ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dƣỡng (SDD) trẻ em là tình trạng cơ thể thiếu protein- năng lƣợng và kèm theo thiếu hụt vi chất dinh dƣỡng trạng. Biểu hiện của SDD ở trẻ là thiếu cân nặng hoặc chiều cao thấp hơn so với trẻ cùng tuổi, cùng giới (chuẩn tăng trƣởng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2006 với trẻ dƣới 5 tuổi). Theo số liệu của WHO, trên toàn cầu vào năm 2020 ƣớc tính có 149 triệu trẻ em dƣới 5 tuổi bị thấp còi và gần 50 triệu trẻ em bị gầy còm, khoảng 45% trẻ em dƣới 5 tuổi tử vong có liên quan đến SDD (1). Theo Báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2019, cứ 3 trẻ từ 6 tháng đến 24 tháng tuổi thì có 2 trẻ không đƣợc cho ăn những thực phẩm giúp trẻ phát triển tốt thể chất và trí não, khiến trẻ có nguy cơ chậm phát triển nhận thức, khả năng học tập kém, miễn dịch thấp, dễ nhiễm bệnh, thậm chí trong nhiều trƣờng hợp, có thể dẫn đến tử vong (2).
Suy dinh dƣỡng ở trẻ em từ 6 - 24 tháng tuổi ở Việt Nam vẫn đƣợc xác định là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng. SDD làm ảnh hƣởng đến tầm vóc, là nguyên nhân trực tiếp làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát triển, bao gồm của cả hệ cơ xƣơng, nhất là khi tình trạng thiếu dinh dƣỡng diễn ra sớm nhƣ SDD trong giai đoạn bào thai và giai đoạn sớm trƣớc khi trẻ đƣợc 2 tuổi. SDD trẻ em làm ảnh hƣởng lâu dài và nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế - xã hội, làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em gấp 2,5 - 2,8 lần so với trẻ bình thƣờng (3). Theo số liệu Tổng điều tra Dinh dƣỡng 2019-2020, tỷ lệ SDD ở trẻ em dƣới 5 tuổi trên toàn quốc: 19,6% thể thấp còi đƣợc xếp vào mức trung bình theo phân loại của WHO, 11,5% thể nhẹ cân; tuy nhiên, tỷ lệ SDD thấp còi vẫn còn sự chênh lệch giữa các vùng miền, tỷ lệ này còn ở mức cao ở các vùng nông thôn và miền núi; cụ thể, tỷ lệ SDD khu vực Tây Nguyên còn cao so với toàn quốc: 28,8% thể thấp còi (cao hơn 9,2%) (2).
Một số yếu tố nguy cơ của SDD có thể do đời sống ngƣời dân còn khó khăn, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí còn hạn chế, thực hành chăm sóc dinh dƣỡng cho trẻ của bà mẹ, vệ sinh môi trƣờng, tiếp cận dịch vụ y tế, ảnh hƣởng bởi phong tục, tập quán, sự quan tâm và đầu tƣ của các cấp chính quyền địa phƣơng. 2 Đặc biệt trẻ em có nguy cơ cao SDD từ 6 -24 tháng tuổi, khi chỉ dùng sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dƣỡng cho trẻ, trong thời kỳ này nếu các bà mẹ không bổ sung thức ăn cho trẻ cũng nhƣ bổ sung thức ăn không phù hợp thì tăng trƣởng của trẻ có thể kém phát triển (4). Tại tỉnh Kon Tum trong năm 2019, tỷ lệ SDD trẻ dƣới 5 tuổi cao hơn so với toàn quốc: 20,9% thể nhẹ cân (cao hơn 8,1%), 33,4% thể thấp còi (cao hơn 10,2%) và 5,1% thể gầy còm (thấp hơn 0,3%) (5). Huyện Tu Mơ Rông là một huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo cao 23,77% và hộ cận nghèo 5,27% (6) và hầu hết đồng bào dân tộc Xơ đăng sinh sống, chiếm khoảng 95% do đó các hoạt động dinh dƣỡng cũng đƣợc triển khai ƣu tiên hơn, có sự hỗ trợ sản phẩm dinh dƣỡng của Viện Dinh dƣỡng nhƣ viên đa vi chất cho phụ nữ mang thai, sản phẩm HEBI (sản phẩm ăn liền cao năng lƣợng) cho trẻ SDD, triển khai hoạt động bổ sung vitamin A kết hợp với tẩy giun cho trẻ 2 đợt/năm,.
Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em SDD tại các xã thuộc huyện Tu Mơ Rông còn cao, không đồng đều nhau, trong đó 3 xã có tỷ lệ SDD trẻ em dƣới 5 tuổi cao nhất là xã Đăk Na, Đăk Hà, Măng Ri. Vậy tại sao tỷ lệ SDD cao tại huyện Tu Mơ Rông nói chung và 3 xã Đăk Na, Đăk Hà, Măng Ri nói riêng? Câu hỏi này cần đặt ra cho nhà quản lý ngành Y tế, địa phƣơng cần làm rõ. Chính vì thế, việc đánh giá TTDD của trẻ em từ 6 - 24 tháng tuổi và phân tích một số yếu tố liên quan đến TTSDD của trẻ em ở đây là một nhu cầu thực tế để có cơ sở đề xuất can thiệp phù hợp nhằm góp phần giảm tỷ lệ SDD của huyện Tu Mơ Rông cũng nhƣ của tỉnh Kon Tum theo Chiến lƣợc quốc gia về dinh dƣỡng giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến 2045 (8). Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ từ 6 - 24 tháng tuổi tại 3 xã, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum năm 2022”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả tình trạng suy dinh dƣỡng trẻ em từ 6 - 24 tháng tuổi tại xã Đăk Na, Đăk Hà, Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum năm 2022. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến suy dinh dƣỡng trẻ em từ 6 - 24 tháng tuổi tại xã Đăk Na, Đăk Hà, Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum năm 2022. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm và nội dung liên quan đến suy dinh dƣỡng 1. Một số khái niệm Dinh dƣỡng là tình trạng cơ thể đƣợc cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần các chất dinh dƣỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trƣởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. Tình trạng dinh dƣỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của cơ thể (9). Tình trạng dinh dƣỡng là kết quả của tác động của một hay nhiều yếu tố nhƣ tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, điều kiện vệ sinh môi trƣờng, thu nhập, hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ em, gánh nặng công việc lao động của ngƣời mẹ…TTDD của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi thƣờng đƣợc coi là đại diện cho tình hình dinh dƣỡng và thực phẩm của toàn cộng đồng (10, 11).
Suy dinh dƣỡng (SDD) là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng thiếu hụt các chất dinh dƣỡng cần thiết nhƣ protein, khoáng chất, chất béo, vitamin,. gây ảnh hƣởng đến quá trình phát triển của cơ thể, tác động tiêu cực đến sự tăng trƣởng về nhiều mặt trong tƣơng lai, đặc biệt cần lƣu ý với đối tƣợng trẻ em trong giai đoạn từ 6 - 24 tháng tuổi. Trẻ bị SDD có biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhƣng thƣờng chậm phát triển, hạn chế khả năng hoạt động thể lực (11). Các chỉ số nuôi dưỡng trẻ - Nuôi con bằng sữa mẹ là một phƣơng pháp quan trọng trong quá trình nuôi dƣỡng trẻ nhỏ tối thiểu trong 12 tháng đầu đời, bởi sữa mẹ không chỉ là nguồn dinh dƣỡng chính của trẻ mà còn là nguồn cung cấp kháng thể chính cho trẻ (12).
