Tổng quan nghiên cứu

Chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau sinh cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong 24 giờ đầu là can thiệp y tế có ý nghĩa sống còn nhằm giảm tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh trên toàn cầu. Theo báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi ngày trên thế giới ghi nhận khoảng 830 ca tử vong mẹ do các biến chứng thai sản, trong đó 99% trường hợp tập trung tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại Việt Nam, mặc dù tỷ suất tử vong mẹ toàn quốc đã giảm ấn tượng xuống còn 69 trên 100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015, sự chênh lệch chăm sóc sức khỏe giữa các vùng miền và nhóm dân tộc vẫn còn rất lớn. Tử vong mẹ ở các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp hơn 4 lần so với người Kinh, đồng thời tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số sinh con tại nhà vẫn chiếm từ 40% đến 60% tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Nhằm giải quyết bất cập này, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Lê Thị Ánh Nguyệt đã tập trung nghiên cứu thực trạng sinh nở của đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng sâu vùng xa. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: mô tả thực trạng lựa chọn nơi sinh và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc Xơ Đăng tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk năm 2019; đồng thời đánh giá toàn diện việc thực hiện các can thiệp chăm sóc trong và ngay sau sinh cho bà mẹ và trẻ sơ sinh tại cơ sở y tế cũng như tại nhà. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019 trên 199 bà mẹ tại 2 xã khó khăn là Ea Uy và Ea Yiêng. Công trình mang lại bằng chứng thực nghiệm vững chắc, giúp các nhà quản lý y tế địa phương xây dựng chiến lược can thiệp trúng đích nhằm nâng cao tỷ lệ sinh con an toàn và giảm thiểu triệt để tử vong chu sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng khung phân tích dựa trên mô hình các yếu tố quyết định sức khỏe của Marc Lalonde đưa ra năm 1981, kết hợp cùng các hướng dẫn chuyên môn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế theo Quyết định 4673/QĐ-BYT. Mô hình lý thuyết chia các yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn nơi sinh thành bốn nhóm chính: đặc trưng sinh học và lịch sử sản khoa của cá nhân bà mẹ; môi trường kinh tế và cấu trúc gia đình; các yếu tố văn hóa, giao thông, khoảng cách địa lý; và khả năng tiếp cận hệ thống dịch vụ y tế.

Trong nghiên cứu, ba khái niệm chuyên môn then chốt được chuẩn hóa rõ ràng:

  • Chăm sóc thiết yếu sớm cho bà mẹ và trẻ sơ sinh: Quy trình can thiệp chuẩn mực bao gồm tiêm bắp oxytocin dự phòng băng huyết sau sinh, kéo dây rốn có kiểm soát, xoa đáy tử cung, tiếp xúc da kề da liên tục ít nhất 90 phút, kẹp cắt rốn muộn và cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong giờ đầu.
  • Người đỡ đẻ có kỹ năng: Nhân viên y tế gồm bác sĩ, nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi đã qua đào tạo bài bản, có năng lực xử trí sinh thường và nhận biết, chuyển tuyến kịp thời các tai biến sản khoa.
  • Cô đỡ thôn bản và mụ vườn: Cô đỡ thôn bản là phụ nữ dân tộc thiểu số được đào tạo nghiệp vụ y tế từ 6 tháng trở lên để hỗ trợ làm mẹ an toàn tại buôn làng, trong khi mụ vườn là bà đỡ dân gian tự phát hành nghề dựa trên kinh nghiệm truyền khẩu mà không qua trường lớp chuyên môn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính nhằm thu thập dữ liệu đa chiều, tin cậy. Về nghiên cứu định lượng, cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% và sai số tuyệt đối 0,07. Danh sách điều tra bao gồm toàn bộ 205 bà mẹ dân tộc Xơ Đăng có con dưới 1 tuổi tại hai xã Ea Uy và Ea Yiêng từ ngày 14 tháng 4 năm 2018 đến ngày 14 tháng 4 năm 2019. Sau khi rà soát và loại bỏ 6 trường hợp không hợp lệ do vắng mặt hoặc từ chối, mẫu nghiên cứu chính thức đạt 199 đối tượng. Toàn bộ cuộc phỏng vấn định lượng được thực hiện trực tiếp tại hộ gia đình thông qua bộ câu hỏi cấu trúc thử nghiệm trước, do chính các cô đỡ thôn bản thành thạo tiếng địa phương thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ.

