Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, hiện có khoảng 178 triệu trẻ em trên toàn cầu chịu ảnh hưởng bởi bệnh còi xương và các rối loạn do thiếu hụt vi chất. Tại Việt Nam, mặc dù nằm trong vùng nhiệt đới có lượng bức xạ mặt trời dồi dào, tỷ lệ còi xương ở trẻ dưới 3 tuổi vẫn dao động ở mức cao từ 12,5% đến 26,4%, đặc biệt nhóm trẻ từ 3 đến 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc lên tới 35%. Báo cáo từ Viện Dinh dưỡng Quốc gia cũng chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ đến khám có biểu hiện còi xương tại tuyến trung ương lên đến 40%. Vấn đề cốt lõi bắt nguồn từ những khoảng trống lớn trong nhận thức của người chăm sóc, phong tục kiêng cữ gió nắng quá mức sau sinh, việc cho trẻ ăn bổ sung quá sớm và thực hành tắm nắng chưa đúng kỹ thuật.

Nghiên cứu được tiến hành nhằm mô tả thực trạng nhận thức, kỹ năng của người mẹ có con từ 0 đến 3 tháng tuổi và đánh giá hiệu quả của mô hình can thiệp giáo dục sức khỏe tại cộng đồng. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tại ba trạm y tế phường gồm Hạ Long, Trần Tế Xương và Mỹ Xá thuộc Thành phố Nam Định trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020.

Ý nghĩa của công trình thể hiện rõ qua sự chuyển biến vượt bậc của các chỉ số đánh giá: tổng điểm kiến thức trung bình của người mẹ tăng từ khoảng 9 đến 36 điểm trước can thiệp lên mức 22 đến 41 điểm sau 2 tháng theo dõi, đồng thời điểm thực hành tắm nắng đạt mức tối ưu từ 2 đến 6 điểm với ý nghĩa thống kê $p < 0,001$. Kết quả này tạo tiền đề thực tiễn để nhân rộng các chương trình truyền thông dinh dưỡng tuyến cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model - HBM) do Hochbaum, Rosenstock và Kegels khởi xướng, kết hợp cùng lý thuyết sinh lý học chuyển hóa vi chất và các quy định chuyên môn tại Thông tư số 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế về nhiệm vụ tư vấn giáo dục sức khỏe của điều dưỡng. Khung lý thuyết của nghiên cứu tập trung phân tích 6 cấu phần trọng tâm:

  1. Nhận thức tính nhạy cảm: Mức độ người mẹ nhận biết nguy cơ trẻ dưới 2 tuổi, trẻ đẻ non hoặc trẻ nhẹ cân dưới 2500g dễ mắc còi xương.
  2. Nhận thức mức độ nghiêm trọng: Sự thấu hiểu về các biến dạng xương vĩnh viễn như lồng ngực hình chuông, chân vòng kiềng chữ O, chữ X, gù vẹo cột sống và suy giảm chức năng hô hấp.
  3. Nhận thức lợi ích: Niềm tin vào hiệu quả của việc tắm nắng đúng cách (cung cấp 80% nhu cầu vitamin D nội sinh qua phản ứng biến đổi 7-Dehydrocholesterol tại da dưới tác động của tia cực tím) và nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ.
  4. Nhận thức rào cản: Những khó khăn về thời gian, không gian nhà ở thiếu ánh sáng hoặc lo ngại thời tiết lạnh.
  5. Tín hiệu hành động: Tác động từ tài liệu truyền thông, tờ rơi trực quan và sự tư vấn trực tiếp của cán bộ y tế trong các buổi tiêm chủng.
  6. Năng lực tự thực hiện (Self-efficacy): Sự tự tin của người mẹ khi thực hiện thuần thục quy trình 6 bước tắm nắng an toàn cho trẻ sơ sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế can thiệp một nhóm có so sánh, đánh giá trước và sau can thiệp theo 3 mốc thời gian: thời điểm T0 (trước can thiệp), T1 (ngay sau truyền thông) và T2 (sau 2 tháng duy trì). Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức so sánh hai tỷ lệ với mức ý nghĩa thống kê 0,05 và lực mẫu 80%, tính toán được cỡ mẫu tối thiểu là 79 đối tượng; trên thực tế đã thu thập và hoàn thiện can thiệp trên 85 bà mẹ có con từ 0 đến 3 tháng tuổi đến tiêm chủng định kỳ.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu cụm kết hợp chọn mẫu thuận tiện: bốc thăm ngẫu nhiên 3 trạm y tế phường đại diện cho khu vực đô thị và bán đô thị của Thành phố Nam Định, sau đó chọn toàn bộ các bà mẹ đủ tiêu chuẩn tham gia. Công cụ thu thập dữ liệu gồm bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp 11 mục kiến thức (được kiểm định độ tin cậy test-retest đạt hệ số tương quan 0,79) và bảng kiểm quan sát thực hành tắm nắng 6 bước chuẩn.

