Tổng quan luận án
Phẫu thuật khoét chũm tiệt căn (KCTC) là phương pháp phẫu thuật được áp dụng phổ biến trong điều trị viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm có cholesteatoma (chiếm khoảng 20 – 30% các trường hợp viêm tai giữa mạn tính) nhằm loại bỏ triệt để bệnh tích và phòng ngừa các biến chứng nội sọ hoặc viêm mê nhĩ đe dọa tính mạng. Mặc dù đạt hiệu quả làm sạch bệnh lý, phẫu thuật KCTC để lại nhiều hệ quả nặng nề về hình thái và giải phẫu tai giữa: tỷ lệ chảy tai sau mổ dao động từ 20% đến 60%, hốc mổ bị biến đổi cấu trúc và chịu tác động của quá trình viêm, xơ hóa kéo dài dẫn đến tình trạng suy giảm sức nghe tiến triển.
Các kỹ thuật chỉnh hình hốc mổ, thu hẹp hốc chũm bằng vạt cân cơ hoặc vật liệu tự thân/nhân tạo ra đời sau này đã nâng tỷ lệ khô tai lên 80 – 87%, tạo tiền đề giải phẫu thuận lợi. Tuy nhiên, việc phục hồi chức năng nghe cho bệnh nhân có hốc mổ KCTC vẫn là thách thức lớn. Hệ thống màng nhĩ và xương con thường bị phá hủy hoặc xơ dính nghiêm trọng. Các vật liệu tạo hình xương con tự thân hay đồng chủng dễ bị tiêu xương hoặc cố định xơ dính, trong khi vật liệu nhân tạo thế hệ cũ có tỷ lệ thải ghép cao. Vật liệu gốm y sinh học (bioceramic) với tính tương hợp sinh học cao, tỷ lệ thải ghép thấp, dễ tạo hình và giá thành hợp lý đã mở ra hướng can thiệp mới, song việc ứng dụng cụ thể trụ gốm sinh học trong chỉnh hình tai giữa trên hốc mổ KCTC chưa được nghiên cứu hệ thống tại Việt Nam.
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu biến đổi hình thể và chức năng của hốc mổ khoét chũm tiệt căn.
- Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật chỉnh hình tai giữa – tạo hình xương con bằng trụ gốm sinh học trên hốc mổ khoét chũm tiệt căn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Gồm 42 bệnh nhân đã được phẫu thuật KCTC, có tình trạng tai khô ổn định ít nhất 6 tháng, bị điếc dẫn truyền hoặc điếc hỗn hợp có khoảng cách đường khí – đường xương (Air – Bone Gap: ABG) $\ge$ 35 – 40 dB.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại ba cơ sở y tế: Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc và Bệnh viện Hưng Việt.
- Phạm vi thời gian: Thời gian thu thập số liệu và thực hiện phẫu thuật từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2013; thời gian theo dõi, đánh giá kết quả sau mổ là 6 tháng và 12 tháng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan y văn trong nước và quốc tế về hốc mổ KCTC và phẫu thuật chỉnh hình tai giữa ghi nhận các công trình chính sau:
Các nghiên cứu quốc tế
- Vartiainen E. (2000): Nghiên cứu trên 136 bệnh nhân sau KCTC do cholesteatoma chỉ ra ba vấn đề tồn tại lớn nhất là sót bệnh tích, chảy tai dai dẳng và nghe kém (46% bệnh nhân có ABG trung bình sau mổ $\ge$ 40 dB).
- Rambo (1957), Peck (1961), Clair Simmons và cộng sự (1976): Phân tích nguyên nhân teo và xơ hóa vạt mô mềm bít lấp hốc mổ. Nghiên cứu thực nghiệm trên khỉ của Clair Simmons chứng minh vạt cơ thái dương cuống sau bị cắt đứt nhánh thần kinh chi phối (nhánh gò má thái dương của dây V) sẽ bị thoái hóa và thay thế hoàn toàn bằng mô xơ sau 3 tháng, trong khi vạt cuống trước giữ nguyên phân bố thần kinh thì không bị teo.
- East và cộng sự (1991), Van Hasselt (1993): Sử dụng vạt cân thái dương – đỉnh (đường sau tai) và vạt cân cơ thái dương "Hong Kong" (đường trước tai) có cuống mạch chứa động mạch thái dương nông, không xảy ra hiện tượng teo vạt, nâng cao tỷ lệ khô tai.
