Luận văn thực trạng chăm sóc trong và ngay sau sinh cho bà mẹ trẻ sơ sinh người dân tộc xơ đăng tại huyện krông pắc tỉnh đắk lắk và một số yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh năm 2019

Luận văn phân tích thực trạng chăm sóc sinh sản cho bà mẹ và trẻ sơ sinh người dân tộc Xơ Đăng tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk năm 2019.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng chăm sóc mẹ và trẻ sơ sinh người Xơ Đăng tại Krông Pắc Đắk Lắk

Nghiên cứu tập trung vào thực trạng chăm sóc mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Kết quả cho thấy, tỷ lệ bà mẹ người Xơ Đăng sinh con tại cơ sở y tế là 41,5%, trong khi 58,3% sinh tại nhà. Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh tại cơ sở y tế được thực hiện đầy đủ hơn so với tại nhà. Các dịch vụ như tiêm Oxytoxin, xoa đáy tử cung, và uống vitamin A được áp dụng rộng rãi tại cơ sở y tế, nhưng hầu như không có tại nhà. Điều này phản ánh sự chênh lệch lớn trong chất lượng chăm sóc giữa hai hình thức sinh đẻ.

1.1. Chăm sóc bà mẹ trong và ngay sau sinh

Chăm sóc bà mẹ trong và ngay sau sinh bao gồm các biện pháp thiết yếu như kẹp cắt dây rốn muộn, tiêm thuốc Oxytocin, và xoa đáy tử cung. Tại cơ sở y tế, các biện pháp này được thực hiện đầy đủ, trong khi tại nhà, hầu như không có. Điều này dẫn đến nguy cơ cao về tử vong mẹ và các biến chứng sau sinh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các bà mẹ sinh tại nhà thường không được tư vấn đầy đủ về các biện pháp chăm sóc sau sinh, dẫn đến việc tự chăm sóc không hiệu quả.

1.2. Chăm sóc trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh

Chăm sóc trẻ sơ sinh tại cơ sở y tế bao gồm các biện pháp như đặt da kề da, bú mẹ sớm, và tiêm vitamin K1. Tuy nhiên, tại nhà, các biện pháp này hầu như không được thực hiện. Điều này làm tăng nguy cơ tử vong sơ sinh và các vấn đề sức khỏe khác. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao nhận thức về các biện pháp chăm sóc trẻ sơ sinh trong cộng đồng người Xơ Đăng.

II. Yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh

Nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nơi sinh của bà mẹ người Xơ Đăng. Các yếu tố bao gồm tuổi tác, trình độ học vấn, kinh tế gia đình, và khoảng cách đến cơ sở y tế. Những bà mẹ lớn tuổi, có trình độ học vấn thấp, và thuộc hộ nghèo có xu hướng sinh tại nhà nhiều hơn. Khoảng cách đến cơ sở y tế cũng là một yếu tố quan trọng, với những bà mẹ sống xa cơ sở y tế có nguy cơ sinh tại nhà cao hơn.

2.1. Yếu tố cá nhân và gia đình

Các yếu tố cá nhân như tuổi tác và trình độ học vấn có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn nơi sinh. Những bà mẹ lớn tuổi và có trình độ học vấn thấp thường không nhận thức được lợi ích của việc sinh tại cơ sở y tế. Yếu tố gia đình như kinh tế và sự hỗ trợ từ người thân cũng đóng vai trò quan trọng. Những gia đình nghèo thường không có đủ điều kiện để đưa bà mẹ đến cơ sở y tế.

2.2. Yếu tố văn hóa và dịch vụ y tế

Văn hóa dân tộctruyền thống dân tộc cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nơi sinh. Nhiều bà mẹ người Xơ Đăng vẫn giữ thói quen sinh tại nhà theo truyền thống. Dịch vụ y tế tại địa phương cũng cần được cải thiện để thu hút nhiều bà mẹ đến sinh tại cơ sở y tế. Nghiên cứu đề xuất việc tăng cường giáo dục sức khỏe và hỗ trợ cộng đồng để thay đổi nhận thức và hành vi của người dân.