Về nghiên cứu định tính, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích để thực hiện 8 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan gồm trạm trưởng trạm y tế, cán bộ chuyên trách sản khoa, cô đỡ thôn bản, trưởng buôn; cùng với 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung trên 20 người bao gồm các bà mẹ sinh tại cơ sở y tế, bà mẹ sinh tại nhà và người thân trong gia đình. Dữ liệu định lượng được làm sạch, nhập bằng Epidata 3.1 và phân tích trên phần mềm SPSS 18 qua các thuật toán thống kê mô tả, kiểm định Chi-square và hồi quy đơn biến xác định tỷ số chênh Odds Ratio với khoảng tin cậy 95%. Dữ liệu định tính được gỡ băng ghi âm, mã hóa theo chủ đề để làm rõ các rào cản tập quán và hành vi văn hóa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu từ 199 đối tượng nghiên cứu đã làm nổi bật thực trạng phân bổ nơi sinh cùng sự khác biệt sâu sắc về mức độ tiếp cận dịch vụ y tế:

Tỷ lệ sinh con tại nhà của phụ nữ Xơ Đăng vẫn ở mức báo động khi chiếm tới 58,3% (116 trường hợp), trong khi tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế chỉ đạt 41,7% (83 trường hợp). Các biến số cá nhân và kinh tế ghi nhận: 94,0% bà mẹ làm nông nghiệp, 88,4% thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, 37,2% có trình độ tiểu học và 13,0% không biết chữ. Đáng chú ý, có tới 33,2% bà mẹ hoàn toàn không đi khám thai trong suốt thai kỳ và chỉ có 12,0% thực hiện đủ 4 lần khám thai định kỳ theo khuyến cáo.

Sự chênh lệch về chất lượng chăm sóc thiết yếu trong 24 giờ đầu sau sinh giữa hai nhóm địa điểm được thể hiện rõ nét qua các chỉ số can thiệp lâm sàng:

  • Đối với sản phụ: Tỷ lệ được tiêm oxytocin dự phòng băng huyết tại cơ sở y tế đạt 90,4%, trong khi tại nhà chỉ đạt 7,0%. Quy trình xoa đáy tử cung đạt 83,1% tại trạm y tế và bệnh viện, nhưng tại nhà là 0%. Tỷ lệ bà mẹ được uống bổ sung vitamin A liều cao đạt 74,7% tại cơ sở y tế so với vỏn vẹn 7,0% tại nhà.
  • Đối với trẻ sơ sinh: Trẻ sinh tại cơ sở y tế được tiếp xúc da kề da đạt 92,0% và bú mẹ sớm trong giờ đầu đạt 80,3%. Ngược lại, trẻ sinh tại nhà chỉ nhận được các can thiệp này với tỷ lệ tương ứng là 12,9% và 44,8%. Tỷ lệ trẻ được cân trọng lượng đạt 91,6% tại cơ sở y tế so với 8,6% tại nhà; tiêm vitamin K1 phòng xuất huyết não đạt 71,1% tại cơ sở y tế so với 6,9% tại nhà. Toàn bộ 100% trẻ sinh tại trạm y tế được chăm sóc rốn hở, trong khi 18,1% trẻ sinh tại nhà bị băng kín rốn và 9,5% trẻ bị đặt nằm một mình sau khi cắt rốn.

Phân tích các yếu tố nguy cơ cho thấy: Sản phụ sống cách cơ sở y tế trên 5 km có nguy cơ sinh con tại nhà cao gấp 6,1 lần so với người sống gần (OR = 6,1; p < 0,05). Phụ nữ tự quyết định nơi sinh có khả năng sinh tại nhà cao gấp 9,5 lần so với nhóm có sự tư vấn của gia đình hoặc cán bộ y tế (OR = 9,5; p < 0,05). Hộ nghèo và cận nghèo có nguy cơ sinh tại nhà cao gấp 2,1 lần nhóm có kinh tế trung bình (OR = 2,1; p < 0,05). Nhóm bà mẹ không đi khám thai và có từ 3 con trở lên cũng có tỷ lệ sinh tại nhà cao hơn rõ rệt có ý nghĩa thống kê.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả sự khác biệt giữa hai nhóm qua biểu đồ phân bố và bảng tổng hợp chỉ số, sự cách biệt về an toàn sinh sản giữa sinh tại trạm y tế và sinh tại nhà hiển hiện rõ ràng. Nguyên nhân cốt lõi khiến 58,3% sản phụ Xơ Đăng sinh tại nhà bắt nguồn từ sự đan xen giữa rào cản địa lý, gánh nặng tài chính và rào cản văn hóa truyền thống. Mặc dù 99,0% bà mẹ có thẻ bảo hiểm y tế, nhưng 78,9% phản ánh gặp rất nhiều khó khăn khi di chuyển đến bệnh viện huyện do đường sá gồ ghề, thiếu phương tiện vận chuyển và sợ phát sinh chi phí sinh hoạt ngoài y tế (56,4% nêu lý do sợ tốn kém).