- Shinkawa A. và cộng sự (1998): Phẫu thuật tạo hình tai giữa kết hợp bít lấp hốc mổ trên 54 bệnh nhân sau KCTC, ghi nhận tỷ lệ cải thiện ABG $\le$ 20 dB.
- E De Corso và cộng sự (2006): Thực hiện chỉnh hình tai giữa và chỉnh hình xương con trên hốc mổ KCTC ở 142 bệnh nhân, đạt 62,67% trường hợp có ABG sau mổ $\le$ 20 dB.
- Redaelli de Zinis L. (2008): Ứng dụng titanium và hydroxyapatite trong tạo hình xương con trên hốc mổ KCTC, ghi nhận 40% bệnh nhân cải thiện khoảng ABG với ABG trung bình sau mổ là 26 dB.
- Reck (1984), Gersdorff và cộng sự: Đề xuất và ứng dụng gốm thủy tinh sinh học trong tạo hình tai giữa trên hơn 1.300 trường hợp, chứng minh trụ gốm có khả năng gắn kết sinh học, kích thích tạo xương và ổn định tốt hơn Plasti-Pore.
Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Lương Sỹ Cần, Nguyễn Tấn Phong và cộng sự (1980, 1981): Đặt nền móng cho việc phục hồi hốc mổ KCTC bằng vạt cân cơ sau tai, tái tạo trụ dẫn bằng xương tự thân hoặc xương/màng nhĩ đồng chủng, đạt tỷ lệ liền bệnh và phục hồi thính lực từ 70% đến 80%.
- Nguyễn Tấn Phong, Lương Hồng Châu (1998): Phục hồi hốc mổ khoét chũm bằng vạt Hong Kong cho tỷ lệ khô tai đạt 87%.
- Nguyễn Tấn Phong, Nguyễn Kim Nghĩa (1999): Bít lấp hốc mổ chũm bằng bột xương và cân cơ đạt tỷ lệ khô tai 81%.
- Đàm Nhật Thanh (2005): Khảo sát 79 bệnh nhân sau KCTC, xác định 68,4% bệnh nhân chảy tai do tường dây VII cao, cửa tai hẹp, hốc mổ gồ ghề, biểu mô hóa kém hoặc hốc mổ quá rộng.
- Chu Thị Kim Anh (2005): Phẫu thuật chỉnh hình hốc mổ KCTC trên 30 bệnh nhân chảy tai kéo dài bằng hạ thấp tường dây VII, mở rộng cửa tai và bít lấp hốc mổ, đạt tỷ lệ khô tai 86%.
- Nguyễn Tấn Phong (2004, 2006): Sử dụng trụ gốm sinh học sản xuất trong nước thay thế xương bàn đạp trong phẫu thuật xốp xơ tai (80% cải thiện sức nghe); cải tiến kỹ thuật chỉnh hình ống tai kiểu "trâu lá đa".
- Lương Hồng Châu, Cao Minh Thành (2005): Ứng dụng trụ gốm sinh học thay thế xương con trong phẫu thuật viêm tai giữa có cholesteatoma thì một, cải thiện PTA trung bình 18,90%.
- Cao Minh Thành, Nguyễn Tấn Phong (2008): Đánh giá trụ gốm thủy tinh sinh học và xương con tự thân, ghi nhận mức cải thiện PTA và ABG lần lượt là 18,91 dB và 18,63 dB (tạo hình bán phần), 15,19 dB và 14,38 dB (tạo hình toàn phần).