III. Giải pháp và khuyến nghị

Nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện thực trạng chăm sóc mẹ và trẻ sơ sinh tại huyện Krông Pắc. Các giải pháp bao gồm tăng cường giáo dục sức khỏe, cải thiện dịch vụ y tế, và hỗ trợ cộng đồng. Việc đào tạo cô đỡ thôn buôn và người đỡ đẻ tại nhà cũng được đề xuất để đảm bảo an toàn cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.

3.1. Tăng cường giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của việc sinh tại cơ sở y tế. Các chương trình giáo dục cần được triển khai rộng rãi trong cộng đồng, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa. Việc tuyên truyền cần tập trung vào các nhóm bà mẹ lớn tuổi, có trình độ học vấn thấp, và thuộc hộ nghèo.

3.2. Cải thiện dịch vụ y tế

Dịch vụ y tế tại địa phương cần được cải thiện để thu hút nhiều bà mẹ đến sinh tại cơ sở y tế. Các cơ sở y tế cần được trang bị đầy đủ thiết bị và thuốc men để đảm bảo chất lượng chăm sóc. Ngoài ra, việc giảm khoảng cách đến cơ sở y tế cũng là một yếu tố quan trọng để tăng tỷ lệ sinh tại cơ sở y tế.

23/02/2025
Luận văn thực trạng chăm sóc trong và ngay sau sinh cho bà mẹ trẻ sơ sinh người dân tộc xơ đăng tại huyện krông pắc tỉnh đắk lắk và một số yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh năm 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm dùng trong nghiên cứu. Chăm sóc trong sinh và ngay sau sinh: Là một quá trình theo dõi, chăm sóc BM-TSS từ lúc chuyển dạ sinh đến hết 24 giờ đầu sau sinhtức là vào ngày thứ nhất sau sinh, bao gồm các chăm sóc thiết yếu (CSTY) cơ bản và các chăm sóc thường quy tại một cuộc đẻ cho BM-TSS theo qui định, nhằm phát hiện những trường hợp không được bình thường để xử trí kịp thời, đồng thời hướng dẫn bà mẹ biết cách chăm sóc bản thân và cho trẻ được khỏe mạnh [18],[3]. Chăm sóc bà mẹ trong và ngay sau sinh: Chăm sóc cho bà mẹ trong và ngay sau sinh gồm cácCSTY cơ bản như kẹp cắt dây rốn muộn có kiểm soát; tiêm thuốc Oxytocin gây co hồi tử cung; xoa đáy tử cung 15 phút/lần sau liên tục trong 2 giờ đầu sau khi nhau thai sổ ở giai đoạn 3, cho trẻ bú ngay sau sinh và một số chăm sóc thường quy khác như bà mẹ sinh con có sự tham gia hỗ trợ của CBYT; nơi sinh con có đầy đủ phương tiện thiết yếu; bà mẹ được uống VitaminA ngay sau sinh để bổ sung vi chất, đảm bảo vệ sinh.

Đó là những chăm sóc cần thiết cần được làm ngay tại cuộc đẻ [18],[37]. Chăm sóc trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh: Gồmnhững CSTY cơ bản và những chăm sóc thường quy cho TSS ngay sau khi trẻ vừa lọt lòng mẹtrong ngày đầu sau sinh, nhằm phục hồi tình trạng sức khỏe cho TSS, để thích nghi đáp ứng với môi trường sống bên ngoài dạ con. Trong đó, chăm sóc thiết yếulà những chăm sóc khi trẻ vừa chui ra khỏi bụng mẹ như(1) lau khô và ủ ấm không để hạ thân nhiệt; (2) đặt trẻ trên bụng/ngực mẹ tiếp xúc da với da và kéo dài 90 phút; (3) cắt rốn chậm (ngay sau khi động mạch rốn ngừng đập); (3) cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn sớm trong 1giờ đầu ngay sau sinh [37],[14]. Chăm sóc thường quy lànhững chăm sóc giản đơn liên tục cần được tiến hành ngay sau sinhnhư: Chăm sóc rốn để rốn hở, cân; đo; nhỏ thuốc mắt cho trẻ; thăm khám toàn thân; tiêm vitamin K1đề phòng xuất huyết não và tiêm phòng vắc xin Viêm gan siêu vi B [18],[3].

