Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Viên chức Theo điều 2 Luật Viên chức 2010 thì: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [24, tr. Đơn vị sự nghiệp công lập Theo điều 9 Luật Viên chức 2010 thì: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [24, tr.
“Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); - Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ)” [24, tr. Đơn vị sự nghiệp công lập có những tính chất, đặc điểm sau: - Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. - Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. - Đơn vị sự nghiệp công lập phải có tư cách pháp nhân.
Luan van 10 - Đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. - Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập. Nhu cầu Theo giáo trình Hành vi tổ chức của tác giả Bùi Anh Tuấn thì: “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn” [28, tr. Cũng theo giáo trình Hành Vi Tổ Chức thì: “Nhu cầu không được thỏa mãn tạo ra sự căng thẳng, và sự căng thẳng thường kích thích những động cơ bên trong các cá nhân.
Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có được các mục tiêu cụ thể mà, nếu đạt được, sẽ thỏa mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm căng thẳng” [28, tr. Tuy các công trình nghiên cứu khoa học hay các cuốn sách giáo khoa đều có những khái niệm, định nghĩa riêng về Nhu cầu, nhưng vẫn chưa có định nghĩa chung nhất cho khái niệm này. Trong phạm vi nhận thức hiện tại thì có thể định nghĩa: nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.
Nhu cầu của một cá nhân phong phú và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả thực hiện công việc của cá nhân. Dựa vào việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, từ đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu cùa người lao động sẽ quy định xu hướng các lựa chọn của họ, và cũng quy định các hoạt động xã hội của các cá nhân, tập thể.
Luan van 11 “Nhu của của người lao động được chia làm hai nhóm cơ bản là nhu cầu về vất chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu về vật chất là các nhu cầu gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người, còn nhu cầu về tinh thần là những nhu cầu gắn liền với sự hài lòng và thỏa mãn về tâm lý” [28]. Nhu cầu của con người là vô tận, sự thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần chính là một trong những động cơ lao động chính của con người, càng thúc đẩy con người làm việc hăng hái, nhiệt tình với công việc được giao thì mục tiêu sẽ càng nhanh chóng đạt được với hiệu suất cao nhất. Các nhà quản trị cần phải chú ý nắm bắt kịp thời những nguyện vọng chính đáng của nhân viên trong quá trình thực hiện công việc của họ; Để làm được điều đó thì các nhà quản trị cần phải tìm hiểu được các nguyện vọng của nhân viên, hoàn cảnh gia đình của họ, từ đó giúp họ tháo gỡ kịp thời khó khăn, khúc mắc trong cuộc sống và trong công việc.
Các nhà quản trị cần không ngừng đổi mới phong cách quản trị, đối xử công bằng với nhân viên, tạo mọi cơ hội để giúp nhân viên phát triển. Xã hội phát triển thì nhu cầu của con người sẽ càng đa dạng và phong phú, dường như không thể thỏa mãn hoàn toàn được nhu cầu của con người. Nhu cầu là một biểu hiện không thể thiếu trong mọi tổ chức bởi tính cấp bách và lâu dài của nó. Nhu cầu của con người là vô tận và không bao giờ có thể thỏa mãn hoàn toàn, tuy nhiên, sự thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần một phần nào vẫn là động cơ để thúc đấy họ tích cực làm việc.
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, các nhà quản trị cần phải biết được mong muốn của nhân viên là gì, nhân viên mong muốn điều gì từ nhà quản trị. Ngày nay, trong thời đại phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, công tác điều tra, nghiên cứu để tìm ra đúng nhu cầu của người lao động chính là cách hữu hiệu để nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định phù hợp làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động, để người lao động có thể yên Luan van 12 tâm lao động hăng say, nhiệt tình, có trách nhiệm cao đối với công việc được giao, phát huy hết khả năng của mình cống hiến cho cơ quan, tổ chức. Động cơ “Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động của con người (Cộng đồng, tập thể, xã hội) là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra” [17]. Như vậy, động cơ là lý do hành động của con người, nghĩa là khi chúng ta cố gắng để trả lời câu hỏi: Tại sao người này lại hành động thế này mà không phải là thế khác, đó chính là nhằm xác định động cơ của người đó.
Khi nói rằng các nhà quản lý muốn thúc đẩy nhân viên của họ, có nghĩa là ta nói rằng họ làm những việc mà họ hy vọng sẽ đáp ứng được phần nào mong muốn và nguyện vọng của người lao động và thúc đẩy người lao động hành động theo một cách thức mong muốn. Thực tế thì động cơ rất trừu tượng và khó xác định bởi vì: - Nó thường bị che dấu bởi bản chất thật và nhiều lý do khác nhau như: Yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân, nhân sinh quan của mỗi người. - Động cơ luôn luôn biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau. - Động cơ rất phong phú, đa dạng, phức tạp và thường mâu thuẫn với nhau.
Ba đặc tính trên làm cho việc nắm bắt, xác định động cơ rất khó khăn. Động cơ của người lao động hết sức phong phú và đa dạng, là một nhà quản lý chúng ta cần phân tích và xác định chính xác động cơ số một và biết cải biến những động cơ đó đối với từng người lao động cụ thể sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng đáp ứng của tổ chức. Tạo động lực lao động 1. Động lực lao động Theo Mai Quốc Chánh: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động Luan van 13 đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người” [16]. Những yếu tố thuộc về cá nhân của người lao động có vai trò rất quan trọng trong việc tạo động lực lao động cho chính người lao động ấy. Các yếu tố thuộc về con người hay chính là các yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người sẽ thúc đẩy con người làm việc, bao gồm các yếu tố sau: - Lợi ích của con người: Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi lợi ích chính là mức độ thoả mãn nhu cầu của con người còn nhu cầu lại là yếu tố quan trọng nhất của tạo động lực lao động. Không có nhu cầu thì sẽ không có lợi ích hay nói cách khác thì lợi ích chính là hình thức biểu hiện của nhu cầu, khi có sự thoả mãn nhu cầu về vật chất hoặc nhu cầu về tinh thần nghĩa là con người nhận được lợi ích từ vật chất và tinh thần thì lúc đó động lực tạo ra sẽ càng lớn.
- Mục tiêu cá nhân: là kết quả mong muốn của cá nhân, xảy ra trong tương lai. Mục tiêu cá nhân cần biết được cá nhân muốn đạt đến mục đích gì và qua đó sẽ cần có những biện pháp giúp họ đạt đến mục đích ấy. - Thái độ cá nhân: là thái độ nhìn nhận của mỗi cá nhân với công việc mà cá nhân ấy thực hiện. Qua đó sẽ thể hiện sự đánh giá của cá nhân đối với công việc, thái độ cá nhân chịu ảnh hưởng nhiều từ quan niệm xã hội và tác động của môi trường xung quanh.
Nếu một cá nhân có thái độ tích cực đối với công việc của họ thì họ sẽ hăng say với làm việc và ngược lại. - Khả năng - Năng lực cá nhân: là khả năng làm việc, kiến thức, năng lực và trình độ chuyên môn của cá nhân đối với công việc.