- Nguyễn Thị Hằng, Lê Công Định, Nguyễn Tấn Phong: Báo cáo tỷ lệ ABG < 20 dB sau thay thế xương bàn đạp bằng trụ gốm đạt 89,5% (6 tháng), 91,58% (12 tháng) và 91% (24 tháng).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của trụ gốm sinh học trong viêm tai giữa thông thường hoặc xốp xơ tai, chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống việc sử dụng các loại trụ gốm y sinh học đa dạng (chế tạo riêng cho từng dạng thương tổn xương con) trong phẫu thuật nội soi chỉnh hình tai giữa trên nền hốc mổ KCTC đã ổn định.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở giải phẫu và phân loại bệnh học
Luận án dựa trên cơ sở giải phẫu hệ thống truyền âm tai giữa và các biến đổi giải phẫu theo phân loại phẫu thuật KCTC:
| Cấu trúc giải phẫu |
Kích thước / Trọng lượng chuẩn |
Đặc điểm hình thái và chức năng |
| Màng nhĩ |
Đường kính dọc: 9 – 10 mm Đường kính ngang: 8 – 9 mm Góc nghiêng ống tai: $40 - 45^\circ$ |
Gồm 2 phần: màng chùng (Shrapnell) và màng căng (gắn vào vòng Gerlach, gồm 3 lớp: biểu mô, lớp sợi, niêm mạc). Biến đổi rung động âm thanh không khí thành rung động cơ học, bảo vệ cửa sổ tròn. |
| Xương búa |
Chiều dài toàn bộ: 7,35 mm Cán xương búa: 4,35 mm Đường kính cán: $0,06 \times 1,13$ mm Khối lượng: 23,73 mg |
Gồm đầu, cổ, cán. Cán dính vào lớp sợi màng nhĩ, đầu khớp với thân xương đe. |
| Xương đe |
Chiều dài: 6,41 mm Khối lượng: 26,02 mg |
Gồm thân (tiếp khớp đầu búa), ngành trên ngắn (hướng sau), ngành dưới dài (mang mỏm đậu khớp với chỏm bàn đạp). |
| Xương bàn đạp |
Chiều cao: 3,21 mm Kích thước đế: $2,19 \times 1,11$ mm Độ dày giữa đế: 0,04 mm Khối lượng: 3,1 mg |
Gồm chỏm (cao 0,16 mm, rộng 1,12 mm, dọc 0,07 mm), hai gọng (trước, sau) và đế đạp gắn vào cửa sổ bầu dục. |
Phân loại 3 dạng hốc mổ KCTC lâm sàng:
- Hốc mổ KCTC kinh điển (toàn phần): Lấy bỏ thành sau trên ống tai, hạ thấp tường dây VII, lấy bỏ xương búa, xương đe, màng nhĩ và khung nhĩ. Tổn thương truyền âm nặng nề, nguy cơ xơ hóa và chảy nước cao do thiểu dưỡng vạt da.
- Hốc mổ KCTC cải biên: Mở sào bào, thượng nhĩ, lấy bỏ thành sau trên ống tai và hạ thấp tường dây VII nhưng bảo tồn tối đa các thành phần nguyên vẹn trong hòm nhĩ; hốc mổ nhỏ hơn, da lót dày, dễ khô.
- Hốc mổ KCTC tối thiểu: Mở chọn lọc sào bào, sào đạo, thượng nhĩ qua đường xuyên ống tai trên xương chũm đặc ngà; hốc mổ rất nhỏ, nông, hòa vào ống tai.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Can thiệp lâm sàng tự đối chứng, kết hợp mô tả cắt ngang trước can thiệp và đánh giá hiệu quả sau can thiệp (bước 1: đánh giá hình thái, nội soi, thính lực trước mổ; bước 2: phẫu thuật chỉnh hình bằng trụ gốm sinh học và đo kiểm tra chức năng thính giác sau mổ).
- Cỡ mẫu: 42 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Hốc mổ đang chảy nước; điếc tiếp nhận; biểu bì hóa toàn bộ hốc mổ kèm mất chức năng vòi nhĩ hoàn toàn; mất toàn bộ đế đạp hoặc cửa sổ bầu dục bị xơ hóa/biểu bì hóa bít lấp; bệnh nhân không theo dõi đủ 6 tháng.
- Trang thiết bị, công cụ:
- Hệ thống nội soi phẫu thuật Karl-Storzt với ống soi $0^\circ$ đường kính 4 mm và 2,7 mm.
- Máy đo thính lực đơn âm Siemen SD 50 (Đức).
- Bộ dụng cụ vi phẫu tai nội soi chuyên dụng.