5 Sinh con tại cơ sở y tế: Là những trường hợp bà mẹ mang bầu đến tại CSYT nhà nước hay tư nhân để sinh con dưới sự theo dõi và chăm sóc của CBYT có tay nghề đỡ đẻ [18]. Sinh con tại nhà: Là cuộc sinh nở của bà mẹ được thực hiện và diễn ra ngay tại nhà mà không đến CSYT để sinh con, với những lý do khác nhau. Sinh con tại nhà có thể có hoặc không có CBYT có tay nghề tham gia đỡ đẻ. Thường các cuộc đẻ tại nhà không có đầy trang thiết bị như dụng cụ đỡ đẻ, thuốc cấp cứu và không đảm bảo vệ sinh[18].

Người đỡ đẻ có kỹ năng: Là CBYT gồm Nữ hộ sinh, bác sỹ, Y sĩ sản nhi (YSSN), là những người được tập huấn thực hành thành thạo một cách bài bản về kỹ năng đỡ đẻ và CSTY theo qui trình cơ bản. Để giúp chẩn đoán và xử trí những ca mang thai thường (không có biến chứng) giai đoạn trong và ngay sau sinh một cách chuẩn xác, chuyển tuyến kịp thời các trường hợp biến chứng ở BM-TSS[4],[18]. Cô đỡ thôn buôn: Là đối tượng phụ nữ người DTTS sinh sống tại các buôn, đã được tham gia học tập ngắn hạn hay liên tục trong 6 tháng về những kỹ năng truyền thông trực tiếp làm mẹ an toàn (LMAT); thành thạo biết cách đỡ đẻ sạch một cách bài bản, tham gia hỗ trợ đỡ đẻ cho các trường hợp sinh tại nhà xảy ra ngoài ý muốn; biết cách chăm sóc BM-TSS trong và ngay sau sinh; tư vấn vận động bà mẹ mang thai sinh con tại CSYT[18]. Mụ vườn: Hay bà đỡ dân gian là người có uy tín, kinh nghiệm đỡ đẻ, được người nhà hoặc bà mẹ mời đến đỡ đẻ cho các trường hợp sinh tại nhà, những bà đỡ này, không thông qua trường lớp đào tạo, tập huấn dài hạn hay ngắn hạn về kỹ năng đỡ đẻ hay chăm sóc cho BM-TSS trong và ngay sau sinh theo quy trình[18].

Tư vấn chăm sóc trong và ngay sau sinh: Trước khi thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu,đỡ đẻ cho bà mẹ hay thực hiện thủ thuật cho BM-TSS, gia đình và bà mẹ đã được CBYT tư vấn hướng dẫn về lợi ích của việc chăm sóc sớm cho BM-TSS, để họ an tâm hợp tác, giúp họ biết cách 6 chăm sóc bản thân và trẻ để phát hiện sớm kịp thời nguy cơ tai biến, nhằm hạn chế những hậu quả của nó đem lại là TVM-TVSS ngay sau sinh[18],[3].Chăm sóc bà mẹ -trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh.Chăm sóc bà mẹ trong và ngay sau sinh. Mang thai và sinh con là một quá trình sinh lý bình thường của bà mẹ. Tuy nhiên, quá trình này, có thể gặp nhiều nguy cơ cho bà mẹ. Theo ước tính trên toàn cầu, 15% trường hợp có biến chứng khi sinh con và ngay sau sinh không có dấu hiệu báo trước.

