Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế của cả nước, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất và tư liệu sản xuất. Xã ĐăkƠ là một xã biên giới thuần nông thuộc huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước, nơi có 10 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó, đồng bào dân tộc Stiêng là cư dân bản địa lâu đời, chiếm 33,18% tổng số hộ trên địa bàn xã. Mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội địa phương đã có những chuyển biến tích cực, tỷ lệ hộ nghèo và tái nghèo trong cộng đồng người Stiêng vẫn ở mức cao do tập quán canh tác lạc hậu, trình độ dân trí thấp, thiếu đất sản xuất sau các đợt thu hồi đất lâm nghiệp lấn chiếm và việc tiếp cận các dịch vụ công còn nhiều rào cản. Khóa luận được thực hiện nhằm phân tích thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào Stiêng, làm rõ nguyên nhân nghèo đói và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện sinh kế, nâng cao mức sống cho người dân.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu thực trạng đời sống của đồng bào dân tộc Stiêng về cả phương diện vật chất lẫn tinh thần tại xã ĐăkƠ, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước; từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế nhằm cải thiện đời sống và hỗ trợ đồng bào hòa nhập vào sự phát triển chung.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tìm hiểu tình hình đời sống vật chất của đồng bào dân tộc Stiêng (điều kiện ăn, ở, nước sinh hoạt, điện, phương tiện sản xuất, đất đai, tín dụng, khuyến nông, thu nhập và chi tiêu).
    • Tìm hiểu thực trạng đời sống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng và các lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Stiêng trên địa bàn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nông hộ người dân tộc Stiêng (bao gồm cả nhóm hộ nghèo và nhóm hộ ngoài nghèo).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát trình độ văn hóa, điều kiện sinh hoạt, tư liệu và phương thức sản xuất, tình hình thu nhập - chi tiêu, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, tình hình vay vốn tín dụng, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật khuyến nông và việc duy trì lễ hội truyền thống.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã ĐăkƠ, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước (khảo sát trực tiếp tại 3 thôn: Bù Bưng, Bù Ka và Thôn 3).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu sơ cấp từ ngày 26/03/2007 đến ngày 23/06/2007; các thông tin và số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về phát triển nông thôn, phát triển cộng đồng và các định nghĩa chuẩn nghèo:

  • Khái niệm nghèo đói: Tiếp cận định nghĩa của Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1999); quan điểm về ngưỡng nghèo theo mức thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập bình quân xã hội (Trần Ngọc Thêm, 1993); ngưỡng nghèo dựa trên chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu gồm ăn, mặc, ở, học hành (Trang Thị Huy Nhất, 2000); ngưỡng nghèo dinh dưỡng 2.100 kcal/người/ngày (Báo cáo Phát triển Việt Nam 2000). Chuẩn nghèo áp dụng tại địa phương năm 2006 theo quy định của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phước Long và UBND xã ĐăkƠ là mức thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng (dưới 2,4 triệu đồng/người/năm).
  • Lý thuyết phát triển và phát triển nông thôn: Khái niệm phát triển là quá trình biến đổi về chất lượng kinh tế, xã hội và môi trường (Nguyễn Hữu Nhân, 2000; Trần Văn Chử, 2004); khái niệm về nông thôn và phát triển nông thôn (Vũ Thị Bình, 1999); khái niệm phát triển cộng đồng dựa trên sự kết hợp giữa nỗ lực của nhân dân và sự hỗ trợ của chính quyền (Liên Hiệp Quốc, 1956).
  • Lý thuyết văn hóa: Định nghĩa văn hóa của UNESCO (1982) và khái niệm văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán (Trần Ngọc Thêm, 2000).
  • Khung chính sách pháp lý: Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; Quyết định số 788/QĐ-UBND ngày 26/06/2006 của UBND huyện Phước Long về thu hồi đất rừng bị phá và lấn chiếm trái phép; Quyết định 42/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Phước; các chương trình thuộc Chương trình 135.

Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Thu thập dữ liệu thứ cấp từ UBND xã ĐăkƠ, Phòng Kinh tế huyện Phước Long, Phòng Dân tộc - Tôn giáo, Trạm Y tế xã, kết hợp quan sát thực địa và phỏng vấn cán bộ địa phương.
  • Phương pháp điều tra mẫu bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu điều tra nông hộ kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở, chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ người Stiêng tại 3 địa bàn cư trú tập trung: thôn Bù Bưng (25 hộ), thôn Bù Ka (10 hộ) và Thôn 3 (25 hộ). Mẫu điều tra bao gồm 23 hộ nghèo và 37 hộ ngoài nghèo (trong đó có 8 hộ rơi vào tình trạng tái nghèo do bị thu hồi đất).
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Tổng hợp, mã hóa và phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) bằng phần mềm Microsoft Excel.
  • Các chỉ tiêu kinh tế được sử dụng trong đánh giá hiệu quả sản xuất:
    • Doanh thu: $\text{Doanh thu} = \text{Sản lượng} \times \text{Đơn giá}$
    • Tổng chi phí: $\text{Tổng chi phí} = \text{Chi phí vật chất} + \text{Chi phí lao động (lao động gia đình và lao động thuê)}$
    • Lợi nhuận: $\text{Lợi nhuận} = \text{Doanh thu} - \text{Tổng chi phí}$
    • Thu nhập nông hộ: $\text{Thu nhập} = \text{Doanh thu} - (\text{Chi phí vật chất mua ngoài} + \text{Chi phí lao động thuê}) = \text{Lợi nhuận} + (\text{Chi phí vật chất tự có} + \text{Công lao động nhà})$

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương này thiết lập tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về thực trạng kinh tế - xã hội của dân tộc Stiêng tại xã ĐăkƠ, xác định rõ 1 mục tiêu tổng quát, 2 mục tiêu cụ thể, đối tượng khảo sát là các hộ Stiêng nghèo và ngoài nghèo, phạm vi không gian tại xã ĐăkƠ, phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2007 (thu thập số liệu giai đoạn 2004 - 2006) và bố cục tổng thể gồm 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan về xã ĐăkƠ huyện Phước Long tỉnh Bình Phước

Chương 2 mô tả toàn diện các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên của xã là 24.627 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 98,82% (24.335,66 ha), bao gồm đất lâm nghiệp chiếm phần lớn với 20.439,17 ha (82,99%) và đất sản xuất nông nghiệp chiếm 3.891,44 ha (15,80%). Địa hình đồi núi có độ dốc từ 15 - 20° chiếm 85% diện tích tự nhiên. Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nhiệt độ trung bình 26,2°C, lượng mưa bình quân 2.315 mm/năm (tập trung 85 - 90% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11). Hệ thống thủy văn có sông Bé và suối ĐăkƠ dài 20 km.
  • Tình hình kinh tế: Nông - lâm nghiệp thu hút 85% lực lượng lao động xã hội. Cây công nghiệp lâu năm là nguồn thu chính, chủ yếu là điều, tiêu, cao su. Chăn nuôi phát triển chậm, chủ yếu thả rong; năm 2006 dịch lở mồm long móng khiến đàn gia súc giảm 726 con so với năm 2005 (còn 3.285 con). Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển.
  • Dân số và cơ cấu dân tộc: Dân số toàn xã năm 2006 có 10.687 người (2.424 hộ, 11 thôn), mật độ dân số thấp đạt 40 người/km². Xã gồm 10 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 57,79% (1.202 hộ), người Stiêng chiếm 33,18% (704 hộ, 3.561 nhân khẩu), Tày chiếm 4,02%, Nùng chiếm 3,66%. Người Stiêng cư trú tập trung tại Bù Bưng, Thôn 3, Thôn 4, Bù Khơn, Thôn 6, Bù Ka; hai thôn không có người Stiêng là ĐăkLim và ĐăkU.
  • Cơ sở hạ tầng: Trục đường ĐT741 dài 10 km và 40 km đường giao thông nông thôn (nguồn vốn Chương trình 135) thường xuyên hư hỏng; tỷ lệ hộ dùng điện lưới quốc gia đạt 70,8% (1.716 hộ); 95% hộ dùng nước giếng đào; toàn xã có 1.050 máy điện thoại (đạt 9 máy/100 dân). Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 99%, có 491 người mù chữ (5,45%).
  • Công tác xóa đói giảm nghèo và an ninh: Năm 2006 giảm được 84 hộ nghèo, toàn xã còn 427 hộ nghèo (chiếm 18% dân số, trong đó có 296 hộ đồng bào dân tộc thiểu số). Sau các đợt giải tỏa thu hồi đất lâm nghiệp lấn chiếm, có 217 hộ thiếu đất sản xuất (153 hộ dân tộc thiểu số).
Bảng: Hiện trạng sử dụng đất xã ĐăkƠ năm 2006
Loại mục đích sử dụng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1. Đất nông nghiệp 24.335,66 98,82
- Đất sản xuất nông nghiệp 3.891,44 15,80
- Đất lâm nghiệp 20.439,17 82,99
- Đất nuôi trồng thủy sản 5,05 0,02
2. Đất phi nông nghiệp 291,33 1,18
- Đất ở 69,02 0,28
- Đất chuyên dùng 129,31 0,53
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa 5,00 0,02
- Đất sông suối 88,00 0,36
3. Đất chưa sử dụng 0,00 0,00
Tổng diện tích tự nhiên 24.627,00 100,00