- Vật liệu trụ gốm y sinh học: Do Bộ môn Công nghệ Vật liệu Silicat – Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội sản xuất theo tiêu chuẩn TC 008: 2008/TT, thành phần hóa học gồm hệ đa cấu tử: $\text{SiO}_2\text{-Al}_2\text{O}_3\text{-B}_2\text{O}_3\text{-CaO-MgO-P}_2\text{O}_5\text{-F}$.
| Loại trụ gốm sinh học |
Đặc điểm cấu trúc, kích thước |
Trọng lượng |
Chỉ định tổn thương |
| Trụ thay thế xương đe |
Đầu trên hình càng cua (kích thước trong 1 mm, ngoài 1,6 mm; gọng trước 1 mm, gọng sau 0,7 mm) khớp cán búa; đầu dưới hình ổ cối (đường kính trong 1 mm, ngoài 1,6 mm, sâu 1 mm) khớp chỏm bàn đạp. |
10 – 15 mg |
Mất xương đe, cán búa và chỏm bàn đạp còn nguyên. |
| Trụ máng xương đe |
Cấu trúc như trụ thay đe nhưng gọng nối dài từ 3,0 – 3,5 – 4,0 mm. |
10 – 15 mg |
Mất xương đe, cán búa bị cụt một phần. |
| Trụ thay đe có rãnh |
Đầu dưới xẻ rãnh kích thước $0,5 \times 0,5$ mm để khớp với hai gọng xương bàn đạp. |
10 – 15 mg |
Mất xương đe, cụt chỏm xương bàn đạp. |
| Trụ thay búa – đe |
Hình chiếc giầy; đế giầy tiếp xúc màng nhĩ ($3,8 \times 2,2$ mm, góc $100 - 120^\circ$, bề mặt nhẵn hoặc đục lỗ $\varnothing 0,5$ mm); chiều dài 2,0 – 3,0 mm; đầu dưới hình ổ cối. |
15 – 18 mg |
Mất xương búa và đe, chỏm bàn đạp còn nguyên. |
| Trụ thay 3 xương |
Hình chiếc đe đóng giầy; mặt trên $3,8 \times 2,2$ mm tiếp xúc màng nhĩ (góc $100 - 120^\circ$); chiều dài 3,5 – 4,5 mm; chân tiếp xúc đế đạp $\varnothing 0,6$ mm. |
15 – 18 mg |
Mất cả búa, đe và gọng bàn đạp; chỉ còn đế đạp di động. |
- Quy trình phẫu thuật thực hiện: Vô cảm bằng mê nội khí quản; phẫu thuật hoàn toàn qua đường nội soi ống tai. Tiến hành làm mới rìa lỗ thủng màng nhĩ; bóc tách mép trước màng nhĩ khỏi khung nhĩ xương để tạo giường ghép; rạch da ống tai hình chữ V hoặc U (từ vị trí 6 giờ và 12 giờ nối nhau ở thành sau hốc mổ cách khung nhĩ 5 – 6 mm); bóc tách vạt da thành sau – màng nhĩ; gỡ xơ dính hòm nhĩ, kiểm tra độ di động của đế đạp; đặt trụ gốm tương ứng; tái tạo màng nhĩ bằng cân cơ/màng sụn/sụn bình tai.
- Tiêu chí đánh giá thính lực: Đo thính lực đơn âm xác định ngưỡng nghe đường khí trung bình (Pure Tone Average: PTA) và khoảng cách khí – xương (ABG) tại 4 tần số chuẩn: 500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz và 4000 Hz.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở giải phẫu định khu tai giữa, cấu trúc mô học màng nhĩ và hệ thống 3 xương con, sinh lý dẫn truyền âm thanh và cơ chế bảo vệ cửa sổ tròn. Tác giả phân tích bệnh căn học của viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma, phân loại chi tiết ba kỹ thuật KCTC (kinh điển, cải biên, tối thiểu) cùng đường mổ và phương pháp chỉnh hình ống tai tương ứng.
Chương này đi sâu vào phân tích các biến đổi giải phẫu bệnh học của hốc mổ KCTC: cơ chế chảy nước tai do thiểu dưỡng vạt da, hốc mổ quá rộng, tường dây VII cao cản trở dẫn lưu, sót thông bào viêm hoặc biểu bì hóa niêm mạc hòm nhĩ. Đồng thời, tác giả tổng kết các kỹ thuật thu hẹp hốc mổ chũm (dùng vạt cân cơ có cuống, vạt Hong Kong, bột xương tự thân) và các phương thức tạo hình tai giữa: tái tạo khoảng trống hòm tai bằng sụn nắp bình tai, các kỹ thuật vá màng nhĩ, phân loại tạo hình xương con (loại 1: thay 1 xương; loại 2: thay 2 xương; loại 3: thay 3 xương), đặc tính của các vật liệu ghép và giải pháp tái thông khí hòm tai (đặt ống thông khí qua màng nhĩ hoặc qua thượng nhĩ).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế can thiệp lâm sàng tự đối chứng trên 42 bệnh nhân tại 3 bệnh viện từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2013. Tác giả cụ thể hóa các tiêu chuẩn lựa chọn (tai khô $\ge$ 6 tháng, ABG $\ge$ 35 – 40 dB) và tiêu chuẩn loại trừ (tai ướt, điếc tiếp nhận, cố định đế đạp, xơ hóa hoàn toàn cửa sổ bầu dục).
