ổ mắt, huyệt răng sau trên).
  6. Đi vào lớp sâu: bộc lộ hạch chân bướm khẩu cái, thần kinh V2 ở phía trên ngoài tại lỗ tròn (foramen rotundum), và thần kinh ống chân bướm ở phía dưới trong tại lỗ ống chân bướm (pterygoid canal); đo đạc các kích thước ba chiều và khoảng cách đến các mốc giải phẫu cố định.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu đo đạc trực tiếp trên 60 bên phẫu tích:

  • Đặc điểm mẫu: Tỷ lệ phân bố giới tính và nơi cư trú của mẫu nghiên cứu.
  • Tần suất và tương quan mốc giải phẫu: Tỷ lệ xuất hiện của mào sàng, vị trí tương quan giữa mào sàng và bó mạch bướm khẩu cái, số lượng phân nhánh của động mạch bướm khẩu cái khi ra khỏi lỗ.
  • Các số đo khoảng cách từ mào sàng:
    • Khoảng cách từ mào sàng đến gai mũi trước.
    • Khoảng cách từ mào sàng đến mặt trước xoang bướm, thành sau lỗ thông xoang hàm, sàn mũi và thần kinh V2.
  • Các số đo liên quan đến lỗ và thần kinh ống chân bướm (Vidian):
    • Đường kính lỗ ống chân bướm; khoảng cách từ gai mũi trước, mào sàng, lỗ thông tự nhiên xoang bướm đến lỗ ống chân bướm.
    • Tương quan Pearson giữa vị trí lỗ ống chân bướm và các mốc giải phẫu lân cận.
  • Kích thước mạch máu và thần kinh:
    • Đường kính động mạch hàm, động mạch bướm khẩu cái, động mạch khẩu cái xuống, hạch chân bướm khẩu cái, lỗ tròn và lỗ thần kinh Vidian.
    • Khoảng cách và góc tạo bởi đường nối lỗ tròn - lỗ ống chân bướm so với mặt phẳng sàn mũi.
  • Kích thước cửa sổ phẫu thuật hố chân bướm khẩu cái:
    • Kích thước chiều trong - ngoài, chiều trên - dưới và chiều sâu trước - sau của hố.
    • Các đồ thị phân bố hình chuông và phương trình hồi quy đa biến dự đoán khoảng cách các mốc giải phẫu.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả bàn luận sâu về:

  • Độ tin cậy và tính hằng định của mào sàng và bó mạch bướm khẩu cái như là mốc giải phẫu dẫn đường đầu tiên (first surgical landmark) để mở thành sau xoang hàm.
  • Giá trị định vị của lỗ ống chân bướm trong việc bảo tồn và tìm đoạn gối 2 của động mạch cảnh trong ở vùng đỉnh xương đá.
  • Trình tự sắp xếp lớp giải phẫu theo chiều trước - sau: Mỡ đệm Bichat → Hệ mạch máu (động mạch hàm và các nhánh) → Hệ thần kinh (thần kinh V2, hạch chân bướm khẩu cái, thần kinh Vidian) → Thành xương đáy sọ (thân xương bướm, chân bướm, lỗ tròn, ống Vidian).
  • Đánh giá tính an toàn, khả thi của đường tiếp cận nội soi xuyên thành sau xoang hàm so với các đường mổ mở kinh điển (Caldwell-Luc, đường trước tai dưới thái dương).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học

  • Cung cấp bộ dữ liệu nhân trắc học giải phẫu chi tiết về hố chân bướm khẩu cái trên thi hài người Việt Nam trưởng thành qua phẫu trường nội soi.
  • Xác lập mối tương quan không gian giữa các cấu trúc giải phẫu nội mũi (gai mũi trước, mào sàng, lỗ thông xoang bướm, sàn mũi) với các cấu trúc sâu thuộc nền sọ (lỗ tròn chứa thần kinh V2, lỗ ống chân bướm chứa thần kinh Vidian).
  • Chứng minh tính ứng dụng của phương trình hồi quy đa biến trong việc ước lượng vị trí các cấu trúc giải phẫu nằm sâu dựa trên các mốc giải phẫu nông dễ nhận diện.

Đóng góp về thực tiễn ngoại khoa

  • Chuẩn hóa quy trình phẫu tích nội soi hố chân bướm khẩu cái qua đường thành sau xoang hàm gồm các bước định vị liên hoàn: tìm mào sàng → bộc lộ bó mạch bướm khẩu cái → mở thành sau xoang hàm → bóc tách mỡ Bichat → kiểm soát động mạch hàm → bộc lộ tam giác thần kinh (V2 - hạch - Vidian).
  • Xác nhận lỗ ống chân bướm là mốc giải phẫu then chốt giúp định vị an toàn động mạch cảnh trong đoạn xương đá khi mở rộng phẫu trường vào nền sọ giữa và xoang tĩnh mạch hang.
  • Khẳng định tính khả thi của phẫu thuật nội soi qua hốc mũi trong điều trị u sợi mạch vòm mũi họng, u bao dây thần kinh, viêm xoang nấm xâm lấn và thắt mạch cầm máu mũi sau tái phát, giúp giảm thiểu biến chứng tàn phá của đường mổ hở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện trên thi hài ướp formol, do đó trương lực mô mềm, tính chất mạch máu và độ giãn nở không hoàn toàn đồng nhất với cơ thể sống; không có hiện tượng chảy máu và áp lực dịch nội sọ như trong phẫu thuật lâm sàng thực tế. Cỡ mẫu dừng lại ở 30 thi thể (60 bên hố chân bướm khẩu cái) tại một trung tâm giải phẫu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Ứng dụng các số đo và quy trình định vị vào phẫu thuật lâm sàng trên người bệnh; kết hợp nghiên cứu hình ảnh học cắt lớp vi tính (CT scan) đa lát cắt và hệ thống định vị không gian ba chiều trong mổ (Image Guided System - IGS) để đối chiếu độ chính xác giữa giải phẫu thi thể và thực tế phẫu trường.

