ĐẶT VẤN ĐỀ Báo cáo UNICEF năm 2009 cho biết, hiện nay suy dinh dưỡng (SDD) đóng vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp với 40- 50 của 10,9 triệu tử vong trẻ dưới năm tuổi trên toàn thế giới[42]. SDD không những ảnh hưởng trước mắt, trực tiếp đến phát triển của trẻ mà còn dẫn đến những hậu quả không thể sửa chữa được như tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết quả học tập kém, giảm khả năng lao động của người lớn và ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân[9]. Suy dinh dưỡng thấp còi (SDDTC) định nghĩa là chiều dài/chiều cao theo tuổi dưới hai độ lệch chuẩn một tham chiếu quốc tế trung bình, bắt đầu từ lúc sinh. Tuy nhiên, nó có thể xảy ra sớm nhất vào quý hai của thai kỳ, và tiếp tục qua năm thứ hai hoặc thứ ba của cuộc sống[4].
Chiều dài thấp so với tuổi là một dấu hiệu của chế độ ăn uống vào không đủ và nhiễm trùng thường xuyên trong một thời gian dài. Đến nay, cơ chế bệnh sinh của SDDTC chưa được sáng tỏ nhưng người ta đã thống nhất các yếu tố di truyền và các yếu tố ngoại cảnh như sự chăm sóc, môi trường sống xung quanh trẻ đều có vai trò trong sự phát triển chiều cao. Yếu tố di truyền qui định tiềm năng cho sự phát triển, bên cạnh đó còn các yếu tố ngoại cảnh quan trọng là dinh dưỡng và tâm lý. Có ba giai đoạn quan trọng để phát triển chiều cao trong đó có giai đoạn trẻ dưới hai tuổi, vì chiều cao lúc hai tuổi bằng 1/2 chiều cao lúc trẻ trưởng thành, vậy nuôi trẻ dưới hai tuổi là vô cùng quan trọng[2].
Báo cáo của Viện dinh dưỡng (VDD) Việt Nam, bên cạnh tỷ lệ SDD nhẹ cân và còm còi đã giảm đáng kể thì tỷ lệ thấp còi vẫn còn cao (24,9 năm 2014)[24] song song đó là tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì (TCBP), năm 2014 là 4,8%. Hải Dương tỷ lệ thấp còi trẻ dưới năm tuổi thường cao hơn trung bình của khu vực đồng bằng sông Hồng (20,3%)- vùng có tỷ lệ thấp còi thấp hơn trung bình cả nước. Năm 2010, tỷ lệ này tại Hải Dương là 26,6%, năm 2012 là 23,4%, năm 2014 2 là 20,9% cao hơn tỷ lệ trung bình của khu vực đồng bằng sông Hồng tương ứng là 25,5%, 21,9%, 20,3%[24]. Huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương - một vùng nông thôn với kinh tế thuần nông, chuyển dịch theo hướng từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp còn chậm.
Tại huyện cũng triển khai nhiều hoạt động nhằm giảm tỷ lệ SDD nói chung, nhưng chưa có nghiên cứu cũng như hoạt động dành riêng nhằm giảm tỷ lệ trẻ thấp còi. Với mục đích đó, mong muốn tìm hiểu thực trạng trẻ thấp còi và xét những yếu tố liên quan đến SDDTC của trẻ như chăm sóc trẻ, điều kiện môi trường đến trẻ thấp còi của huyện để TTYT đưa ra hoạt động lâu dài dựa trên cơ sở thông tin đầy đủ thực tiễn, hướng đến giảm tỷ lệ SDDTC theo mục tiêu chiến lược quốc gia về dinh dưỡng, nghiên cứu cắt ngang “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dƣỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện, Hải Dƣơng năm 2015” được tiến hành. Xác định thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6- 24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tình trạng dinh dƣỡng trẻ em dƣới năm tuổi 1.Suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi 1.Khái niệm suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em dưới năm tuổi Điểm ngưỡng Z-score dưới trừ 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 là suy dinh dưỡng. Nếu chiều cao/chiều dài nằm theo tuổi <-2SD là suy dinh dưỡng thấp còi (stunting).Cách đánh giá suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng SDDTE như chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là các chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ. Theo đó, tình trạng SDDTE được đánh giá chủ yếu dựa vào ba chỉ tiêu: cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) so với đơn vị độ lệch chuẩn (Z-score) theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006[19].