Chương này mô tả chi tiết quy trình khám lâm sàng, nội soi hốc mổ, đo thính lực đơn âm (Siemen SD 50), quy cách kỹ thuật của 5 mẫu trụ gốm y sinh học đạt tiêu chuẩn TC 008: 2008/TT và các bước thao tác phẫu thuật nội soi qua ống tai: từ rạch da vạt U/V, bóc tách giải phóng xơ dính, kiểm tra khớp bàn đạp – tiền đình, định vị trụ dẫn gốm sinh học đến kỹ thuật tái tạo màng nhĩ và bảo đảm thông khí hòm nhĩ. Phương pháp kiểm soát sai số và quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học được thiết lập đầy đủ.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu thập từ 42 bệnh nhân nghiên cứu:
- Đặc điểm lâm sàng và hình thái trước mổ: Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới tính, tiền sử phẫu thuật KCTC (nguyên nhân KCTC do cholesteatoma, viêm xương chũm mạn tính thông thường hoặc sau chấn thương). Đánh giá triệu chứng cơ năng (thời gian nghe kém, đặc điểm tiếng ù tai, số bên tai bị tổn thương) và triệu chứng thực thể qua nội soi (tỷ lệ chít hẹp ống tai mềm, hình thái da lót hốc mổ dày/mỏng/bong biểu bì, hình thái tường dây VII cao hay thấp tương ứng từng loại KCTC).
- Tổn thương màng nhĩ và xương con trong mổ: Tỷ lệ màng căng nguyên vẹn, thủng bán phần, thủng toàn phần hoặc mất lớp sợi; tình trạng niêm mạc hòm tai (nhẵn, xơ hóa, vôi hóa, biểu bì hóa); mức độ tổn thương chuỗi xương con: tỷ lệ mất xương đe đơn thuần, mất xương búa – đe, mất toàn bộ 3 xương con, tình trạng cụt cán búa hoặc cụt chỏm xương bàn đạp.
- Kết quả phẫu thuật và phục hồi chức năng nghe:
- Phục hồi giải phẫu: Tỷ lệ liền kín màng nhĩ, tỷ lệ cố định trụ dẫn, độ ổn định của hốc mổ sau 6 tháng và 12 tháng.
- Phục hồi chức năng: Số liệu đo thính lực đơn âm đường khí (PTA) và khoảng cách khí – xương (ABG) trước mổ so sánh với sau mổ 6 tháng và 12 tháng tại các tần số 500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz, 4000 Hz; mức độ thu hẹp ABG ở từng nhóm tạo hình xương con (loại 1, loại 2, loại 3).
- Biến chứng sau mổ: Tỷ lệ rối loạn chức năng vòi nhĩ, trật khớp trụ dẫn do xơ dính co kéo, tỳ đè tường dây VII hoặc không liền màng nhĩ lộ trụ dẫn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Cung cấp bức tranh toàn diện và có hệ thống về các biến đổi giải phẫu bệnh học, hình thái hốc mổ và mức độ tổn thương hệ thống truyền âm trên bệnh nhân sau phẫu thuật KCTC tại Việt Nam.
- Xác lập mối liên quan giữa phương pháp phẫu thuật KCTC ban đầu (kinh điển, cải biên, tối thiểu) với mức độ phá hủy chuỗi xương con, tình trạng niêm mạc hòm nhĩ và độ thông thoáng của tường dây VII.
