Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm 10 Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang II CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE GIẢI QUYÉT VIỆC LAM 1. Nguồn lao động và lực lượng lao động ở đô thị 1. Nguôn lao động Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tudi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quôc dân.
Việc quy định cụ thé lao động là khác nhau giữa các nước, thậm chí khác nhau ở giai đoạn của mỗi nước. Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật Lao động, độ tuôi lao động ở Việt Nam thông thường (nếu tính đến đến tuổi nghỉ hưu) tính đến năm 2035 sẽ là từ 15 tuổi đến 62 tuổi đối với nam và từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nữ, những trường hợp sử dụng người lao động dưới độ tuổi lao động hoặc những đối tượng đã quá tuôi lao động phải tuân theo các quy định về công việc theo Bộ luật Lao động. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn lao động biéu hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng nguồn lao động.
Các chỉ tiêu về số lượng nguồn lao động này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô và tốc độ tăng dân số càng cao thì quy mô và tốc độ tăng nguồn lao đông càng lớn. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa dân số và nguồn lao động biéu hiện sau một khoảng thời gian 15 năm (vì đến lúc đó con người mới bước vào độ tuổi lao động). Điều đó giải thích cho việc tốc độ tăng dân số cao hiện nay gây sức ép về lao động và việc làm cho nền kinh tế trong tương lai.
Chất lượng nguôn lao động là trang thái nhất định của nguồn lao động thé hiện mối quan hệ giữa các yếu tô cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn lao động. Chất lượng nguồn lao động không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn lao động cao sẽ tạo động lực mạnh mẽ với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển, mà còn thé hiện mức độ văn minh của một xã hội. Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghé, (trí lực) và sức khỏe (thé lực) của người lao động. Lực lượng lao động Trong kinh tế học, lực lượng lao động là số người có thé sử dụng trong nền kinh tế với tư cách là nhân tố lao động.
Quy mô, chất lượng và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cùng với tư bản quyết định khả năng cung ứng hàng hóa và dịch vụ của một nước. Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuôi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. Ở nước ta hiện nay, lực lượng lao động được xác định là bộ phận dân số đủ 15 tudi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế và nó phản ánh khả năng thực tê vê cung ứng lao động của xã hội.
Có một số chỉ tiêu được dùng dé do lực lượng lao động (mức độ tham gia hoạt động kinh tế) như sau: Thứ nhất, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thô (tỷ lệ hoạt động thô). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thô (tỷ lệ hoạt động thô) là chỉ tiêu tương đối, biểu hiện bằng số phần trăm những người hoạt động kinh tế (lực lượng lao động) chiếm trong tổng dân số, tỷ lệ này bị ảnh hưởng mạnh bởi cấu trúc tuổi của dan sé. Thứ hai, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung (tỷ lệ hoạt động chung). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung (tỷ lệ hoạt động chung) là trường hợp đặc biệt của “Ty lệ tham gia lực lượng lao động thô” khi chỉ tính những người trong độ tudi có khả năng lao động.
Ví dụ, Luật Lao động quy định giới hạn tuôi tối thiểu là 15 tuổi, thì cả mẫu số và tử số của tỷ lệ trên được giới hạn bởi dân số từ 15 tuổi trở lên. Ở các nước khác nhau, độ tuổi lao động tối thiểu sẽ là khác nhau. Thứ ba, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (tỷ lệ hoạt động trong độ tuổi lao động). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (tỷ lệ hoạt động trong độ tuôi lao động) là số phan trăm những người trong độ tuổi lao động tham gia lao động chiếm trong tổng dân số trong độ tuổi lao động.
Luật Lao động hiện hành của Việt Nam quy định "tuôi lao động" bao gồm các độ tuổi từ 15 đến hết 62 tuổi đối với nam và từ 15 đến hết 60 tuổi đối với nữ (theo khái niệm "tudi tròn"). Sô còn lại là "ngoài tuôi lao động”. 13 Thứ tư, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (tỷ lệ hoạt động kinh tế) đặc trưng theo giới tính. Cả ba số đo về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế (tỷ lệ hoạt động thô, tỷ lệ hoạt động chung và tỷ lệ hoạt động trong độ tuôi lao động) thường tính tách riêng cho nam và nữ.
Khi đó, các tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (tỷ lệ hoạt động kinh tế) đặc trưng theo giới tính. Thứ năm, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo tuổi (tỷ lệ hoạt động kinh tế đặc trưng theo tuổi). Ty lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo tuổi (tỷ lệ hoạt động kinh tế đặc trưng theo tuổi) là tỷ lệ hoạt động tính cho một độ/nhóm tuổi xác định. Việc làm ở đô thị 1.
Khái niệm Xét về mặt xã hội, mọi người có sức lao động đều có quyền có việc làm. Đó là một trong những quyền cơ bản nhất của con người đã được khăng định trong hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam. Nhưng trên thực tế đảm bảo quyền có việc làm cho người lao động là vấn đề thách thức, là bài toán phức tạp và đầy khó khăn không những ở nước ta mà còn ở tất cả các nước trên thế giới trong điều kiện hiện nay. Vì vậy vấn đề việc làm được nhắc đến rất nhiều, nhưng trong mỗi thời gian và không gian khác nhau thì khái niệm về việc làm lại có những thay đổi nhất định.
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp người lao động được coi là có việc làm là những người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, ngoài ra không có sự thừa nhận các hoạt động ở lĩnh vực khác. Trong cơ chế đó Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động do đó chứ có khái niệm về thiếu việc làm hay việc làm không đầy đủ. Ngày nay trong nén kinh tế hàng hóa nhiều thành phan thì quan niệm về việc làm có sự thay đổi về căn bản. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động được trả công băng tiền hoặc hiện vật.
Theo điều 33 của Bộ luật lao động Việt Nam: Khái niệm việc làm là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cam và đem lại thu nhập cho người lao động. Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm 14 đối với mọi người. Theo đại hội Đảng lần thứ VII: “Mọi việc mang lại thu nhập cho người lao động có ích cho xã hội đều được tôn trọng”. Theo khái niệm này, việc làm được thê hiện dưới các dạng sau: Thứ nhất, làm những công việc mà người lao động khi thực hiện nhận được tiên lương, tiên công băng tiên mặt hoặc băng hiện vật cho công việc đó.
Thứ hai, làm những công việc khi người lao động thực hiện thu lợi nhuận cho bản thân ( người lao động có quyền sử dụng quản lý hoặc sở hữu tư liệu sản xuất và sức lao động cho bản thân dé sản xuất sản phẩm). Thứ ba, làm những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó ( do chủ gia đình làm chủ sản xuất). Theo quan niệm của thế giới về việc làm thì: người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khi vận dụng vào điều kiện và hoàn cảnh của nước ta thì khái niệm về việc làm có sự thay đổi và được nhiều người đồng tình đó là: Người có việc làm là người làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cắm, đem lại thu nhập đề nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp một phần cho xã hội.
Với các khái niệm việc làm trên thì nội dung của việc làm đã được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiêm năng lao động, giải quyêt việc làm cho nhiêu người cụ thê. Phân loại việc làm Giải quyết việc làm là nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra việc làm để thu hút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế. Giải quyết việc làm không chỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất lượng việc làm. Đây là van dé còn ít được chú ý khi đề cập đến van đề giải quyết việc làm, người ta chỉ quan tâm đên khía cạnh thứ hai của nó là vân dé tạo ra việc làm.