Dữ liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0. Do tổng điểm kiến thức và thực hành không tuân theo phân phối chuẩn (phân phối lệch), nghiên cứu lựa chọn các kiểm định phi tham số bao gồm kiểm định Friedman để so sánh biến thiên qua ba thời điểm và kiểm định Wilcoxon signed-rank để kiểm định từng cặp mẫu bắt cặp, bảo đảm tính khách quan và độ chính xác khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân khẩu học trên 85 bà mẹ cho thấy nhóm tuổi 20 đến 35 chiếm đa số với 69,4%; tỷ lệ học vấn từ trung cấp trở lên đạt 58,8% và có 85,9% bà mẹ có từ 1 đến 2 con. Trọng lượng trẻ sơ sinh chủ yếu nằm trong khoảng bình thường từ 2500g đến 4000g, chiếm 94,1%.

Trước can thiệp (thời điểm T0), mức độ hiểu biết của đối tượng còn nhiều thiếu hụt:

  • Nhận thức về dinh dưỡng và nguyên nhân bệnh: Chỉ có 8,2% người mẹ biết việc cho trẻ ăn quá nhiều chất bột làm cản trở hấp thu Canxi và 14,1% biết ăn dặm quá sớm là yếu tố nguy cơ. Tỷ lệ hiểu rõ việc mặc quá nhiều quần áo ngăn cản tổng hợp vitamin D chỉ đạt 29,4%.
  • Nhận diện yếu tố nguy cơ và dấu hiệu sớm: Chỉ có 47,1% nhận biết trẻ dưới 2 tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao nhất; 51,8% nhận thức được dấu hiệu ra mồ hôi trộm khi trời lạnh và 68,2% nhận biết dấu hiệu rụng tóc gáy (chiếu liếm).
  • Kỹ năng và kiến thức tắm nắng: Tỷ lệ hiểu đúng về độ tuổi bắt đầu tắm nắng chỉ đạt 16,5%; thời gian tắm mỗi lần đạt 35,3% và chỉ 27,1% biết thời điểm dừng tắm nắng khi da trẻ ửng hồng. Điểm thực hành tắm nắng ban đầu dao động ở mức thấp từ 0 đến 6 điểm.

Ngay sau can thiệp (thời điểm T1) và sau 2 tháng (thời điểm T2), kết quả ghi nhận sự tiến bộ vượt bậc:

  • Kiến thức về nguyên nhân thiếu sữa mẹ tăng từ 69,4% lên 97,6% (T1) và duy trì 91,8% (T2).
  • Nhận thức về tác hại của việc ăn bột quá sớm tăng mạnh từ 14,1% lên 76,5% (T1) và giữ ở mức 52,9% (T2).
  • Nhận diện dấu hiệu ra mồ hôi trộm khi trời lạnh tăng từ 51,8% lên 89,4% (T1) và đạt 69,4% (T2).
  • Điểm kiến thức tổng thể tăng từ khoảng 9 đến 36 điểm (T0) lên 12 đến 41 điểm (T1) và duy trì ổn định ở mức 22 đến 41 điểm sau 2 tháng (T2), với $p < 0,001$.
  • Điểm thực hành tắm nắng tại thời điểm T2 đạt từ 2 đến 6 điểm, không còn đối tượng đạt 0 hay 1 điểm ($p < 0,001$).

Thảo luận kết quả

Khi trực quan hóa qua biểu đồ phân bố điểm số và biểu đồ thanh so sánh tỷ lệ trước - sau, sự khác biệt về năng lực của các bà mẹ được thể hiện rất rõ ràng. Đường cong phân phối điểm kiến thức dịch chuyển hoàn toàn về phía dải điểm cao từ 35 đến 41 điểm sau can thiệp.

