đặt vấn đề phục hồi các hố mổ chũm tiệt căn, bít lấp hốc mổ chũm và tạo hình ống tai bằng vạt cân cơ sau tai, tái tạo trụ dẫn bằng xương tự thân giúp vết mổ chóng liền và phục hồi thính lực [39, 40]. 1998, Nguyễn Tấn Phong, Lương Hồng hâu tiến hành phục hồi các hốc mổ khoét chũm. S dụng các vạt cân – cơ, vạt cân – cơ – da và vạt cân cơ thái dương (HongKong Flap), tạo hình thành sau ống tai bằng sụn loa tai, tái tạo xương con bằng chất dẻo hoặc xương tự thân cho thấy vạt cân cơ thái dương 5 cho t lệ tai khô lên đến 87%, cao hơn hẳn các so với các bệnh nhân không được bít lấp và cao hơn so với các loại vạt khác [19]. 1999: Nguyễn Tấn Phong, Nguyễn Kim Ngh a tiến hành bít lấp hốc mổ chũm bằng bột xương và cân cơ cho thấy t lệ khô tai lên đến 81% [17].
2006, Nguyễn Tấn Phong [18] nghiên cứu đánh giá kỹ thuật chỉnh hình ống tai cải tiến kiểu “trâu lá đa”. 2005, àm Nhật Thanh [6] nghiên cứu hình tình trạng hốc mổ sau phẫu thuật K T trên 79 bệnh nhân cho thấy 68.4% bệnh nhân do các nguyên nhân như: tường dây VII cao, c a tai hẹp, hốc mổ không trơn nhẵn, biểu mô hóa kém, hoặc do hốc mổ quá rộng. 2005, hu Thị Kim Anh [7] nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật chỉnh hình hốc mổ K T trên 30 bệnh nhân có tình trạng chảy tai kéo dài sau phẫu thuật bằng cách hạ thấp tường dây VII, mở rộng c a tai, lấy bỏ các thông bào viêm và bít lấp một phần hốc mổ cho kết quả khô tai sau phẫu thuật là 86. Như vậy chúng ta có thể thấy nền tảng phẫu thuật điều trị viêm tai giữa mạn tính mặc dù đã được Schwartze đặt nền móng t n a cuối thế k 18 với phẫu thuật khoét chũm đơn thuần.
Zaufall và Stacke sau đó đã đề xuất việc lấy bỏ thành sau ống tai trong phẫu thuật K T nhằm mục đích lấy sạch bệnh tích. Tuy nhiên, cùng với sự ra đời và phát triển của phẫu thuật này, các vấn đề liên quan đến hốc mổ K T cũng dần xuất hiện và ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Hai vấn đề nổi trội nhất chính là chảy tai kéo dài và tình trạng mất chức năng trầm trọng sau phẫu thuật. Hầu hết các nghiên cứu về phẫu thuật K T t đầu thế k 19 đến hết thế k 20 đều xoay quanh các kỹ thuật để khắc phục tình trạng này và hiệu quả của chúng.
Nghiên cứu về THTG trên hốc mổ KCTC 1. Nước ngoài 1998, Shinkawa A. và cs [41] nghiên cứu phẫu thuật THTG kết hợp bít lấp hốc mổ chũm trên 54 bệnh nhân sau K T để điều trị VTGtm không có cholesteatoma.2% bệnh nhân có ABG sau mổ ≤ 20 dB và có hốc mổ ổn định sau phẫu thuật. [42] nghiên cứu về kết quả phục hồi sức nghe trên các bệnh nhi sau KCTC kết hợp với THTG và so sánh kết quả với các bệnh nhân sau khoét xương chũm giữ nguyên thành sau ống tai kết hợp THTG cho thấy kết quả phục hồi sức nghe ở 2 nhóm như nhau.
và cs [43] nghiên cứu về THTG trên các hốc mổ KCTC ở những bệnh nhân cholesteatoma lan rộng và hủy hoại xương con nặng nề cho thấy KCTC là phẫu thuật cho kết quả có khả năng loại tr bệnh tích tốt, tạo nên một tai khô, an toàn cho phẫu thuật THTG và có khả năng phục hồi sức nghe tốt với 35.6% bệnh nhân có khoảng ABG sau phẫu thuật ≤ 20 dB. và cs [28] nghiên cứu về hiệu quả phục hồi sức nghe ngắn và dài hạn sau phẫu thuật THTG và HX ở 387 bệnh nhân sau khoét chũm tiệt căn. Với 64% bệnh nhân có A G trung bình sau phẫu thuật ≤20 d và giảm nhẹ ≤1 d /năm cho thấy đây là phẫu thuật hiệu quả và có tính ổn định cao. 2006, E De Corso và cs [29] nghiên cứu THTG và CHXC trên hốc mổ KCTC ở 142 bệnh nhân cho thấy kết quả khả quan với: 62.67% bệnh nhân có ABG sau mổ ≤ 20 dB.
2008, Redaelli de Zinis, L. [22] nghiên cứu về THTG và CHXC trên các hốc mổ KCTC với chất liệu thay thế xương con bằng titanium và hydroxyapatite cho thấy 40% bệnh nhân có cải thiện khoảng ABG sau phẫu thuật với trung bình ABG sau phẫu thuật là 26. và cs [44] nghiên cứu về THTG trên hốc mổ KCTC bằng phương pháp nối tắt màng nh – chỏm xương bàn đạp hoặc màng nh – ngành xuống xương đe cho thấy ABG sau phẫu thuật < 30 dB chiếm 62% và 92%, với trung bình ABG sau phẫu thuật ở 2 nhóm lần lượt là 24. Việt nam 1980, Lương S ần, Nguyễn Tấn Phong và cs đã s dụng màng nh và xương con đồng chủng để tái tạo lại hệ thống truyền âm trên các trường hợp màng nh thủng rộng, đứt đoạn xương con thu được kết quả rất đáng khích lệ [45].
1981, Lương S ần, Lê S Nhơn, Nguyễn Tấn Phong qua tổng kết đã cho thấy hiệu quả lành bệnh và phục hồi thính lực 70% đến 80% khi áp dụng các phương pháp tạo hình tai giữa [46]. 2004, Nguyễn Tấn Phong s dụng chất liệu gốm sinh học sản xuất trong nước trong tạo hình trụ dẫn thay thế xương bàn đạp trong phẫu thuật xốp xơ tai cho thấy 80% các trường hợp được phẫu thuật có cải thiện sức nghe [24]. 2005, Lương Hồng hâu, ao Minh Thành s dụng gốm sinh học tạo hình trụ dẫn thay thế xương con bị gián đoạn trong phẫu thuật tạo hình xương con thì một đối với bệnh lý viêm tai giữa có cholesteatoma cho thấy cải thiện sức nghe trung bình trên PTA là 18,90% [27]. 2008, ao Minh Thành, Nguyễn Tấn Phong s dụng các trụ dẫn bằng gốm thủy tinh sinh học và xương con tự thân trên các bệnh nhân viêm tai giữa mạn tổn thương xương con cho thấy mức độ cải thiện sức nghe trên PTA và A G lần lượt là 18,91 và 18,63 d đối với nhóm tạo hình xương con bán phần, 15,19 và 14,38 d đối với nhóm tạo hình xương con toàn phần [26].
Như vậy, vấn đề THTG và CHXC để khắc phục lại các tổn thương của hệ thống truyền âm trên các hốc mổ K T đã được nhiều tác giả báo cáo. 8 Tuy nhiên, các kết quả rất thay đổi vì sự khác biệt về mặt kỹ thuật, mức độ tổn thương của hốc mổ, thời gian t lúc K T đến khi THTG và chất liệu s dụng để THTG. Màng nh Là thành ngoài của hòm nh , có hình bầu dục, l m ở giữa giống như hình nón. hỗ l m nhiều nhất gọi là rốn nh.
Màng nh hơi ngả về phía trước và phía ngoài hợp với thành ống tai một góc 40 – 450. Kích thước: đo qua rốn nh ường kính trên dưới: 9 – 10mm. ường kính ngang: 8 – 9mm. ấu tạo: màng nh gồm 2 phần Phần trên là màng mỏng Shrapnell, còn gọi là màng chùng vì không có lớp sợi, chiếm diện tích màng nh.
Phần dưới là màng căng chiếm diện tích màng nh , gắn vào ống tai ngoài bởi một tổ chức sợi vòng mịn gọi là vòng Gerlach. ấu trúc màng căng gồm có 3 lớp: o Lớp ngoài: là biểu mô liên tiếp với biểu bì ống tai ngoài. o Lớp giữa: là lớp xơ, gắn vào cán búa, bao gồm các sợi hình tia và hình vòng tạo nên một cấu trúc phức tạp. hính lớp này đảm bảo cho màng nh có độ co giãn cần thiết o Lớp trong: là lớp niêm mạc, liên tục với niêm mạc hòm nh.
hức năng: chức năng chính của màng nh là biến rung động âm thanh trong không khí thành rung động cơ học và chuyển các rung động này cho cán búa. hức năng khác của màng nh là tạo nên sự chênh lệch về diện tích rung động giữa màng nh và c a sổ bầu dục, làm gia tăng áp xuất âm thanh tại c a 9 sổ bầu dục. hức năng cuối cùng là tạo hiệu ứng “bảo vệ” cho c a sổ tròn và ngăn cách tai giữa với môi trường ống tai ngoài. ệ thống ƣơng con Gồm 3 xương: xương búa, xương đe, xương bàn đạp Hình 1.
Hệ thống xương con [47] Xương búa o ầu: phía sau có diện khớp tiếp xúc với xương đe. o ổ: cơ căng màng nh bám vào. o án: chếch xuống dưới và ra sau, dính vào lớp sợi của màng nh o Kích thước: [48] hiều dài xương búa: 7.35mm hiều dài cán xương búa: 4.35mm ường kính trước sau cán xương búa: 0.06mm ường kính trong ngoài cán xương búa: 1.13mm o Khối lượng: 23.73mg 10 Xương đe: gồm có các thành phần: o Thân xương đe, tiếp khớp với chỏm xương búa o Ngành trên ngăn, nằm ngang, hướng ra sau o Ngành dưới dài, đứng thẳng, ở đầu có mỏm đậu tiếp khớp với xương bàn đạp o Kích thước: [48] hiều dài: 6.41mm Khối lượng: 26.02mg Xương bàn đạp: gồm có các thành phần: o ế đạp gắn vào c a sổ bầu dục o Hai gọng: trước và sau o Kích thước: [48] hiều cao: 3.21mm ường kính lớn đế đạp: 2.19mm ường kính nhỏ đế đạp: 1.11mm ộ dầy ở phần giữa đế đạp: 0.04mm hiều cao chỏm xương bàn đạp: 0.16mm ường kính dọc chỏm xương bàn đạp: 0.07mm ường kính ngang chỏm xương bàn đạp: 1.12mm o Khối lượng: 3. P ẪU T UẬT K OÉT ŨM T ỆT ĂN 1.
ịnh ngh a Phẫu thuật khoét chũm tiệt căn (K T ) là phẫu thuật mở thông sào bào, sào đạo, thượng nh , hòm nh. Thống nhất sào bào sào đạo và hòm tai thành một hốc mổ duy nhất [49]. Phân loại phẫu thuật khoét chũm tiệt căn Mặc dù với cùng một nguyên lý phẫu thuật, nhưng tùy vào mức độ lan rộng của bệnh tích chúng ta có thể thấy phẫu thuật K T được chia làm 3 loại như sau [45, 50]: 1. KCTC kinh điển (toàn phần, radical mastoidectomy) Định nghĩa: Là phẫu thuật khoét chũm, mở sào bào và thượng nh , lấy bỏ thành sau trên ống tai, hạ thấp tường dây VII, các thành phần trong hòm tai như: phần còn lại của xương đe và xương búa, phần còn lại của màng nh , khung nh đều bị lấy bỏ.
Thậm chí khung nh xương đôi khi cũng bị lấy bỏ, vòi nh có thể bị đóng. hỉnh hình ống tai rộng rãi.