Tử vong mẹ xảy ra trong ngày đầu sau sinh hầu hết số là do băng huyết (sau sinh con) chiếm 26-33%, nhiễm độc thai nghén chiếm 18%, tiếp đến là nhiễm trùng và các nguyên nhân gián tiếp khác [32],[40]. Phần lớn TVM có thể ngăn ngừa được với những biện pháp đơn giản nhưng đem lại hiệu quả cao [42]. Chăm sóc bà mẹ trong và ngay sau sinh là từ khi chuyển dạ sinh đến hết một ngày đầu sau sinh, gồm các chăm sóc tích cựu để dự phòng, phát hiện sớm và xử trí tích cực khi có biến chứng xảy ra, như các CSTY cơ bản và những chăm sóc thường quy[27],[18],[26].Lợi ích đem lại là, nhận biết sớm và phòng ngừa được các rủi ro có thể đến với bà mẹ, nhằm bảo vệ sự an toàn trong lúc sinh nở, giảm bệnh tật và TVM cho bà mẹ[26],[44]. Bà mẹ sinh con được chăm sóctốt nhất tại CSYT, vì tại đây có đầy đủ phương tiện cơ cấp cứu cơ bản, dụng cụ trang thiết bị và nhân lực để có thể phòng các biến chứng thường gặp như chảy máu sau sinh, cứu sống mẹ.

Nếu trường hợp sinh tại nhà, thì phải có sự tham gia bởi CBYT đã qua tập huấn về kỹ năng đỡ đẻ[17],[29]. Hầu hết số sản phụSCTNkhông được hỗ trợ chăm sóc của người đỡ đẻ có tay nghề. Một số ít sản phụ SCTN có sợ tham gia hỗ trợ của CBYT và CĐTB đã qua trường lớp đào tạo đỡ đẻ và có dùng gói đỡ đẻ sạch, tuy nhiên số CĐTB tham gia hỗ trợ cuộc đẻ tại nhà không nhiều, phần lớn là do mụ vườn hoặc các thành viên gia đình đỡ và không dùng gói đỡ đẻ sạch[21],[2]. Chăm sóc cho bà mẹ tốt nhất trong và ngay khi sinh với trợgiúp của là một trong những hoạt động cần được thực hiện theo đúng quy định.Những người cung cấp dịch vụ đòi hỏi phải thành thạo thực hiện đủ đầy các bước tiên lượng cho một cuộc sinh con, thông qua quá trình thăm khám, theo dõi, hướng dẫn chăm sóc.

Đây là 7 chiến lược can thiệp tốt nhất, nhằm đảm bảo quá trình sinh con xảy ra bình thường với sự chăm sóc,theo dõi chặt chẽ của CBYT có chuyên môn thực hiện. Chăm sóc đầy đủ các bước cơ bản cho cuộc sinh giúp bà mẹ có trải nghiệm tốt trong quá trình sinh con, làm giảm rủi ro TVM (95%), giảm nguy cơ chảy máu sau sinh do hậu quả tai biến khi chuyển dạ (67%), giảm TVSS (40%) do ngạt[27],[26]. Vấn đề trọng tâm CSYT trong và ngay sau sinh cho sản phụ là được sinh con tại CSYT, haycó sự tham gia trợ giúp của CBYT hay CĐTB đã qua trường lớp đào tạo. Đây được coi là một trong số phương án then chốt để giảm TVM đã góp phần hoàn thiện Mục tiêu thiên niên kỷ số 5 là giảm ¾ TVM vào năm 2015so với năm 1990[6],[40],[44].

Theo kêu gọi của UNFPA và WHO (2015) trên toàn cầu, các nước cần nổ lực để tăng tỷ lệ bà mẹ đến CSYT để sinh con để đạt mức từ 85% vào năm 2010 đến 90 % vào năm 2015[42]. Thế nhưng, trong thực tế các nước chỉ đạt chỉ tiêu với tỷ lệ 69% trong giai đoạn năm 2010-2015 [42].Tỷ lệ sinh con tại CSYT rất khác biệt theo từng quốc gia, một số quốc gia giàu tỷ lệ sinh con tại CSYT đã đạt mức 100%, nhưng ở một số nước nghèo mới chỉ đạt 20%[44], [40]. Ở Việt Nam, chăm sóc SKBM luôn ở trong vị trí hàng đầu trong các can thiệp cải thiện SKBM-TE. Mục tiêu cải thiện SKBM đã có nhiều trong chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước, là một cấu phần quan trọng trong Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân và các Nghị định liên quan khác với mục tiêu bảo vệ SKBM-TE được khỏe mạnh và an toàn.