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về nghèo đói (theo ESCAP, mức 2.100 kcal, chuẩn thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng tại địa phương), lý thuyết phát triển nông thôn, phát triển cộng đồng và cơ sở văn hóa truyền thống. Chương làm rõ phương pháp thu thập số liệu sơ cấp qua 60 phiếu điều tra hộ tại 3 thôn mẫu, số liệu thứ cấp từ UBND xã và các phòng ban chuyên môn huyện, đồng thời chi tiết hóa quy trình tính toán doanh thu, chi phí, lợi nhuận và thu nhập nông hộ trên phần mềm Excel.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực địa 60 hộ dân tộc Stiêng:

  • Đặc trưng mẫu và nhân khẩu: Mẫu 60 hộ có 344 nhân khẩu, bình quân 5,7 người/hộ. Hộ có quy mô 6 - 8 người chiếm 48,33% (29 hộ), hộ 4 - 5 người chiếm 43,33% (26 hộ). Cơ cấu tuổi gồm: dưới tuổi lao động chiếm 49,71% (171 người), trong tuổi lao động chiếm 43,02% (148 người), ngoài tuổi lao động chiếm 7,27% (25 người). Về tôn giáo: Đạo Tin lành chiếm 58,33% (35 hộ), không theo đạo chiếm 20,00% (12 hộ), Công giáo chiếm 18,33% (11 hộ), Phật giáo chiếm 3,33% (2 hộ).
  • Trình độ học vấn: Có 38 người mù chữ (chiếm 11,05% tổng số nhân khẩu; riêng chủ hộ có 13 người mù chữ, chiếm 21,67%). Trình độ Cấp I chiếm tỷ lệ lớn nhất; Cấp III chỉ có 3 người (0,87%); không có ai đạt trình độ trung cấp, cao đẳng hay đại học. Nữ giới chiếm 55 trong tổng số 106 người thôi học do định kiến gia đình và chế độ mẫu hệ.
  • Điều kiện sinh hoạt:
    • Nhà ở: Có 14 hộ ở nhà kiên cố (23,33%), 23 hộ nhà bán kiên cố (38,33%), 13 hộ nhà đơn sơ (21,67%) và 10 hộ nhà tạm bợ (16,67%). Nhóm hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nhà đơn sơ (39,13%) và tạm bợ (30,43%).
    • Điện sinh hoạt: 42 hộ sử dụng điện lưới quốc gia (70,00%), còn 18 hộ chưa có điện (30,00%, trong đó có 11 hộ nghèo).
    • Nguồn nước: 73,33% hộ dùng nước giếng đào cho sinh hoạt (trong đó 12 hộ phải dùng nhờ giếng hàng xóm); 8,33% dùng nước suối; 18,33% kết hợp nước giếng và suối. Nước cho sản xuất có 55,00% hộ phụ thuộc vào nước suối.
    • Vệ sinh môi trường: 39 hộ có nhà vệ sinh (65,00%, đa phần dựng tạm bợ bằng bạt, tre nứa), 21 hộ không có nhà vệ sinh (35,00%, trong đó hộ nghèo chiếm 60,87%). Tình trạng chăn nuôi gia súc thả rong gây ô nhiễm khuôn viên sinh hoạt.
    • Giao thông: Đường xe vào được quanh năm chiếm 61,67% (37 hộ), chỉ vào được mùa nắng chiếm 26,67% (16 hộ), xe hoàn toàn không vào được chiếm 11,67% (7 hộ).
    • Phương tiện: Hộ ngoài nghèo sở hữu xe máy đạt 78,38% (29 hộ), hộ nghèo chỉ đạt 26,09% (6 hộ); hộ nghèo chủ yếu dùng xe đạp (52,17%). Tỷ lệ sở hữu máy bơm và bình xịt thuốc chung đạt 21,67% (13 hộ).