Tại Việt Nam, Viện Dinh Dưỡng sử dụng quần thể chuẩn này từ năm 2006. Zscore được tính bằng công thức: 1.Phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi Dựa vào ba chỉ tiêu trên ta đánh giá TTDD cá nhân và quần thể Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cá nhân SDD thể nhẹ cân không phân biệt được SDD mới xảy ra hay kéo dài đã lâu. SDDTC (còi cọc) phản ánh SDD trường diễn. SDD thể gầy còm phản ánh SDD thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm trẻ ngừng tăng cân hay tụt cân.
Khi cả hai chỉ tiêu 5 CC/T và CN/CC đều thấp hơn ngưỡng đề nghị thì trẻ bị SDD thể phối hợp (mãn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa còi cọc[19].1: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng cá nhân của trẻ dưới năm tuổi Z-score CN/T CC/T CN/CC Trên -2 Thừa cân, béo phì Từ -2 đến +2 Không SDD Không SDD Không SDD Dưới -2 Nhẹ cân Thấp còi Gày còm Dưới -3 Nhẹ cân nặng Thấp còi nặng Gày còm nặng Số liệu dùng để phân tích TTDD trẻ em dưới 24 tháng tuổi trong phần này được lấy từ kết quả chiều dài nằm và cân nặng nói trên. Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Bảng 1.2: Mức phân loại SDD trên quần thể trẻ dưới năm tuổi Mức độ SDD của cộng đồng theo tỷ lệ phần trăm ( ) Tiêu chí Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi <20 20-29 30-39 ≥40 Nhẹ cân <10 10-19 20-29 ≥30 Gầy còm <5 5-9 10-14 ≥15 1.Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi Hậu quả của SDDTC thường ảnh hưởng đến phát triển thể lực, trí lực, sức khỏe và bệnh tật trước mắt và lâu dài. Trẻ thấp còi sẽ có chiều cao thấp ở tuổi trưởng thành ảnh hưởng đến tầm vóc nòi giống dân tộc. Sự thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài làm giảm khả năng nhận thức, trí thông minh, kết quả học tập, năng suất lao động và thu nhập quốc dân.
Trẻ bị thấp còi thường hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn do suy giảm hệ miễn dịch và sau này cũng dễ có nguy cơ thừa cân, béo phì, đái tháo đường, tim mạch, 6 tăng huyết áp…Ở bé gái khi lớn lên nếu chiều cao thấp dễ gây đẻ khó, nguy cơ đẻ trẻ nhẹ cân (dưới 2.500g), chiều dài thấp và vòng đời SDD thấp còi lại tái diễn[3]. SDDTC là một chỉ số có giá trị nhất phản ánh tiềm năng lớn lên và phát triển của một đứa trẻ trong tương lai, cũng như phản ánh tiềm năng phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia[9]. Vì vậy, Chiến lược Dinh dưỡng Quốc gia 2011-2020 dành rất nhiều quan tâm và đầu tư cho giảm SDDTC, với mục tiêu giảm thấp còi cho trẻ dưới ba tuổi còn 26 vào năm 2015 và 23 vào năm 2020[15].Tình hình trẻ dưới năm tuổi thấp còi trên thế giới, Việt Nam 1. Tình hình trẻ dưới năm tuổi suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới Theo báo cáo của UNICEF tháng 7/2013, toàn cầu hơn ¼ (26 )- khoảng 165 triệu trẻ dưới năm tuổi bị thấp còi.
Nhưng tỷ lệ không phân bố đều giữa các châu lục và quốc gia: châu Phi cận Sahara (40%) và Châu Á (39%) là nơi tập trung ¾ tổng số trẻ thấp còi; giữa thành thị nông thôn: hơn 1/3 số trẻ ở vùng nông thôn bị thấp còi so với ¼ số trẻ sống ở thành thị. Tỷ lệ SDDTC trẻ em dưới năm tuổi đã giảm 36 trong hai thập kỷ qua[43]. Tỷ lệ giảm trung bình là 2,1 /năm[43]. Một số khu vực đã đạt được tiến bộ đáng kể, mức giảm thấp còi lớn nhất ở Đông Á và Thái Bình Dương - chiếm 70 trong giảm tỉ lệ SDD chung toàn thế giới, từ 42 (1990) xuống 12 (2011).
Tỷ lệ giảm này phần lớn do những cải tiến ở Trung Quốc- hơn 30 (1990) xuống 10 (2010). Trong thời gian này, Mỹ La- tinh và Caribe cũng giảm gần một nửa, và khu vực phía Nam Châu Á, Trung Đông; khu vực bắc Châu Phi giảm hơn 1/3. Nhưng, hơn 1/3 các nước tiểu vùng Sahara còn tỷ lệ thấp còi rất cao[43]. Tình hình trẻ dưới năm tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại Việt Nam Trong thập kỷ qua Việt Nam đã thành công trong cải thiện tình trạng SDDTE dưới năm tuổi.
Tháng 1/2015, VDD công bố tỷ lệ SDDTE < 5 tuổi toàn quốc: Từ 7 năm 2013 đến 2014, SDD thể nhẹ cân giảm từ 15,3 xuống 14,5 , thể thấp còi giảm từ 25,9 xuống 24,9 (năm 2014)[24]. Tốc độ giảm thấp còi vẫn còn chậm, không tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế (Biểu đồ 1.1: Số liệu thống kê về TTDD trẻ em dưới năm tuổi ở Việt Nam qua các năm (2007-2014) [24] Tỷ lệ SDDTE có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái, SDDTC cao nhất là khu vực Tây Nguyên 34,9%, Trung du và miền núi phía Bắc 30,7%. Không chỉ vậy, tỷ lệ thấp còi còn không đồng đều ngay tại một khu vực; tập trung ở nơi kinh tế khó khăn, miền núi, vùng sâu xa như Tây Nguyên: Kon Tum 39,7% và Gia Lai 35,4%; miền núi phía Bắc: Lai châu 36,9% và Hà Giang 35,2%[24]. Tỷ lệ thấp còi cũng có sự khác biệt khá lớn giữa thành thị và nông thôn Tại thành thị, nghiên cứu của Hoàng Đức Hạnh tại Hà Nội năm 2011 được tỷ lệ trẻ thấp còi (17,8%) cao nhất trong ba thể SDD[7].
Kết quả của Vũ Quỳnh Hoa năm 2010 tại thành phố Hồ Chí Minh cũng tương tự[8]. Các nghiên cứu ở những vùng nông thôn khác nhau trên toàn quốc đều cho thấy tỷ lệ SDDTC chiếm khoảng 1/3 số trẻ dưới năm tuổi[10], [17]. 8 Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi thấp còi khác nhau theo nhóm tuổi Một cuộc điều tra của 54 quốc gia thuộc các nước đang phát triển thấy giá trị trung bình Zscores chiều cao theo tuổi ở trẻ sơ sinh rất giống nhau và Zcore trung bình giảm rõ rệt từ sơ sinh đến 24 tháng (Biểu đồ 1.2); Việt Nam cũng thấy tỷ lệ SDD chung ở trẻ tăng nhanh thời kỳ 6-24 tháng tuổi. thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ 6-23 tháng và gần như đi ngang, thậm chí giảm vào 54- 59 tháng tuổi[1], [4], [16].2: Thời điểm chậm phát Biểu đồ 1.