Theo báo cáo hàng năm của hệ thống CSSKSS, tỷlệ phụ nữ sinh con tại CSYTtrên cả nước đạttrên 90%, với kết quả này đã đóng góp một phần quan trọng trong việc giảm TVM-TVSS ở nước ta nhiều năm vừa qua[17]. Chăm sóc trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh. Chăm sóc cho trẻ sơ sinh (TSS)trong và ngay sau sinhlà một quá trình chăm sóc liên tục từ khi trẻ vừa lọt lòng mẹ đến khi trẻ sinh ra đượcchăm sóc toàn diệntrong ngày đầu sau sinh (trong vòng 24 giờ đầu sau sinh) bởi những can thiệp đơn thuần gồm các CSTY và chăm sóc thường quy có thể thực hiện được ở tất cả các tuyến y tế[26],[18]. Theo WHO, chăm sóc cho TSS trong và ngay sau sinhgồm các biện pháp đơn gản như: Lau khô, ủ ấm, cho trẻ nằm trên bụng/ngực bà mẹ từ nhữnggiây phút đầu tiên vừa lọt lòng.

Trẻ vừa sinh ra được nằm tiếp xúc da kề da với mẹ 8 không những làm tăng tình “mẫu tử”mà còn ủ ấm cho trẻ, giúp trẻ dễ dàng tìm bầu vú bú để được bú sớm, bú hoàn toàn những giọt sữa mẹ đầu tiên trong vòng giờ đầu sau sinh[41],[28].Cho trẻ bú mẹ sớm là cung cấp nguồn dinh dưỡng lý tưởng nhất cho trẻ mới sinh và cũng là bổ sung cho trẻ “liều vắc xin đầu tiên” tạo sức đề kháng thích nghi môi trường sống bên ngoài. Chăm trong và ngay sau sinh cho trẻ được thực hiện ngay tại phòng đỡ đẻ của CSYT ở các tuyến, mà không yêu cầu nhiều về trang thiết bị hiện đại đắt tiền hay phức tạp và cũng có thể thực hiện tại hộ gia đình với sự bao phủ của Hộ sinh. Qui trình chăm sóc là các thao tác thực hiện theo trình tự, có thể để đem lại hiệu quả tốt nhất cho trẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng chăm sóc mẹ và trẻ sơ sinh người Xơ Đăng tại Krông Pắc, Đắk Lắk và yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nơi sinh 2019" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình chăm sóc sức khỏe cho mẹ và trẻ sơ sinh trong cộng đồng người Xơ Đăng. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ những thách thức mà các bà mẹ gặp phải trong việc tiếp cận dịch vụ y tế mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định nơi sinh của họ. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, chính sách và tổ chức y tế trong việc cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhóm dân tộc thiểu số.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Chăm sóc mẹ bầu và sau sinh: Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tại Buôn Ma Thuột 2021, nơi cung cấp thông tin về dịch vụ chăm sóc trước và sau sinh cho bà mẹ dân tộc Ê Đê. Ngoài ra, tài liệu Thực trạng sử dụng dịch vụ trước và sau sinh tại Tuy Đức, Đắk Nông 2014 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố liên quan đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho mẹ và trẻ sơ sinh. Cuối cùng, tài liệu Kiến thức thực hành phòng chống suy dinh dưỡng trẻ 0-24 tháng của bà mẹ người Mnông sẽ cung cấp thêm thông tin về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ trong bối cảnh tương tự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chăm sóc sức khỏe cho mẹ và trẻ sơ sinh trong các cộng đồng dân tộc thiểu số.