  • Đất đai và thu hồi đất: Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của 60 hộ là 44,7 ha (bình quân 0,745 ha/hộ), trong đó cây lâu năm chiếm 83,9% (37,5 ha), cây hàng năm chiếm 16,11% (7,2 ha). Số hộ có dưới 0,5 ha chiếm 51,67% (31 hộ); có 8 hộ hoàn toàn không có đất sản xuất (13,33%). Thực hiện Quyết định 788/QĐ-UBND ngày 26/06/2006, có 16 hộ trong mẫu bị thu hồi đất lâm nghiệp lấn chiếm (11 hộ bị thu hồi dưới 0,5 ha; 2 hộ bị thu hồi 0,5 - 1 ha; 3 hộ bị thu hồi trên 1 ha), dẫn đến 8 hộ rơi vào cảnh tái nghèo.
  • Tín dụng và khuyến nông: 31 hộ có nhu cầu vay vốn (51,67%), gồm 13 hộ nghèo (56,52%) và 18 hộ ngoài nghèo (48,65%). Nguồn vay thực tế: 16 hộ vay Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (26,67%), 11 hộ vay Quỹ Xóa đói giảm nghèo (18,33%), 4 hộ vay Ngân hàng Chính sách Xã hội (6,66%). Về khuyến nông, có 40 hộ được tham gia tập huấn kỹ thuật, nhưng chỉ có 23 hộ áp dụng vào thực tế sản xuất (đạt tỷ lệ 57,5%).
  • Đời sống văn hóa và giải pháp kinh tế đề xuất: 100% hộ tham gia các lễ hội truyền thống thắt chặt cộng đồng. Tác giả đề xuất 2 mô hình kinh tế kỹ thuật cụ thể:
    1. Mô hình giao khoán quản lý bảo vệ rừng: Khai thác 14.000 ha rừng phòng hộ, định mức giao khoán 30 ha/hộ với đơn giá 50.000 đồng/ha/năm, tạo việc làm cho 466,7 hộ với thu nhập ổn định 1.500.000 đồng/hộ/năm trong thời hạn 5 năm, kết hợp trồng mì ranh cản lửa và nuôi bò.
    2. Mô hình nuôi cá nước ngọt quy mô 500 m²: Thả ghép cá mè vinh, trắm cỏ, rô phi, chép. Chi phí xây dựng cơ bản ao nuôi là 9.600.000 đồng (khấu hao 10 năm/15 vụ là 640.000 đồng/vụ). Chi phí một vụ nuôi (7 - 8 tháng) là 3.260.000 đồng (chi phí vật chất 1.460.000 đồng, công lao động nhà 1.800.000 đồng). Sản lượng đạt 300 kg, doanh thu đạt 4.500.000 đồng (giá 15.000 đồng/kg), lợi nhuận đạt 1.240.000 đồng và thu nhập nông hộ đạt 3.040.000 đồng/vụ. Tỷ suất thu nhập trên chi phí đạt 0,93 lần.
Bảng: So sánh các chỉ tiêu cơ bản giữa hộ nghèo và hộ ngoài nghèo trong mẫu điều tra
Tiêu chí so sánh Hộ nghèo (n=23) Hộ ngoài nghèo (n=37) Chung toàn mẫu (n=60)
Nhà kiên cố (%) 4,35% (1 hộ) 35,14% (13 hộ) 23,33% (14 hộ)
Nhà bán kiên cố (%) 26,09% (6 hộ) 45,95% (17 hộ) 38,33% (23 hộ)
Nhà đơn sơ & tạm bợ (%) 69,56% (16 hộ) 18,91% (7 hộ) 38,33% (23 hộ)
Tỷ lệ sử dụng điện lưới (%) 52,17% (12 hộ) 81,08% (30 hộ) 70,00% (42 hộ)
Tỷ lệ có nhà vệ sinh (%) 39,13% (9 hộ) 81,08% (30 hộ) 65,00% (39 hộ)
Tỷ lệ sở hữu xe máy (%) 26,09% (6 hộ) 78,38% (29 hộ) 58,33% (35 hộ)
Tỷ lệ sở hữu xe đạp (%) 52,17% (12 hộ) 16,22% (6 hộ) 30,00% (18 hộ)
Tỷ lệ có nhu cầu vay vốn (%) 56,52% (13 hộ) 48,65% (18 hộ) 51,67% (31 hộ)

