Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chung về suy dinh dưỡng 1. Dinh dưỡng Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể dé dam bao chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội (1l). Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức năng, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của việc ăn uống, sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn trẻ ăn vào và tình trạng sức khỏe. Khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về đỉnh dưỡng (6, 12). Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng Protein - năng lượng là loại thiếu dinh đưỡng quan trọng, khó có bệnh nào có thể so sánh được về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng.
Suy dinh dưỡng Protein - năng lượng không chỉ có liên quan tới khâu phần ăn thiếu Protein và thiếu năng lượng ở các mức độ khác nhau, mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác nhau nhất là các vi chất dinh dưỡng. Bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ song đôi khi cũng gặp ở trẻ lớn hơn như tuổi vị thành niên, phụ nữ độ tuổi sinh đẻ (6, 12). Phương pháp đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em Đánh giá TIDD là một nội dung kỹ thuật quan trọng hàng đầu của dinh dưỡng học. Tình trạng dinh dưỡng người có thể được đánh giá thông qua các biểu hiện lâm sàng đặc hiệu, các chỉ số sinh hóa và các số đo nhân trắc đỉnh dưỡng.
Cho đến nay số đo nhân trắc dinh dưỡng được xem là nhạy, khách quan và có ý nghĩa ứng dụng rộng rãi trong việc theo dõi liên tục diễn biến, đánh giá TIDD của một cá thể hay của cộng đồng, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn. Hơn thế nữa, phép đo nhân trắc dinh dưỡng không đòi hỏi phương tiện dụng cụ quá đắt tiền và có thé thực hiện dễ dàng (35). Để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng (TTSDD) thường dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc như: Cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC), đo chu vi vòng cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu.Hầu hết hay sử dụng chỉ số cân nặng, chiều cao để từ đó tính toán Z.— Score của các chỉ số CN/T, CC/T, CN/CC (35). Phần mềm WHOAnthro: Các chỉ số nhân trắc, ngày tháng năm sinh, giới tính và ngày đo được nhập vào phần mềm WHO Anthro.
Phần mềm được sử dụng trong việc đánh giá TTDD của trẻ bằng phương pháp nhân trắc học để theo dõi, quản lý và phân loại TIDD của trẻ (39). Năm 2006 theo Chuẩn tham khảo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2006), đây là thang phân loại được chấp nhận rộng rãi trên thế giới được khuyến cáo sử dụng cho tới nay. Dựa trên cân nặng, chiều cao của trẻ và so sánh với quan thé chuẩn của WHO 2006, SDD được chia làm 3 thể: 1. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân: Cân nặng thấp hơn so với mức tiêu chuẩn của trẻ cùng tuổi và giới (ngưỡng cân nặng theo tuôi dưới -2 SD) Mức độ Ngưõng phân loại SDD thê nhẹ cân rât nặng Dưới - 4 SD SDD thê nhẹ cân nặng Dưới - 3 SD đên> - 4 SD SDD thê nhẹ cân vừa Dưới - 2 SD đên> - 3 SD Bình thường Từ - 2 SD đên + 2 SD Thừa cân Trên + 2 SD Chỉ tiêu CN/T được sử dụng đê đánh giá TTSDD chung phô biên nhat.
Chi cho biết TTSDD nhưng không phân biệt được SDD mới xảy ra hay mạn tính. Suy dinh dưỡng thể thấp còi: Là giảm mức độ tăng trưởng của cơ thể, biểu hiện của SDD mạn tính, có thể bắt đầu sớm từ SDD bào thai do mẹ bị thiếu dinh dưỡng. Xác định khi chiều cao thấp hơn với mức tiêu chuẩn của trẻ cùng tuôi và giới (dưới - 2 SD). Mức độ Ngưỡng phân loại SDD thê thâp còi nặng Dưới - 3 SD SDD thê thâp còi vừa Dưới - 2 SD đên> - 3 SD Bình thường Từ - 2 SD trở lên Chỉ tiêu CC/T thâp ( dưới — 2SD) phản ánh tình trạng thiêu dinh dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ.
Suy dinh dưỡng thể gẩy còm: Là hiện tượng cơ và mỡ của cơ thể bị teo đi, được coi là SDD cấp tính vì thường biểu hiện thời gian ngắn. Cân nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng chiều cao, cùng giới theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006. Mức độ Ngưỡng phân loại SDD thê gày còm nặng Dưới - 3 SD SDD thê gày còm vừa Dưới - 2 SD đên> - 3 SD Bình thường Từ - 2 SD đên + 2 SD Thừa cân Trên + 2 SD Điêm ngưỡng dưới — 2SD được coi là SDD thê gây còm, phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân. Thường được sử dụng trong đánh giá nhanh sau khi xảy ra thiên tại, hạn hán (6, 12).Hậu quả của suy dinh dưỡng Trẻ bị SDD có biểu hiện chậm phát triển thể lực và trí tuệ: trẻ quá thấp, quá gay so voi tudi thi thể lực yếu, học kém.
Khi trẻ nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe thé chất, khi lớn lên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, tinh thần học tập và lao động, trí lực cũng như một 36 bệnh mạn tính ở độ tuổi trưởng thành. Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, do đó sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo WHO, UNICEF, WB có gần một nửa số ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi là do bị SDD: Thiếu dinh dưỡng khiến trẻ em có nguy cơ tử vong do các bệnh nhiễm trùng thông thường cao hơn, làm tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của các bệnh nhiễm trùng đó và làm chậm quá trình hồi phục (12). Thực trang suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới và Việt Nam 1.
Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới Tỷ lệ suy dinh dưỡng Báo cáo thường niên của WHO, UNICEF, WB. Ty 1é SDD tré em trén thé giới và tại các khu vực năm 2015 vẫn còn khá cao. Thế giới: SDD thấp còi (23,2% - 154 triệu), nhẹ cân (14% - 92. Các tỷ lệ này tại các khu vực như: Châu Phi (33,4% và 16,2%), Châu Á (22,7% và 16,7%), Châu Mỹ La tỉnh và Caribê (11,6% và 2,9%).
Các nước đang phát triển (25% và 13,5%), các nước phát triển (7. Từ năm 2000 đến năm 2020 tỷ lệ trẻ thấp còi trên toàn cầu giám từ 33,1% xuống 22% và số trẻ em bị ảnh hưởng giảm từ 203,6 triệu xuống 149,2 triệu. Vào năm 2020 gan hai trong số năm trẻ em bị thấp còi sống ở Nam Á trong khi hai trong số năm trẻ khác sống ở vùng cận Sahara, châu Phi. Vào năm 2020 hơn một nửa số trẻ em bị ảnh hưởng bởi tình trạng gầy còm sống ở Nam A va gan 1/4 ở châu Phi cận Sahara, với tỷ lệ tương tự đối trẻ em bị ảnh hưởng bởi tình trạng gầy còm trầm trọng (40).
Thống kê y tế thế giới của WHO sau kết thúc các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (2010 — 2015), tỷ lệ trẻ em nhẹ cân được báo cáo đã giảm trên toàn cầu từ 25% năm 1990 xuống còn <15% năm 2015(41). Tuy nhiên, sự sụt giảm này không được phân bổ đồng đều ở tất cả các khu vực trên thế giới: gần 90% trẻ em nhẹ cân cư trú ở Đông Nam Á và Châu Phi cận Sahara (42). Ngoài ra, số lượng trẻ em thấp còi đã giảm ở tất cả các khu vực ngoại trừ khu vực cận Sahara, châu Phi, nơi con số này tăng khoảng một phần ba từ năm 1990 đến năm 2013(42). Theo báo cáo mục tiêu thiên nhiên kỷ năm 2015, tại Châu phi và vùng cận Sahara chiếm 1/3 tổng số trẻ suy dinh đưỡng trên toàn cầu với khoảng 39% trẻ thấp còi, 10% gầy còm và 25% trẻ nhẹ cân (41).
Suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi và giới tính của trẻ Khi so sánh các nhóm tuổi, giới tính của trẻ với tình trạng suy dinh dưỡng cho thấy trẻ 12 — 23 tháng có tỷ lệ thấp còi, gầy còm cao nhất tương ứng (13,3% và 4,9%), tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ nhỏ tuôi và tăng từ trẻ 6-11 tháng (4,9%), cao nhất ở trẻ từ 12-23 tháng tuôi (6,2%). Trẻ nam có tỷ lệ SDD thấp còi cao hơn trẻ nữ (27,9%so với 15,2%). Tương tự tỷ lệ SDD nhẹ cân, gay com 6 nam cao hơn trẻ nữ tương ứng là: nhẹ cân (17,8% so với 7,0%), gay com (9,9% so với 6,3%) theo nghiên cứu của Gebre và cộng sự (2019) tại Ethiopia (54). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi và giới tính của trẻ với cả 3 thể SDD (p < 0,05).
Trẻ từ 12 — 23 tháng có nguy cơ SDD nhẹ cân cao nhất (12,81%), trẻ 6 — I1 thang SDD gầy còm cao nhất (11,44%). Suy dinh dưỡng thấp còi cao nhất ở trẻ 24-35 tháng (28,60%). Trẻ nam có tỷ lệ SDD nhẹ cân, thấp còi cao hơn so với trẻ nữ lần lượt là nhẹ cân (10,73% so với 10,9%), thấp còi (20,15% so với 16,44%), trẻ nữ có tỷ lệ SDD gầy còm cao hơn trẻ nam (5,62% so với 5,02%) theo nghiên cứu của Boah và công sự (2019) tại Ghana thông qua số liệu điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe Ghana năm 2014(43). Suy dinh dưỡng theo dân tộc, vùng lãnh thổ.
Trẻ em là người thuộc các đồng bảo dân tộc thiểu số khác nhau, vùng lãnh thổ quốc gia khác nhau có tỷ lệ suy dưỡng trẻ em khác nhau, đặc biệt trẻ ở những quốc gia nghèo có tỷ lệ suy đưỡng cao hơn những trẻ thuộc quốc gia khác. SDD một phần do điều kiện kinh tế khó khăn, trẻ em không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, hộ gia đình bi mat an ninh lương thực, mức sống nghèo khổ của người dân tộc thiểu số, bên cạnh đó các bà mẹ hầu hết đều không được học hành đầy đủ ảnh hưởng đến tình trạng SDD của trẻ (44). Nghiên cứu của Makamto và cộng sự (2018) về “ Các yếu tố dự báo tỉnh trạng dinh dưỡng kém ở trẻ em từ 6 — 24 tháng tuổi ở các vùng nông nghiệp của Mali” cho thấy có 23,9% trẻ SDD nhẹ cân, 28,4% SDD thấp còi và 13,9% SDD gầy còm (55).