Giá trị tham khảo

  • Đối với phẫu thuật viên Tai - Mũi - Họng và Ngoại Thần kinh: Cung cấp bản đồ giải phẫu định khu chính xác, giúp định vị nhanh các mốc giải phẫu nguy hiểm, kiểm soát chảy máu từ hệ động mạch hàm và phòng tránh tổn thương thần kinh sọ V2, thần kinh Vidian, động mạch cảnh trong.
  • Đối với công tác đào tạo sau đại học: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho học viên chuyên khoa, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh trong thực hành phẫu tích nội soi mũi xoang nâng cao và phẫu thuật nền sọ.
  • Các phần có giá trị tham khảo nổi bật: Bảng phân loại tương quan giải phẫu các lỗ sàn sọ (Chương 1), quy trình phẫu tích nội soi từng bước qua thành sau xoang hàm (Chương 2), và hệ thống số đo nhân trắc học giải phẫu hố chân bướm khẩu cái (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn mốc giải phẫu chính được luận án xác định để tiếp cận hố chân bướm khẩu cái là gì?

Bốn mốc giải phẫu chính bao gồm:

  1. Mào sàng (Ethmoidal crest).
  2. Bó mạch bướm khẩu cái (Sphenopalatine neurovascular bundle).
  3. Thần kinh sọ V2 tại lỗ tròn (Foramen rotundum).
  4. Lỗ thần kinh ống chân bướm (Pterygoid / Vidian canal).

2. Trình tự các lớp giải phẫu từ nông vào sâu trong hố chân bướm khẩu cái dưới nội soi được sắp xếp như thế nào?

Sau khi mở xương thành sau xoang hàm, các lớp cấu trúc xuất hiện theo thứ tự:

  • Lớp nông nhất: Lớp màng bao và đệm mỡ Bichat (Bichat's fat pad).
  • Lớp giữa: Hệ thống mạch máu gồm thân động mạch hàm và các nhánh phân chia (động mạch dưới ổ mắt, động mạch khẩu cái xuống, động mạch bướm khẩu cái, động mạch huyệt răng sau trên).
  • Lớp sâu nhất: Hệ thống thần kinh (thần kinh V2, hạch chân bướm khẩu cái, thần kinh Vidian) nằm áp sát thành sau xương (thân xương bướm và các chân bướm chứa lỗ tròn và lỗ ống chân bướm).

3. Ý nghĩa của ống thần kinh chân bướm (Vidian) trong phẫu thuật nội soi sàn sọ là gì?

Ống chân bướm là mốc định vị giải phẫu hằng định để xác định đoạn gối 2 (đoạn gối trước) của động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá. Khi phẫu tích dọc theo ống chân bướm về phía sau trong, phẫu thuật viên có thể kiểm soát và bảo vệ động mạch cảnh trong trước khi can thiệp vào các khối u vùng đỉnh xương đá, thân xương bướm hay xoang tĩnh mạch hang.

4. Luận án tổng kết những nhóm bệnh lý nào có thể ứng dụng phẫu thuật nội soi tiếp cận hố chân bướm khẩu cái?

Các nhóm bệnh lý bao gồm:

  • Khối u lành và ác tính xâm lấn: U sợi mạch vòm mũi họng (theo phân độ Radkowski cải tiến), u tế bào Schwann (Schwannoma), u biểu mô nang tuyến (ACC) khẩu cái, ung thư xoang hàm, ung thư vòm mũi họng.
  • Bệnh lý viêm nhiễm: Viêm xoang nấm xâm lấn gây tiêu xương thành sau xoang hàm, áp xe vùng chân bướm khẩu cái.
  • Bệnh lý mạch máu: Chảy máu mũi sau tái phát kháng trị cần can thiệp thắt hoặc đốt điện động mạch bướm khẩu cái hoặc động mạch hàm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Công Minh đã hoàn thành việc khảo sát giải phẫu định lượng hố chân bướm khẩu cái qua nội soi trên 60 bên phẫu tích thi thể người Việt Nam trưởng thành. Công trình đã xác định rõ hệ thống mốc định vị giải phẫu liên hoàn, mô tả chi tiết tương quan không gian giữa hệ mạch máu động mạch hàm và hệ thần kinh V2 - Vidian, đồng thời chuẩn hóa quy trình tiếp cận hố chân bướm khẩu cái qua thành sau xoang hàm. Kết quả nghiên cứu là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho chuyên ngành phẫu thuật nội soi mũi xoang và nền sọ.