- Bú sớm sau sinh: Cho con BSM càng sớm càng tốt ngay trong nửa giờ đầu sau khi sinh. - Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: Là việc cho bé BMHT bằng sữa đƣợc tiết ra từ vú mẹ trong suốt 6 tháng đầu đời, mẹ không cần bổ sung thêm cho trẻ bất kỳ loại thực phẩm nào khác, kể cả việc uống nƣớc. - Cho con bú đến 18 - 24 tháng, ít nhất đến 12 tháng. 5 - Ăn bổ sung: Là cho ăn thêm các thức ăn, chất lỏng khác ngoài sữa mẹ.
Các thức ăn và chất lỏng thêm này đƣợc gọi là thức ăn bổ sung vì những loại thức ăn này bổ sung thêm cho sữa mẹ, chứ không thể hoàn toàn thay thế sữa mẹ để cung cấp đầy đủ các chất dinh dƣỡng. Thức ăn bổ sung phải là các loại thực phẩm giàu dinh dƣỡng và đủ về mặt số lƣợng để trẻ có thể tiếp tục lớn lên và phát triển khỏe mạnh (13). - Thời điểm bắt đầu cho ABS: Từ 6 tháng tuổi trở đi có sự thiếu hụt giữa mức tổng năng lƣợng cần cho trẻ và mức năng lƣợng do sữa mẹ cung cấp. Trẻ càng lớn thì sự thiếu hụt này càng tăng.
Vì vậy đối với đa số trẻ, sau 6 tháng tuổi là thời gian tốt cho bắt đầu ABS. Việc cho ABS sau 6 tháng tuổi giúp trẻ phát triển, hoạt động tốt và khỏe mạnh. - Số lƣợng bữa ăn tối thiểu: Trẻ đƣợc BSM và không BSM từ 6 tháng tuổi trở lên đƣợc cho ăn thêm các thức ăn bổ sung ở các dạng lỏng, đặc và thức ăn mềm (bao gồm cả cho trẻ uống thêm sữa ngoài trong trƣờng hợp trẻ không đƣợc BSM) nhiều hơn hoặc bằng số lƣợng bữa ăn tối thiểu. Số lƣợng bữa ăn tối thiểu là 2 lần với trẻ từ 6 đến 8 tháng tuổi đƣợc BSM, 3 lần đối với trẻ từ 9 đến 23 tháng tuổi đƣợc BSM; 4 lần đối với trẻ từ 6 đến 23 tháng tuổi đối với trẻ không đƣợc BSM.
- Ăn đa dạng thực phẩm: Là sự phối kết hợp nhiều loại thực phẩm khác nhau làm cho bữa ăn có nhiều giá trị dinh dƣỡng, đồng thời làm tăng sự chuyển hóa, hấp thu các chất dinh dƣỡng. Cần đảm bảo đƣợc ăn đủ 4 hoặc nhiều hơn 4 nhóm thực phẩm: Nhóm chất bột (glucid), nhóm chất đạm (protein), nhóm chất béo (lipid), nhóm vitamin và chất khoáng, chất xơ. Hậu quả của suy dinh dưỡng Giả thuyết “Nguồn gốc bào thai bệnh ngƣời lớn” đƣợc chấp nhận rộng rãi. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc giảm cân nặng, kích thƣớc nhỏ khi sinh, dinh dƣỡng thiếu cũng nhƣ những tác động bất lợi ở thời kỳ thai có liên quan với nhiều bệnh mạn tính phát sinh ở ngƣời lớn.
Chính vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dƣỡng theo chu kỳ vòng đời (14). 6 Suy dinh dƣỡng ảnh hƣởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi và khả năng học hành của trẻ bị giảm sút, học không tập trung, khi đến tuổi trƣởng thành thì khả năng lao động sẽ bị giảm do sức lực bị ảnh hƣởng (15). SDD làm trẻ em kém phát triển về thể chất, mà cụ thể là cân nặng và chiều cao. Mức độ chậm phát triển tăng song song với thời gian kéo dài của bệnh và nhóm tuổi của trẻ.