Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Chính sách việc làm 1. Khái niệm việc làm Hiện nay có nhiều quan niệm về việc làm khác nhau tùy theo các góc độ tiếp cận: Theo quan điểm của Mac: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó [3]. Các nhà kinh tế học Anh cho rằng: “Việc làm, theo nghĩa rộng, là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ, của quá trình kinh tế.
Các nhà kinh tế học của Liên Xô lại cho rằng: “ Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hóa sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông trang viên” Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: thì việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuân hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Việc làm gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể là một tuần hoặc một ngày, làm việc được trả lương hay tự trả lương cho mình (ILO (1988), Current International Recommendations on Labour Statistics, 1988 Edition, ILO, Geneva, p. 47) 11 ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)… Tại Việt Nam, Điều 13 Bộ luật lao động 2012 quy định “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Luật Việc làm năm 2013 thì khái niệm việc làm được quy định cụ thể như sau: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm.
Luật Việc làm 2013 còn quy định việc làm công là việc làm tạm thời có trả công được tạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) Như vậy, việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức: Thứ nhất, làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. Thứ hai, làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. Thứ ba, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý.
Tuỳ theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc ta có việc làm chính và việc làm phụ. 12 - Việc làm chính: là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất hay có thu nhập cao nhất. - Việc làm phụ: là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.
Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm bán thời gian, việc làm đâỳ đủ, việc làm có hiệu quả,. Việc làm là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội cơ bản nhất của mọi quốc gia, là một trong những nhân tố cơ bản góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Đối với cá nhân người lao động, việc làm tạo ra thu nhập giúp nuôi sống bản thân mình gia đình và đóng góp một phần cho xã hội.
Việc làm sẽ giúp người lao động có cơ hội cải thiện điều kiện sống, thực hiện mục tiêu an cư lạc nghiệp, quá đó giúp thoã mãn quyền được sống và phát triển của con người. Về mặt kinh tế, việc làm góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, qua đó sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế. Về mặt xã hội, nhà nước tạo điều kiện để người lao động có việc làm ổn định giúp phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, giữ vững được kỉ cương, nề nếp xã hội. Khái niệm chính sách việc làm Ngày nay, thuật ngữ chính sách, chính sách công được sử dụng rất phổ biến và có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách, chính sách công.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Theo Vũ Cao Đàm thì chính sách là một tập hợp 13 biện pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. Có thể nêu ra một số quan niệm của các học giả trên thế giới về chính sách công như sau: Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971). Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978).
Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas R. Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B. Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N. Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L.
Cochran and Eloise F. Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B. 14 Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E. Cochran, et al, 1999).
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003). Ở Việt Nam, TS.Đặng Ngọc Lợi trong bài viết “Chính sách công ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn” đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo (số tháng 1 năm 2012) tuy không đưa ra định nghĩa về chính sách công nhưng cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước. TS Lê Chi Mai, chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau [14]. Tạ Ngọc Hải chính sách công có các thuộc tính căn bản như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn, tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định.
Đây là nhận thức bước đầu về chính sách công theo hướng tiếp cận của khoa học tổ chức nhà nước [7]. Hiểu theo nghĩa chung nhất, chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do chủ thể quản lý nhà nước ban hành, bao gồm 15 các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng [16]. Chính sách công có là một trong những công cụ quản lý của nhà nước, giúp định hướng mục tiêu và giải pháp hành động cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội. Chính sách công có vai trò to lớn trong việc khuyến khích và hỗ trợ đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi cho các chủ thể trong xã hội.
Bên cạnh đó Nhà nước cũng sử dụng chính sách công để điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội. Đồng thời chính sách công có vai trò hiệu chỉnh những thất bại của thị trường như chống độc quyền, hạn chế ngoại ứng tiêu cực, hàng hóa công cộng và bất đối xứng thông tin. Chính sách việc làm là chính sách xã hội được thể chế hoá bằng luật pháp của nhà nước, gồm một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Chính sách việc làm nhằm giải quyết thoả đáng nhu cầu việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm; góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội.