ĐẶT VẤN ĐỀ Tình trạng dinh dưỡng trong những năm đầu đời ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần vận động của trẻ. Nhiều nghiên cứu đã xác định rõ mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng khi còn nhỏ đến sự phát triển tầm vóc, nhận thức và nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm sau này. Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein - năng lượng và các vi chất dinh dưỡng, bệnh hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau [3]. Trong những năm gần đây chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SDD trẻ em đã được triển khai rộng khắp và mang lại những thành quả nhất định [5].
Tuy nhiên, SDD ở trẻ em đang là vấn đề sức khỏe ở nước nghèo và các nước đang phát triển, tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng ở trẻ em trên thế giới hiện còn 20 nước có tỷ lệ trẻ bị SDD cao nhất, trong đó có nước ta [68]. Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) hàng năm trên thế giới có khoảng 6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong ở các nước đang phát triển và một cách trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến vấn đề dinh dưỡng, tỷ lệ SDD ở trẻ em trên thế giới dao động từ 20-50% tùy theo các nước [61],[71]. SDD không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần, trí tuệ của trẻ và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội [56],[60]. Tại Việt Nam còi cọc hoặc SDD mạn tính vẫn là một lo ngại chính, vì Việt Nam là một trong số 34 quốc gia trên toàn cầu phải đối mặt với gánh nặng SDD cao nhất [68].
Việt Nam là nơi có 1,8 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc đến hết năm 2020 là 11,6%; tỷ lệ thấp còi 19,5%. Tỷ lệ trẻ SDD thấp còi ở khu vực thành thị là 12,4%, nông thôn là 14,9%, miền núi là 38%, thuộc mức rất cao nhất hoặc ở Đăk Nông theo số liệu điều tra năm 2020 tỷ lệ SDD trẻ em thể nhẹ cân là 18,3% và tỷ lệ thấp còi là 27,6%. Trẻ em thuộc các hộ gia đình 2 nghèo nhất có nguy cơ bị còi cọc cao gấp 3 lần so trẻ em từ các hộ gia đình khá giả hơn, vùng Tây Nguyên, Trung Du và miền núi phía Bắc nơi có nhiều người dân tộc thiểu số là khu vực có tỉ lệ cao nhất. Trong số các nhóm dân tộc thiểu số này, người Mông có tỷ lệ cao nhất (65%) [4].
Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tầm vóc khi trưởng thành có liên quan chặt chẽ đến chiều cao khi còn nhỏ, do đó dinh dưỡng hợp lý trong những năm đầu sau khi sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng [18]. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và các nghiên cứu này ý nghĩa cho các nhà lập kế hoạch y tế công cộng và các nhà quản lý địa phương…[1],[27],[41] Tuy nhiên các nghiên cứu tập trung nhiều ở vùng thành thị và đồng bằng mà ít được triển khai ở vùng núi, vùng dân tộc ít người là nơi mà tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao hơn so với các vùng khác. Xã Tả Phời và Hợp Thành là 2 xã vùng cao đặc biệt khó khăn của thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, gần như 100% người dân ở đây chỉ làm nông nghiệp và chăn nuôi, chủ yếu là người dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, vậy tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em khu vực này ra sao? những yếu tố liên quan nào tác động đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khu vực này. Do vậy, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi tại 2 xã Tả Phời và Hợp Thành thuộc thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai năm 2022” để từ đó có biện pháp can thiệp hợp lý nhằm giảm tỷ lệ thiếu hụt dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi ở địa phương, với hai mục tiêu: 1.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại 2 xã Tả Phời và Hợp Thành của thành phố Lào cai, tỉnh Lào Cai năm 2022. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của nhóm trẻ nêu trên. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và phương pháp đánh giá trình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi 1.
Một số khái niệm trong nghiên cứu - Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [42]. - Theo tài liệu của Bộ Y tế hướng dẫn chẩn đoán và điều trị SDD ở trẻ em đưa ra khái niệm: SDD là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ [5]. - Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) định nghĩa: Suy dinh dưỡng là hậu quả để lại do thiếu hụt lượng dinh dưỡng cần được cung cấp vào hoặc do yếu tố bệnh tật tác động đến quá trình tiêu hóa của cơ thể [56].
Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Hiện nay có nhiều phương pháp chính được dùng để đánh giá TTDD của trẻ em như [3],[40]: - Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống; - Các chỉ tiêu nhân trắc; - Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật có liên quan đến dinh dưỡng; - Các xét nghiệm máu và cận lâm sàng khác: + Xét nghiệm thường quy: Công thức máu, đường huyết, phết máu, tổng phân tích nước tiểu, soi phân, Xquang phổi; 4 + Theo dấu hiệu lâm sàng khi cần; Cấy máu khi hạ thân nhiệt, hạ đường huyết, nghi ngờ nhiễm trùng huyết; Đạm máu khi có phù. - Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng. - Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến TTDD và sức khoẻ. Phương pháp nhân trắc học Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo thay đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và TTDD.
Thu thập các chỉ số về nhân trắc là bộ phận quan trọng trong cuộc điều tra dinh dưỡng và là chỉ tiêu trực tiếp đánh giá TTDD của trẻ em [40]. Theo khuyến cáo của WHO ba chỉ tiêu nhân trắc là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao [56]. Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng. Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn.
Trang thiết bị không đắt tiền, dễ vận chuyển. Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng [40], [56]. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố dinh dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính trong sự phát triển của trẻ dưới 5 tuổi. Vì vậy, thu thập đặc điểm nhân trắc là bộ phận quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng.
Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây: - Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng. - Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao. - Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ. Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài này chỉ trình bày một số kích thước sau đây thường được dùng trong các điều tra dinh dưỡng tại cộng đồng: a).
Cân nặng 5 Là số đo thường dùng nhất, cân nặng của một người trong ngày buổi sáng nhẹ hơn buổi chiều. Sau một buổi hoạt động nặng nhọc, cân nặng giảm đi rõ rệt do mất mồ hôi. Vì thế nên cân vào buổi sáng khi ngủ dậy, sau khi đã đi đại biểu tiện và chưa ăn uống gì. Nếu không, cân vào những giờ thống nhất trong điều kiện tương tự (trước bữa ăn, trước giờ lao động).
Cân trẻ em: Nên cởi hết quần áo, trường hợp trẻ quấy khóc, không dỗ được, có thể cân mẹ cháu rồi cân mẹ bế trẻ. Cần chú ý trừ ngay để lấy số cân nặng thực tế của trẻ. Chiều cao * Đo chiều cao đứng: - Bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo. Lưu ý để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang.
- Gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng ra phía trước theo đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình. - Dùng thước vuông hoặc gỗ áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo. - Đọc kết quả và ghi số cm với 1 số lẻ. * Đo chiều dài nằm: - Để thước trên mặt phẳng nằm ngang - Đặt cháu nằm ngửa, một người giữ đầu để mắt nhìn thẳng lên trần nhà, mảnh gỗ chỉ số 0 của thước áp sát đỉnh đầu.
Một người ấn thẳng đầu gối và đưa mảnh gỗ ngang thứ hai áp sát gót bàn chân, lưu ý để gót chân sát mặt phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng. - Đọc kết quả và ghi số cm với 1 số lẻ. Đọc kết quả Hiện nay, người ta nhận định TTDD ở trẻ em dựa vào 3 chỉ tiêu sau: - Cân nặng theo tuổi (CN/T): Chỉ số này thường được dùng để đánh giá tình trạng SDD chung nhưng không cho biết cụ thể đó là loại SDD vừa mới xảy ra hay đã tích lũy từ lâu [18]. Thiếu cân được định nghĩa cân nặng theo tuổi dưới 6 -2 độ lệch chuẩn so với quần thể tham khảo.
Chỉ số này cho biết tình trạng thiếu hụt năng lượng khẩu phần một cách tương đối hay tuyệt đối. - Chiều cao theo tuổi (CC/T): Chỉ số này đã được WHO khuyến cáo sử dụng của để phát hiện trẻ thấp còi kết hợp với chỉ số cân nặng theo chiều cao. Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình trạng SDD kéo dài hoặc trong quá khứ làm cho đứa trẻ bị thấp còi và làm gia tăng khả năng mắc bệnh. Tỷ lệ thấp còi cao nhất là từ 12 đến 24 tháng tuổi [68].