Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chung về suy dinh dưỡng 1. Dùnh dưỡng Dinh dưỡng là tình trạng cơ thê được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội[38]. Tình trang dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hoá sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tổ như: tinh trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ. Tình trạng dinh dưỡng của các cá thê là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn trẻ ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thé hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh đưỡng[30], [16]. Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng.
Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi. Đây là tình trạng bệnh lý mà nguyên nhân chính do chế độ ăn của trẻ thiếu chất đạm (protein) và năng lượng, cũng như các vi chất đinh đưỡng. Trẻ bị suy đỉnh dưỡng nếu không can thiệp sẽ có nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và tỉnh thần vận động, làm trẻ dễ mắc bệnh do khả năng miễn dịch kém [24]. Phân loại suy dinh dưỡng - Về lâm sàng chia ra làm 3 thé: Thể nhẹ cân: Nhẹ cân chỉ là một đặc tính của thiếu dinh dưỡng nhưng không cho biết đặc điểm cụ thê đó là loại SDD vừa mới xảy ra hay đã tích lũy từ lâu.
Tuy nhiên theo đối cân nặng là việc tương đối dễ thực hiện ở cộng đồng hơn cả do đó tỷ lệ thiếu cân nặng theo tuôi vẫn được thông dụng như là tỷ lệ chung của SDD. 5 Thể thấp còi: Chiều cao theo tuôi thấp phản ánh sự chậm tăng trưởng do điều kiện sức khỏe và dinh dưỡng không hợp lý. Đây là một tiêu chí tốt để đánh giá sự cải thiện xã hội. Thé gay com: Cân nặng theo chiều cao thấp thường phản ánh một tình trạng thiếu ăn gần đây cũng có thể xa hơn.
Thường thường tỷ lệ này là cao nhất ở lứa tuổi 2 tudi[28]. -Về hình thái suy dinh duéng Suy dinh dưỡng thể teo đét (thể Marasmus, thể xác ướp): Đây là hậu quả của chế dộ ăn thiếu năng lượng và protein, hoặc đo cai sữa quá sớm, hoặc cho trẻ ăn bổ sung không hợp lý. Suy dinh dưỡng thể phù (Thể Kwashiorkor): Ít gặp hơn thương là do chế độ ăn quá nghèo protit nhưng tạm đủ các chat gluxit. Thể Marasmus - Kwashiorkor (Thể phối hợp hay trung gian): Phối hợp cả hai bệnh cảnh kể trên.
Trẻ thường biêu hiện gầy đét nhưng có phù[28]. Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và cách phòng chống suy dinh dưỡng 1. Thực trạng suy dinh dưỡng trên thế giới Theo báo cáo thường niên của WHO, UNICEF, WB. Năm 2015 tỷ lệ SDD trẻ em trên thế giới và tại các khu vực vẫn còn cao: Thế giới: SDD thấp còi (23,2% - 154 triệu), nhẹ cân (14% - 92.
Các tỷ lệ này tại các khu vực như: Châu Phi (33,4% và 16,2%), Châu Á (22,7% và 16,7%), Châu Mỹ La tỉnh và Caribê (11,6% và 2,9%). Các nước đang phát triển (25% và 13,5%), các nước phát triển (7,3% và 2,5%)[48]. Thống kê của WHO (2010) cho thấy khắc phục suy dinh dưỡng chiếm 11% tổng chỉ phí chăm sóc y tế toàn thế giới (tại các nước đang phát triển khoảng 55 triệu USD/năm). Ngoài ra, SDD còn ảnh hưởng lâu đài sức khỏe, khả năng kháng khuẩn, kết quả giáo dục, nòi giống con người.
Các yếu tố nguy cơ về dinh đưỡng như bú sữa mẹ không hợp lý, thiếu Vitamin và khoáng chất có liên quan đến 3,9 triệu ca tử vong (35% tông số ca tử vong) và 144 triệu ca khuyết tật ở trẻ em dưới 5 tuổi[46]. Theo nghiên cứu của Hatlekk M tại khu vực Nam Á năm 2012 tỷ lệ trẻ em SDD thấp còi khác nhau giữa các dân tộc: Dân tộc Bà La Môn (Brahmin) 45,1%, HIII Dalits 56,1%, Yadav 70,7%, Newar 72,3% và Hồi giáo (Muslim) 72,8% [42]. Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em tại Việt Nam Hiện nay có khoảng 90% trẻ bị suy đỉnh dưỡng thấp còi trên thế giới tập trung ở 36 nước trong đó có Việt Nam[2]. Trong suốt thập kỷ qua tỷ lệ trẻ em bị SDD ở Việt Nam đã giảm một cách đáng kể.
Giai đoạn 1999 - 2015 tỷ lệ SDD nhẹ cân giảm trung bình 1,5%/ năm (36,7% so với 14,1%), SDD thê thấp còi giảm trung bình 1,1%/ năm (38,7% so với 24,6%){8]. Diễn biến Suy định đưỡng trở øn đưưới 5 tuổi trên toàn quốc: (2008 - 2015) 2008 2009 200 zon 200 Biểu đồ 1. S6 liéu thong ké vé tinh trang dinh dưỡng trẻ em qua các năm. Nguôn: Viện dinh dưỡng [8].