- Chuẩn hóa phân loại tổn thương tạo hình xương con trên hốc mổ KCTC thành 3 nhóm can thiệp lâm sàng tương ứng với các biến thể giải phẫu thực tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kỹ thuật can thiệp
- Ứng dụng thành công vật liệu gốm y sinh học sản xuất trong nước ($\text{SiO}_2\text{-Al}_2\text{O}_3\text{-B}_2\text{O}_3\text{-CaO-MgO-P}_2\text{O}_5\text{-F}$) với 5 thiết kế trụ dẫn chuyên biệt (trụ thay đe, máng đe cán búa cụt, trụ xẻ rãnh cụt chỏm bàn đạp, trụ thay búa – đe hình chiếc giầy, trụ thay 3 xương hình đe đóng giầy), chứng minh tính dung nạp mô học tốt, không gây phản ứng thải ghép trong môi trường tai giữa.
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi chỉnh hình tai giữa qua đường ống tai: kết hợp bóc tách gỡ xơ dính hòm nhĩ, tạo giường ghép màng nhĩ, đặt trụ gốm sinh học và tái tạo khoang tai giữa, giúp giảm thiểu xâm lấn mô lành so với đường mổ sau tai truyền thống.
- Cải thiện sức nghe rõ rệt cho bệnh nhân sau KCTC: thu hẹp có ý nghĩa thống kê khoảng cách đường khí – đường xương (ABG) và nâng cao ngưỡng nghe đường khí (PTA) sau 6 và 12 tháng theo dõi.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Chỉ định phẫu thuật tạo hình tai giữa – tạo hình xương con bằng trụ gốm sinh học cho các bệnh nhân sau KCTC khi hốc mổ đã đạt tiêu chuẩn khô tai hoàn toàn ít nhất 6 tháng và chức năng vòi nhĩ còn bù trừ.
- Cần khảo sát kỹ lưỡng tình trạng niêm mạc hòm nhĩ và kiểm tra nghiêm ngặt độ di động của đế đạp trước khi đặt trụ dẫn.
- Áp dụng các mẫu trụ gốm tương ứng chính xác với từng dạng khuyết hổng giải phẫu để hạn chế nguy cơ lệch trục hoặc tỳ đè vào đoạn 2 dây thần kinh VII và ụ nhô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Cỡ mẫu nghiên cứu còn giới hạn ở 42 bệnh nhân do tiêu chuẩn tuyển chọn chặt chẽ (đòi hỏi hốc mổ KCTC phải khô hoàn toàn trên 6 tháng và đế đạp còn di động tốt).
- Thời gian theo dõi dừng lại ở mốc 12 tháng; chưa có dữ liệu đánh giá độ bền cơ học và thính lực dài hạn sau 5 – 10 năm của trụ gốm trên nền hốc mổ KCTC có nguy cơ xơ hóa tiến triển.
- Chưa áp dụng đối với các trường hợp tổn thương phức tạp như xơ hóa bít lấp toàn bộ cửa sổ bầu dục hoặc hốc mổ bị biểu bì hóa hoàn toàn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng theo dõi dọc thuần tập bệnh nhân sau phẫu thuật trên 24 tháng đến 5 năm để đánh giá mức độ ổn định thính lực và tỷ lệ tụt/lệch trụ gốm muộn.
- Nghiên cứu phối hợp các kỹ thuật tái thông khí hòm nhĩ và chỉnh hình vòi nhĩ đối với các trường hợp rối loạn chức năng vòi nặng kèm theo.
- Tiếp tục tối ưu hóa vi cấu trúc và độ nhám bề mặt trụ gốm sinh học để tăng cường khả năng gắn kết mô học với mảnh ghép màng nhĩ.
Giá trị tham khảo
Nội dung và số liệu của luận án có giá trị ứng dụng cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng và phẫu thuật viên tai: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi chỉnh hình tai giữa qua đường ống tai; các biến thể kích thước, hình dạng trụ gốm sinh học và kỹ năng xử trí giải phóng xơ dính hòm nhĩ quanh cửa sổ bầu dục và tường dây VII.
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học ngành Tai Mũi Họng: Cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng tự đối chứng, tiêu chuẩn hóa quy trình đánh giá thính lực đơn âm (PTA, ABG) và phân loại hình thái hốc mổ KCTC.
- Các nhà khoa học vật liệu y sinh: Cung cấp dữ liệu lâm sàng thực tế về tính tương hợp mô học, kích thước hình học tối ưu và độ bền của vật liệu gốm Silicat trong môi trường tai giữa người.