Bên cạnh đó, tâm lý tự tin thái quá vào kinh nghiệm sinh nở tự nhiên chiếm tới 69,4% lý do sinh tại nhà, khiến các bà mẹ chủ quan không đến cơ sở y tế khi chuyển dạ nhanh. Tập tục nhờ mụ vườn đỡ đẻ (chiếm 75,0% ca sinh tại nhà) và tư thế quỳ, ngồi sinh trên sàn nhà (26,8%) phản ánh niềm tin cố hữu vào các phương pháp dân gian, bất chấp nguy cơ nhiễm trùng và ngạt sơ sinh. Tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh còn rất thấp ngay cả ở cơ sở y tế (49,4%) và hoàn toàn bằng 0% tại nhà là một khoảng trống dịch vụ nghiêm trọng cần được khắc phục khẩn cấp bằng các giải pháp dây chuyền lạnh lưu động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ, có tính hành động cao:

  1. Kiện toàn và nâng cao năng lực mạng lưới cô đỡ thôn bản: Trung tâm Y tế huyện Krông Pắc phối hợp cùng các Trạm Y tế xã Ea Uy, Ea Yiêng tổ chức tập huấn định kỳ 6 tháng một lần về quy trình chăm sóc thiết yếu sớm và kỹ năng đỡ đẻ sạch. Cung cấp 100% gói đỡ đẻ sạch chuyên dụng cho cô đỡ thôn bản và nhân viên y tế thôn buôn. Mục tiêu nâng tỷ lệ các cuộc sinh tại nhà ngoài ý muốn được hỗ trợ bởi người đỡ đẻ có kỹ năng lên trên 80% trong giai đoạn 2020-2022.

  2. Đổi mới chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi văn hóa: Trạm Y tế xã phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và các tổ chức đoàn thể huy động trực tiếp già làng, trưởng buôn tham gia tuyên truyền giáo dục sức khỏe. Biên soạn tài liệu truyền thông song ngữ Kinh - Xơ Đăng, tập trung tư vấn lợi ích của việc khám thai định kỳ ít nhất 4 lần và sự nguy hiểm của các tai biến sản khoa khi tự đỡ đẻ tại nhà. Phấn đấu tăng tỷ lệ khám thai đầy đủ lên trên 60% và giảm tỷ lệ sinh tại nhà xuống dưới 25% trước năm 2023.

  3. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và bổ sung trang thiết bị y tế cơ sở: Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk và Trung tâm Y tế huyện đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất, bảo đảm 100% trạm y tế xã có phòng sinh đạt chuẩn, duy trì dây chuyền lạnh bảo quản vắc xin viêm gan B sơ sinh và vitamin K1. Thiết lập quy chế chuyển tuyến cấp cứu sản khoa lưu động 24/7 nhằm hỗ trợ kịp thời các ca chuyển dạ khó ở vùng sâu. Mục tiêu nâng tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh trong 24 giờ đầu tại trạm y tế lên trên 90%.

  4. Thực thi chính sách hỗ trợ tài chính đặc thù cho đồng bào dân tộc thiểu số: Ủy ban nhân dân huyện Krông Pắc xây dựng quỹ hỗ trợ kinh phí vận chuyển, tiền ăn và chi phí sinh hoạt cho sản phụ nghèo người Xơ Đăng khi đến sinh con tại trạm y tế xã hoặc bệnh viện huyện. Thiết lập hệ thống giám sát tử vong mẹ và tử vong sơ sinh chặt chẽ tại cộng đồng để can thiệp kịp thời.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, là tài liệu tham khảo quan trọng cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách công: Cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học chính xác về hành vi sinh sản của đồng bào dân tộc thiểu số, hỗ trợ xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về sức khỏe bà mẹ - trẻ em và phân bổ nguồn lực y tế hợp lý cho vùng Tây Nguyên.
  • Bác sĩ sản nhi, nữ hộ sinh và nhân viên y tế tuyến cơ sở: Cung cấp hướng dẫn thực hành chi tiết về quy trình chăm sóc thiết yếu sớm trong điều kiện thực tế tại trạm y tế xã, đồng thời gợi ý các kỹ năng tiếp cận, tư vấn y tế phù hợp với văn hóa của người Xơ Đăng.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Y tế công cộng, Dịch tễ học, Xã hội học y tế: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng - định tính, kỹ thuật chọn mẫu toàn bộ trong cộng đồng thiểu số và cách thức xây dựng mô hình hồi quy phân tích yếu tố ảnh hưởng.
  • Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia phát triển cộng đồng: Cung cấp bức tranh thực tế về các rào cản giới, kinh tế và tập tục địa phương, giúp thiết kế các dự án can thiệp can thiệp y tế cộng đồng đạt hiệu quả bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tỷ lệ sinh con tại nhà của phụ nữ Xơ Đăng tại Krông Pắc vẫn ở mức rất cao (58,3%)?

Thực trạng này xuất phát từ sự kết hợp của nhiều yếu tố: 69,4% bà mẹ cho rằng việc sinh đẻ ở nhà diễn ra thuận lợi theo thói quen truyền thống; 56,4% e ngại chi phí ăn ở phát sinh; 78,9% gặp khó khăn về đường sá khi đến bệnh viện huyện; cùng với tâm lý e ngại tiếp xúc cán bộ y tế (30,2%).

2. Sự khác biệt lớn nhất trong chăm sóc sơ sinh giữa sinh tại cơ sở y tế và sinh tại nhà là gì?

Trẻ sinh tại cơ sở y tế được hưởng các can thiệp chuẩn mực như da kề da (92,0%), bú mẹ sớm (80,3%), tiêm vitamin K1 (71,1%) và chăm sóc rốn hở (100%). Ngược lại, trẻ sinh tại nhà hầu như bị bỏ sót các can thiệp này, thậm chí 18,1% bị băng kín rốn và 75,0% do mụ vườn đỡ đẻ không đảm bảo vô khuẩn.

3. Yếu tố nào có tác động mạnh nhất đến quyết định lựa chọn nơi sinh của sản phụ?

Phân tích thống kê khẳng định quyền tự quyết định nơi sinh của người mẹ có tác động mạnh nhất: người tự quyết định có nguy cơ sinh tại nhà cao gấp 9,5 lần so với người có sự định hướng từ y tế. Kế tiếp là yếu tố khoảng cách địa lý trên 5 km (tăng nguy cơ gấp 6,1 lần) và điều kiện kinh tế nghèo, cận nghèo (tăng nguy cơ gấp 2,1 lần).

4. Vai trò của cô đỡ thôn bản trong việc giảm thiểu tai biến sản khoa tại buôn làng như thế nào?

Cô đỡ thôn bản đóng vai trò là cầu nối văn hóa và y tế quan trọng nhất. Họ thông thạo tiếng nói, nắm rõ tập quán địa phương để vận động bà mẹ đi khám thai, trực tiếp hỗ trợ các ca đẻ rơi ngoài ý muốn bằng kỹ thuật đỡ sạch và sơ cứu chuyển tuyến kịp thời khi phát hiện dấu hiệu nguy hiểm.

5. Tại sao tỷ lệ tiêm phòng vắc xin viêm gan B trong 24 giờ đầu cho trẻ sơ sinh tại địa phương lại đạt rất thấp?

Tỷ lệ này chỉ đạt 49,4% tại cơ sở y tế và 0% tại nhà do trẻ sinh tại nhà không được tiếp cận y tế kịp thời, trong khi các trạm y tế xã vùng sâu còn gặp nhiều khó khăn về thiết bị bảo quản dây chuyền lạnh và nhân lực chuyên trách tiêm chủng tại chỗ trong ngày nghỉ, ngày lễ.

Kết luận

  • Tỷ lệ sinh con tại nhà của phụ nữ dân tộc Xơ Đăng tại huyện Krông Pắc năm 2019 vẫn chiếm tỷ trọng lớn với 58,3%, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa an toàn tính mạng của bà mẹ và trẻ sơ sinh.
  • Chăm sóc thiết yếu trong 24 giờ đầu tại cơ sở y tế đạt tỷ lệ cao với tiêm oxytocin (90,4%), tiếp xúc da kề da (92,0%), bú mẹ sớm (80,3%), vượt trội hoàn toàn so với các ca sinh tại nhà.
  • Các hủ tục sản khoa tại nhà vẫn còn phổ biến như 75,0% do mụ vườn đỡ, 26,8% quỳ sinh trên sàn gỗ, 18,1% băng kín rốn và hầu như không có trẻ nào được tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh.
  • Ba yếu tố nguy cơ hàng đầu thúc đẩy sinh con tại nhà là sản phụ tự quyết định nơi sinh (OR = 9,5), khoảng cách địa lý xa trên 5 km (OR = 6,1) và hoàn cảnh kinh tế nghèo khó (OR = 2,1).
  • Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống bằng chứng khoa học toàn diện, thúc đẩy ngành y tế địa phương triển khai ngay các gói can thiệp đào tạo cô đỡ thôn bản và hỗ trợ chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn tiếp theo.