Trong 16 năm qua trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,4% với tốc độ này được quốc tế công nhận là giảm nhanh. Nhưng tỷ lệ SDD vẫn còn cao giảm không đồng đều giữa các vùng sinh thái khu vực vùng cao, miền núi như năm 2015 vùng Trung du và miền núi phía Bắc tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 19,5%, Tây Nguyên 21,6% so với Đông Nam Bộ thì chỉ có 9.5 30 20 10 0 - - Đồng bằng Trung du và Bắc Trung bộ Tây nguyên Đôngnam Đồng bằng sônghồng miềnnúi và duyên hải bộ sông cửu phíaBắc miềntrung long # SDD nhẹ cân Biểu đồ 1. Tỷ lệ SDDTE theo các vùng sinh thái năm 2015 Nguôn: Viện dinh dưỡng [8]. 7 Tỷ lệ SDD trẻ em có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái, cao nhất vẫn tập trung ở những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, miền núi, vùng sâu vùng xa đặt biệt nơi có đồng bào dân tộc thiêu số.
Năm 2015 ở Tây Nguyên, tỷ lệ SDD trẻ em cao nhất là 3 tỉnh Kon Tum (SDD cân nặng/tuổi là 23,7%, chiều cao/tuổi 39,3%), Gia Lai (SDD cân nặng/tuổi là 24,1%, chiều cao/tuổi 35,3%) và Đắk Lắk (SDD cân nặng/tuôi là 21,2%, chiều cao/tuôi 32,4%)[8]. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em khu vực Tây nguyên năm 2015 Thể nhẹ cân Thể thấp còi Thể gầy Tây n (cân/tuổi) (cao/tuổi) còm Nguyên Chung | Đội |Độl |ĐộlI | Chung | Đội | ĐộIT | (cân/cao) 7597 | 21.5 Nguồn: Viện dinh dưỡng [S]. Theo báo cáo năm 2011 của UNICEF cho thấy tỷ lệ trẻ SDD nhẹ cân, SDD thấp còi, SDD gầy còm ở nhóm đồng bào người Kinh và người Hoa tương ứng là 10,0%, 19,6%, 3,8%, thấp hơn so với trẻ em DTTS (22,0%, 40,9%, 5,7%)[43]. Các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho thấy rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng các vùng miền khác nhau.
Ở trẻ em người dân tộc thiểu số cao hơn trẻ em người kinh[40]. Nguyễn Thị Thùy, Viên Chinh Chiến, Đặng Oanh năm 2012 ở trẻ em dưới 5 tuổi khu vực Tây Nguyên cũng cao tương ứng ở 3 thể: nhẹ cân 39,2%; thấp còi 48,7% và gầy còm 10,7%, tỷ lệ thấp cdi ting dan theo nhóm tuôi[22]. Tình trạng suy dinh dưỡng được các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng đa số tỷ lệ suy dinh dưỡng nằm trong vùng núi, khó khăn và kèm theo đó kinh tế hộ gia đình nghèo, dân tộc thiểu SỐ, trình độ học vấn thấp. Nghiên cứu của Đoàn Thị Ánh Tuyết năm 2011 cũng cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ đưới 2 tuổi DTTS tại 2 huyện miền núi Hướng Hóa, Dakrông tỉnh Quảng Trị rất cao ở cả 3 thể: nhẹ cân 36,2%, thấp còi 46,5% và gầy com 10,5%[35].
8 Nghiên cứu của tác giả Phan Công Danh ở trẻ 0 đến 24 tháng tuổi dân tộc Raglai tai huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa năm 2016”. Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân 39,3%; thấp còi 47,3% và gầy còm 18,3% [5]. Điều này cho thấy tình trạng SDD trẻ em tại vùng miễn núi, vùng có đồng bào DTTS sinh sống hiện nay vẫn còn khá cao. Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em tại Đắk Lắk Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, trong những năm qua được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, đầu tư của Nhà nước, công tác chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em được cải thiện đáng kẻ.
Tuy nhiên, thông qua việc phân tích các chỉ số cho thấy tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em của tỉnh vẫn còn nhiều vẫn đề tồn tại cần tiếp tục khắc phục, cải thiện đặc biệt đối với các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, đối tượng phụ nữ trẻ em bị thiệt thòi. Suy dinh dưỡng ở trẻ em đưới 5 tuổi giảm nhanh nhưng còn ở mức cao và có dấu hiệu giảm chậm lại. Tiếp tục thực hiện Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng Ngày 22/2/2012 Thủ tướng Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định số 226/QĐ-Ttg phê duyệt Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 va tầm nhìn năm 2030 là cải thiện tình trạng dinh dưỡng, đảm bảo cân đối, hợp lý là yếu tố quan trọng nhằm hướng tới phát triển toàn diện về tầm vóc, thể chất, trí tuệ và nâng cao chất lượng cuộc sống. ưu tiên vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiêu số, đối tượng bà mẹ, trẻ em{ 17].
Công tác phòng chống suy dinh dưỡng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Ty lệ suy dinh đưỡng dưới 5 tuổi ở thể nhẹ cân giảm từ 51,1% vào năm 1999 đến năm 2015 là 21,2%, suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm từ 36,9% vào năm 2010 xuống còn 32,4% năm 2015. Tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm nhưng trong những năm gần đây giảm chậm (0,4- 0,6%/năm) và còn ở mức cao chênh lệch so với tỷ lệ chung của cả nước (14,1%, 2015), Ty lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở mức rất cao xếp thứ 5, tỷ lệ suy đỉnh dưỡng thể thấp còi xếp thứ 7 trong 63 tỉnh thành (xếp từ cao đến thấp). Bằng chứng cho thấy sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ, lợi ích kinh tế và giúp trẻ khỏe mạnh, phòng ngừa một số bệnh tật ở trẻ nhỏ.
Qua báo cáo năm 2015 ghi nhận có 72,2% trẻ sơ sinh được bú mẹ trong giờ đầu sau sinh, 46,5% trẻ bú mẹ hoản toàn trong 6 tháng đầu đời. Tuy nhiên đề đánh giá cần có nghiên cứu thêm [17].