CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1.Thanh niên và đặc điểm của thanh niên • Khái niệm về thanh niên Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra định nghĩa khác nhau về thanh niên: Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là nhóm tuổi từ 15 đến 24 tuổi (Theo chương trình sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục vị thành niên – thanh niên của khối Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA), chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác. Nhưng trong công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới tuổi 18 tuổi.
Ở Việt Nam, có một thời gian khá dài, tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (từ 15 – 28 tuổi). Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thanh niên, trong đó Bộ luật đã khẳng địng “Thanh niên là công dân Việt Nam đủ từ 16 đến 30 tuổi” [20,tr. Tóm lại, hiện nay thanh niên Việt Nam là những người đủ từ 16 tuổi đến 30 tuổi, vì đây là giai đoạn thanh niên hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, đạo đức, và cũng trong giai đoạn này thanh niên đã đủ chín chắn để gánh vác việc nước và việc nhà, là công dân có trách nhiệm đối với những hành động của chính mình. Thanh niên được xem là lực lượng xung kích trong tất cả mặt trận bảo vệ và phát triển đất nước vì tính năng nổ của lứa tuổi này.
Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên. • Đặc điểm của thanh niên 7 Trân trọng và phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, yêu nước, quan tâm đến tình hình đất nước, thực tế, thiết thực trong suy nghĩ, hoạt động và ứng xử hàng ngày, năng động, sáng tạo, luôn hướng tới cái mới, cái khác biệt, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu thành tựu văn minh và tinh hoa văn hóa từ bên ngoài, có khát vọng, lạc quan, có tính tích cực chính trị - xã hội cao và có bản lĩnh chính trị khá vững vàng 1. Dân tộc thiểu số và đặc điểm của dân tộc thiểu số • Dân tộc thiểu số: Là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việt Nam hiện có 54 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm 81,8%, 53 dân tộc còn lại thuộc nhóm các dân tộc thiểu số và dân tộc thiểu số ít người.
• Đặc điểm dân tộc thiểu số Về đặc điểm dân cư, Việt Nam là một quốc gia đa thành phần dân tộc, trong 54 dân tộc, có tới 53 DTTS. Các thành phần DTTS có số dân gần 11 triệu người, chiếm hơn 13% dân số cả nước. Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ với nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết và bản sắc đa dạng và phong phú về văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Các DTTS Việt Nam có tỷ lệ số dân không đồng đều: 05 dân tộc có số dân trên 1 triệu người (Mường, Nùng, Tày, Thái, H’ Mông, Khơ me); 12 dân tộc có số dân từ 10 vạn người trở lên, 20 dân tộc có số dân từ 1 vạn đến dưới 10 vạn người; 11 dân tộc có số dân từ 1.000 người đến dưới 10.000 người; 05 dân tộc có số dân dưới 1.
Về đặc điểm lãnh thổ địa lý, các thành phần DTTS cư trú phân tán, ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong 1 đơn vị hành chính, có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống. Địa bàn có đông DTTS cư trú là vùng miền núi, biên giới, với diện tích tự nhiên chiếm 2/3 diện tích cả nước; đây là vùng có vị trí địa lý, kinh tế và quốc phòng quan trọng. Vùng Tây Bắc, tỷ lệ DTTS chiếm 79,2% dân số vùng và chiếm 16,8% dân số DTTS của cả nước 8 Vùng Đông Bắc, tỷ lệ DTTS chiếm 41,3% dân số toàn vùng và 34,6% dân số DTTS của cả nước.
Vùng Bắc Trung bộ, tỷ lệ dân số DTTS chiếm 10,6% dân số vùng và 10% dân số DTTS của cả nước. Vùng Tây Nguyên, tỷ lệ dân số DTTS chiếm trên 33% dân số của vùng và khoảng 13% dân số DTTS của cả nước. Nhiều DTTS chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông. • Đặc điểm kinh tế xã hội, các DTTS có trình độ dân trí, trình độ phát triển KT - XH không đều nhau.
