Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE TẠO VIỆC LAM CHO LAO DONG NÔNG THÔN TRONG BOI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA. Những vấn đề cơ bản về việc làm và tạo việc làm. Việc lam, tạo việc lam 1. Việc làm 'Việc làm là vấn dé được nghiên cứu và dé cập dưới nhiều khía cạnh.
Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhỉ nhận một cách khoa học, iy đủ và đúng đắn hơn. Té chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm: *Ngưởi có việc làm là những người làm một việc gi đó, có được trả tiển công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiên công hay hiện vật”. 6 Việt Nam, quan niệm về việc m được quy định trong Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2012. Tại Điều 9, Chương II chỉ rõ: *Việc lâm là hoại động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cắm ”.
Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động. lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động nảy không bị pháp luật cấm”. Nội dung của việc làm rất mở rộng và cho thấy khả năng to lớn dé giải phóng tiém năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người. NLD được tự do hành nghề, tự do liên doanh, kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mướn.
lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu. Đồng thời qua đây cho thấy, việc làm là một phạm tr lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc vào yếu tổ kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phương hay doanh nghiệp. Tạo việc lam Theo PGS.TS Trin Xuân (2013), giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để NLD có thé kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và địch vu theo yêu u thị trường” “Tao việc Kim là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc dé có các việc lâm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dung lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước” “Tao việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào Lim việc 448 tạo ra trạng thái phủ hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hing hóa va dich vụ theo yêu cầu của thị trường”.
Cé thể hiểu tạo việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được việc lầm; tạo thêm việc làm cho những NLD đang thiểu việc làm và giúp NLD tự tạo việc làm. Cơ chế tạo việc làm là cơ chế ba bên gồm có: Về phía NLD: NLD muốn tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện va đầu tư phát triển sức lao động, phải tự minh hoặc dựa vào các nguồn tai trợ tir gia đình, từ các tô chức xã hội. đảo tạo, phát triển, nắm vừng một nghé nghiệp nhất định. Vé phía người sử dung lao động: Người sử dụng lao động bao gồm các.
doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tô chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường. đầu vào và đầu ra, cần có vốn để mua nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất ra sản phẩm hoặc địch vụ. Ngoài ra người sử dụng lao động cẩn có kinh nghiệp, sự quản lý khoa học và nghệ thuật, sự hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụng linh hoạt, mở rộng sản xuất, nâng cao sự thỏa mãn của NLD, khơi dậy động lực. việc, khong chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc, Về phía Nhà nước: Ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến NLĐ và người sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp.
lao động với tư liệu sản xuất. Giải quyết việc lam Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc lim và tăng được thu nhập, phủ hợp với lợi ich của bản than, gia đỉnh, cộng đồng và xã hội. Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có. Chính vì vậy, giải quyết việc làm phủ hợp có ý nghĩa hết sức quan.
trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và. nghĩa vụ của mình. Trong đó, có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước. Giải quyết việc làm có thé được hiều ở một số khía cạnh sau đây: “Thứ nhất, tạo ra số lượng va chất lượng tư liệu sản xuất.
Số lượng va chất lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn dau tư, tiến bộ khoa học - ky thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó, “Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động. Số lượng lao động. phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự di chuyển của lao động, chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phat triển của giáo dục dao tạo, y tế, thể dục thé thao va chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Thứ ba, thực hiện các giải pháp dé duy trì việc làm 6n định và đạt hiệu quả cao, các giải pháp về quản lý thị trường, kỹ thuật.
nhằm nâng, cao hiệu quả của việc làm. Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm. được hình thành. Giải quyết việc làm cần phải được xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của nhà nước.
Vì vậy "giải quyết việc làm. là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc lâm" 1. Thất nghiệp, thiểu việc làm 1. Thất nghiệp Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2002 qui định: “That nghiệp là những người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng chưa tìm được việc lâm”.
Như vậy có thể hiểu thất nghiệp là tình trạng không có việc làm, không mang lại thu nhập cho người lao động còn trong độ tuổi lao động đang muốn tham gia lao động. Một người được xem là có việc làm nếu người đó sử dụng hau hết tuần trước đó để làm công việc được trả lương. Một người được xem là thất nghiệp nếu người đó tạm thời nghỉ việc, đang tìm việc hoặc đang đợi ngày bắt đầu làm việc mới. Người không thuộc hai điện trên , chẳng hạn là học sinh dai hạn, người nội trợ hoặc nghỉ hưu không nằm trong lực lượng lao động.
Thiéu việc làm ‘Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) người thiếu việc làm lả người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm ví dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu thêm việc làm. "Người thiểu việc lâm là người lao động đang có việc lâm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo quy định của pháp luật hoặc làm những công việc có tiền lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn. ‘tim thêm việc làm để bỗ sung thu nhập. ‘Theo ILO cũng khuyến nghị các nước dùng khái niệm người thiếu việc làm hữu hình ( dạng n thấy được) và dạng người thiếu việc làm vô hình (khó xác định) “Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm để chỉ hiện tượng người lao động làm việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm việc làm và sẵn sing để làm việc.
“Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ vige làm, làm đủ thời gian thậm trí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp, nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tôi tổ chức lao động kém.3, Khái niện về nông thôn và lao động nông thôn 1. Khái niệm về mông thôn Nhiều quan điểm cho ring nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yéu bằng nông nghiệp, tuy nhiên như vậy là chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiêu thủ công nghiệp và dịch vy, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một ty trọng rat thấp trong tông thu nhập của dân cư. ‘Theo tác giả Triệu Đức Hạnh (2012) đã đưa ra khái niệm vé nông thôn như sau: “Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dan sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu ha ting kém phát triển. hơn, có trình độ tiếp cận thị trường va sản xuất hàng hoá thắp hon", Đây là khái niệm ding nhiều chỉ tiêu dé đánh giá giữa nông thôn và thành thị vi vậy nó mang tính toàn điện hon và được nhiều người chấp nhận hơn.2, Đặc trung chủ yêu của ku vực nông thôn, so sảnh với khu vực thành thị Trịnh Khắc Tham và cs.
(2007) đã định nghĩa đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, là quá tinh tập trung dân số vào các dé thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống. Quá 10 trình đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa. Qué trình đô thị hóa cũng là quá trình biển đổi sâu sắc vé cơ cầu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cor cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc từ dạng nông, thôn sang thành thị. Có hai chỉ s biểu hiện sự đô thị hóa là: mức độ đồ thihóa và tốc độ đô thị hóa.