Sở dĩ kiến thức ban đầu của người mẹ còn hạn chế là do chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thói quen truyền khẩu thế hệ, phong tục giữ trẻ trong phòng tối kín gió và định kiến cho trẻ ăn bột nấu nước xương hầm để cứng xương. Phương pháp truyền thông trực tiếp nhóm nhỏ từ 1 đến 3 người kết hợp phát tài liệu hướng dẫn trực quan trong 15 đến 20 phút tại phòng chờ tiêm chủng đã mang lại hiệu quả vượt trội. Sự tương tác hai chiều giúp giải tỏa rào cản tâm lý, điều chỉnh ngay các thao tác sai sót khi tắm nắng (như không che mắt trẻ hoặc bộc lộ da không đúng thứ tự). Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu can thiệp tại Bắc Ninh, Trà Vinh và nhiều nước đang phát triển, khẳng định vai trò của việc lồng ghép giáo dục sức khỏe vào dịch vụ tiêm chủng định kỳ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa bệnh còi xương tại cộng đồng:

  1. Chuẩn hóa quy trình tư vấn sức khỏe tại tuyến cơ sở: Đề nghị Trung tâm Y tế Thành phố Nam Định chỉ đạo 100% trạm y tế xã, phường tích hợp góc truyền thông phòng chống còi xương trong các ngày tiêm chủng mở rộng hàng tháng. Mục tiêu phấn đấu đạt 95% bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi được tiếp cận tài liệu truyền thông chuẩn hóa trong vòng 6 tháng tới.
  2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ điều dưỡng, nữ hộ sinh: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định phối hợp cùng Chi hội Điều dưỡng tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng truyền thông trực tiếp và kỹ thuật thị phạm tắm nắng 6 bước, bảo đảm 100% cán bộ y tế tuyến xã nắm vững phương pháp đánh giá thực hành của thân nhân bệnh nhi theo định kỳ hàng năm.
  3. Đa dạng hóa các kênh truyền thông cộng đồng: Hội Liên hiệp Phụ nữ phối hợp với ngành y tế đẩy mạnh tuyên truyền xóa bỏ hủ tục kiêng cữ nắng gió, hướng dẫn chế độ dinh dưỡng giàu vitamin D cho phụ nữ mang thai và cho con bú qua hệ thống loa truyền thanh xã phường, hướng tới mục tiêu duy trì tỷ lệ thực hành tắm nắng đúng trên 85% tại địa phương trong giai đoạn 2021-2025.
  4. Xây dựng hệ thống giám sát và nhắc nhở định kỳ: Thiết lập sổ theo dõi chăm sóc trẻ sơ sinh tại trạm y tế, thực hiện đánh giá duy trì kiến thức, thực hành của bà mẹ vào các mốc trẻ tròn 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng tuổi nhằm bảo đảm các hành vi sức khỏe tích cực được duy trì bền vững sau can thiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ y tế và điều dưỡng cộng đồng: Khai thác trực tiếp bộ công cụ bảng kiểm quan sát 6 bước thực hành tắm nắng và tài liệu truyền thông tóm tắt để áp dụng ngay vào hoạt động tư vấn sức khỏe định kỳ cho sản phụ tại các trạm y tế cơ sở.
  2. Nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách dinh dưỡng: Sử dụng số liệu thực chứng về tỷ lệ thiếu hụt kiến thức và hiệu quả can thiệp để xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống suy dinh dưỡng, còi xương ở trẻ em dưới 5 tuổi.
  3. Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Điều dưỡng - Y tế công cộng: Tham khảo khung lý thuyết Mô hình Niềm tin Sức khỏe (HBM), thiết kế nghiên cứu can thiệp trước - sau và phương pháp xử lý số liệu phi tham số bằng phần mềm SPSS trong việc thực hiện các đề tài nghiên cứu lâm sàng và cộng đồng.
  4. Phụ huynh và người trực tiếp chăm sóc trẻ sơ sinh: Nắm bắt kiến thức y khoa chính xác về cơ chế hấp thu vitamin D, nhận biết các dấu hiệu sớm của bệnh trên hệ thần kinh để kịp thời xử trí, bảo vệ sự phát triển toàn diện hệ xương khớp của con trẻ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bệnh còi xương do thiếu vitamin D có phổ biến ở trẻ sơ sinh Việt Nam không? Hiện nay bệnh vẫn rất phổ biến tại nước ta. Mặc dù có khí hậu nhiệt đới nhiều nắng, tỷ lệ còi xương ở trẻ dưới 3 tuổi vẫn dao động từ 12,5% đến 26,4%, cá biệt ở nhóm trẻ 3 đến 6 tháng tuổi có thể lên tới 35%. Tại các phòng khám chuyên khoa của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tỷ lệ trẻ đến khám phát hiện còi xương ghi nhận ở mức xấp xỉ 40% do thói quen kiêng nắng quá mức.

  2. Dấu hiệu sớm nhất để nhận biết trẻ sơ sinh bị còi xương là gì? Các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật luôn xuất hiện sớm nhất, điển hình là trẻ hay giật mình khi ngủ, quấy khóc kéo dài và đặc biệt là đổ nhiều mồ hôi trộm ngay cả khi thời tiết lạnh. Khảo sát cho thấy ban đầu chỉ có 51,8% bà mẹ nhận biết được dấu hiệu đổ mồ hôi khi trời lạnh, nhưng tỷ lệ này đã tăng lên 89,4% sau khi được hướng dẫn giáo dục sức khỏe.

  3. Tại sao cho trẻ ăn dặm sớm hoặc ăn nhiều bột lại dẫn đến nguy cơ còi xương? Trong bột ngũ cốc chứa hàm lượng lớn hợp chất Axit phytic. Chất này kết hợp với Canxi tạo thành muối không hòa tan, gây ức chế mạnh quá trình hấp thu Canxi và Vitamin D qua niêm mạc ruột non vào máu. Nghiên cứu chỉ ra trước can thiệp chỉ có 8,2% bà mẹ biết ăn nhiều bột và 14,1% biết ăn bổ sung trước 6 tháng tuổi là nguyên nhân gây bệnh.

  4. Quy trình tắm nắng chuẩn cho trẻ 0 đến 3 tháng tuổi gồm những bước nào? Quy trình kỹ thuật chuẩn gồm 6 bước: che mắt bảo vệ võng mạc của trẻ, bộc lộ dần từng vùng da, để trẻ quay mặt vào mẹ và hướng vùng da bộc lộ về phía ánh nắng, duy trì thời gian từ 15 đến 20 phút (dừng khi da ửng hồng), dùng khăn khô mềm lau sạch mồ hôi và cho trẻ bú mẹ hoặc uống một ít nước ấm sau khi kết thúc.

  5. Hiệu quả của mô hình truyền thông trực tiếp tại trạm y tế duy trì được bao lâu? Nghiên cứu chứng minh mô hình can thiệp duy trì tính bền vững rất cao sau 2 tháng (thời điểm T2). Điểm kiến thức duy trì vững chắc ở mức 22 đến 41 điểm (so với 9 đến 36 điểm trước can thiệp), và điểm thực hành tắm nắng ổn định ở mức 2 đến 6 điểm với ý nghĩa thống kê cao $p < 0,001$.

Kết luận

  • Thực trạng trước can thiệp: Kiến thức và thực hành phòng bệnh còi xương của bà mẹ có con từ 0 đến 3 tháng tuổi tại Thành phố Nam Định còn rất hạn chế, đặc biệt về độ tuổi tắm nắng (16,5%) và tác hại của việc ăn dặm sớm (14,1%).
  • Hiệu quả can thiệp vượt bậc: 100% bà mẹ tham gia nghiên cứu đã nâng cao nhận thức rõ rệt ngay sau khi được truyền thông trực tiếp, điểm kiến thức tăng mạnh lên dải 12 đến 41 điểm.
  • Tính duy trì bền vững: Sau 2 tháng can thiệp, các chỉ số thực hành tắm nắng 6 bước và kiến thức dự phòng vẫn được duy trì ở mức tối ưu từ 22 đến 41 điểm ($p < 0,001$).
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc khẳng định tính khả thi của việc lồng ghép giáo dục sức khỏe trực tiếp vào chương trình tiêm chủng mở rộng tại trạm y tế xã phường.
  • Định hướng hành động: Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ sở y tế cần mở rộng mô hình truyền thông này trên toàn tỉnh Nam Định và các địa phương lân cận, góp phần bảo vệ sức khỏe hệ xương và nâng cao tầm vóc trẻ em Việt Nam ngay từ những năm tháng đầu đời.