Các DTTS ở vùng đồng bằng Nam Bộ với địa hình đất đai khá màu mỡ, khí hậu, thời tiết ổn định, canh tác thuận lợi, đời sống kinh tế xã hội phát triển, ổn định hơn các vùng khác. Vùng Tây Bắc, Đông Bắc, miền Trung, với địa hình chia cắt, phức tạp, đất đai khô cằn, nhiều đồi dốc, núi đá, khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai, canh tác rất khó khăn, đời sống các dân tộc thiểu số khó khăn hơn, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn, kinh tế chậm phát triển hơn. Các DTTS có những sinh hoạt, di sản văn hoá đa dạng, bản sắc riêng, trong đó có những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể rất độc đáo, mang tầm quốc gia, quốc tế. Tuy vậy, trong sinh hoạt, vẫn còn những ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu.
Thanh niên dân tộc thiểu số và đặc điểm của thanh niên dân tộc thiểu số • Khái niệm thanh niên dân tộc thiểu số Như trên đã định nghĩa về thanh niên nói chung: Thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội; có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc. Từ đó, chúng ta có thể hiểu: Thanh niên DTTS là một nhóm người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động của cộng đồng các DTTS, 9 lao động hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển của địa phương cùng với sự phát triển của đất nước. • Đặc điểm thanh niên dân tộc thiểu số Ngoài nững đặc điểm chung của thanh niên Việt Nam, thanh niên DTTS có những đặc điểm riêng bắt nguồn từ phong tục, tập quán, môi trường sống. Đó là khỏe mạnh, trung thực, thẳng thắn, tính cộng đồng rất cao nhưng họ lại có tư tưởng dòng họ lớn nhỏ, không muốn làm việc xa gia đình “ly nông chứ không ly hương”, chịu nhiều ảnh hưởng bởi luật tục, tập quán, nhất là ảnh hưởng bởi chế độ mẫu hệ, tục nối dây.
Cồng, chiêng và rượu cần là một nét văn hóa đặc trưng của họ, có tính trung thực, thẳng thắn nhưng có tính tự ái cao. Họ có trí nhớ hình ảnh và thao tác tốt, thích làm việc thực tế, có kết quả ngay, sống hết mình với Tổ quốc nhưng cũng rất nhạy cảm với tình hình chính trị trong và ngoài nước.Thích tự do, không muốn gò bó trong khuôn khổ kỷ luật, chưa phù hợp với tác phong công nghiệp, ham thích cái mới nhưng ít kiên trì và cẩn thận. Thích mua sắm phương tiện nhưng ít chú ý đến chất lượng và hiệu quả. Khả năng giao tiếp kinh doanh, cạnh tranh và tổ chức sản xuất còn yếu.Tính cục bộ địa phương sản sinh từ quan hệ cộng đồng buôn làng cũ vẫn còn in đậm trong nhiều người.
Khả năng ngôn ngữ và tư duy có hạn nên họ rất quý mến những người hiểu và biết tiếng họ. Đào tạo nghề • Khái niệm nghề ở một số nước trên thế giới và Việt Nam Để hiểu được bản chất của đào tạo nghề, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là nghề. Khái niệm này ở một số nước khác nhau có nhiều các định nghĩa khác nhau: Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa, là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn. Khái niệm nghề ở Pháp, là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống.
Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa, là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học học nghệ thuật. 10 Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa, là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó. Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau • Khái niệm Nghề ở Việt Nam Theo “Sổ tay Tư vấn Hướng Nghiệp và chọn nghề”: Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau [16,tr.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người. Nghề có một số nét đặc trưng nhất định sau: Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại; là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội; là phương tiện để sinh sống; là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động của khoa học kỹ thuật (KHKT) và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển KT- XH của mỗi quốc gia nói riêng.