Câu hỏi thường gặp
1. Phẫu thuật KCTC thường gây ra những biến đổi hình thái và chức năng chính nào cho tai giữa?
Phẫu thuật KCTC hợp nhất sào bào, thượng nhĩ và hòm nhĩ thành một hốc mổ duy nhất, làm mất thành sau trên ống tai và hạ thấp tường dây VII. Biến đổi chính gồm: hốc mổ có nguy cơ chảy nước do bong biểu bì hoặc sót thông bào; niêm mạc hòm nhĩ bị xơ hóa, vôi hóa hoặc biểu bì hóa; hệ thống màng nhĩ – xương con bị gián đoạn hoặc cố định (thường mất xương đe hoặc mất cả búa và đe), dẫn đến điếc dẫn truyền hoặc điếc hỗn hợp nặng với khoảng ABG $\ge$ 35 – 40 dB.
2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân vào nghiên cứu can thiệp của luận án là gì?
Bệnh nhân đã phẫu thuật KCTC thỏa mãn các tiêu chuẩn: tai khô ổn định ít nhất 6 tháng; điếc dẫn truyền hoặc hỗn hợp có ABG $\ge$ 35 – 40 dB; được phẫu thuật tạo hình tai giữa và tạo hình xương con bằng trụ gốm sinh học; có đầy đủ dữ liệu theo dõi sau mổ tại thời điểm 6 tháng và 12 tháng.
3. Thành phần cấu tạo và các dạng thiết kế của trụ gốm sinh học sử dụng trong luận án gồm những gì?
Trụ gốm do Bộ môn Công nghệ Vật liệu Silicat (Đại học Bách khoa Hà Nội) chế tạo theo tiêu chuẩn TC 008: 2008/TT, thành phần hóa học là $\text{SiO}_2\text{-Al}_2\text{O}_3\text{-B}_2\text{O}_3\text{-CaO-MgO-P}_2\text{O}_5\text{-F}$. Trụ được thiết kế thành 5 dạng: trụ thay xương đe (khớp cán búa và chỏm bàn đạp), trụ máng xương đe (cho cán búa cụt), trụ thay đe xẻ rãnh (cho chỏm bàn đạp cụt), trụ thay búa – đe hình chiếc giầy, và trụ thay 3 xương hình chiếc đe đóng giầy.
4. Quy trình phẫu thuật can thiệp được tác giả thực hiện qua đường mổ nào?
Toàn bộ 42 bệnh nhân được phẫu thuật dưới gây mê nội khí quản bằng phương pháp mổ nội soi qua đường ống tai. Phẫu thuật viên làm mới rìa lỗ thủng màng nhĩ, rạch da ống tai hình chữ V hoặc U ở thành sau hốc mổ, bóc tách vạt da thành sau – màng nhĩ, giải phóng xơ dính hòm nhĩ, kiểm tra độ di động của đế đạp, đặt trụ gốm và tái tạo màng nhĩ.
5. Những nguyên nhân nào dẫn đến thất bại hoặc biến chứng sau phẫu thuật tạo hình xương con trên hốc mổ KCTC?
Các nguyên nhân chính được ghi nhận gồm: rối loạn chức năng vòi nhĩ gây xẹp hòm tai co kéo màng nhĩ; xơ dính tái phát làm trật khớp trụ dẫn; trụ dẫn bị tỳ đè vào thành trong ngang tầm đoạn 2 dây thần kinh VII hoặc ụ nhô làm mất khả năng dẫn truyền; màng nhĩ không liền dẫn đến lộ trụ dẫn gốm ra ngoài.
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Thanh Thế đã phân tích có hệ thống các biến đổi giải phẫu, hình thái và suy giảm chức năng thính giác trên 42 bệnh nhân có hốc mổ khoét chũm tiệt căn. Nghiên cứu khẳng định tính khả thi và hiệu quả của kỹ thuật phẫu thuật nội soi chỉnh hình tai giữa kết hợp tạo hình chuỗi xương con bằng hệ thống trụ gốm y sinh học sản xuất trong nước theo tiêu chuẩn TC 008: 2008/TT. Kết quả theo dõi 6 và 12 tháng cho thấy phương pháp giúp phục hồi tốt cấu trúc giải phẫu màng nhĩ, cải thiện rõ rệt các chỉ số thính lực (PTA, ABG) và có tỷ lệ dung nạp mô học cao. Công trình cung cấp giải pháp can thiệp phục hồi chức năng thính giác thực tế cho các bệnh nhân sau phẫu thuật tiệt căn viêm tai giữa mạn tính.