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Tác giả đúc kết 7 phát hiện chính về đời sống kinh tế khó khăn, thiếu thốn tư liệu sản xuất, tỷ lệ áp dụng kỹ thuật khuyến nông thấp, tỷ lệ không có điện và công tác kế hoạch hóa gia đình còn nhiều bất cập của người Stiêng. Đồng thời, chương đưa ra 8 nhóm kiến nghị đối với Nhà nước, UBND tỉnh Bình Phước và chính quyền địa phương nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp quyền sử dụng đất theo Quyết định 42/2005/QĐ-UBND, cấp đất theo Quyết định 134/TTg, nâng cao năng lực khuyến nông cơ sở, phát sóng truyền thanh bằng tiếng Stiêng và hoàn thiện hạ tầng thiết yếu.


Kết quả và đóng góp

Các kết quả chính rút ra từ số liệu thực nghiệm của khóa luận:

  • Thu nhập bình quân đầu người trong mẫu khảo sát đạt 237,39 ngàn đồng/tháng; có 27/60 hộ có mức thu nhập nằm dưới ngưỡng sống (chiếm 45,00%). Toàn bộ 23 hộ nghèo và tái nghèo khi được phỏng vấn đều chưa xây dựng được phương án hay kế hoạch thoát nghèo cụ thể cho gia đình.
  • Phân hóa điều kiện sống giữa hai nhóm hộ rất sâu sắc: Nhóm hộ nghèo có tỷ lệ sử dụng nhà tạm bợ và đơn sơ lên đến 69,56%, tỷ lệ không có nhà vệ sinh là 60,87%, tỷ lệ không có điện thắp sáng là 47,83% và tỷ lệ thiếu phương tiện đi lại bằng xe máy là 73,91%.
  • Công tác khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật tồn tại khoảng cách lớn: Mặc dù có 40/60 hộ tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật nông nghiệp, nhưng chỉ có 23 hộ áp dụng vào thực tiễn canh tác (57,5% số hộ được tập huấn), nguyên nhân do trình độ học vấn hạn chế (21,67% chủ hộ mù chữ) và thiếu vốn đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.
  • Hậu quả thu hồi đất: Sau các đợt giải tỏa cưỡng chế đất rừng lấn chiếm theo Quyết định 788/QĐ-UBND, có 16 hộ trong mẫu bị thu hồi đất, khiến 8 hộ bị mất hoàn toàn tư liệu sản xuất và rơi vào tình trạng tái nghèo.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Giải pháp giao đất giao rừng: Đề xuất chuyển giao 14.000 ha đất rừng phòng hộ cho 466,7 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nhận khoán quản lý bảo vệ với mức khoán 50.000 đồng/ha/năm (quy mô 30 ha/hộ, thu nhập 1,5 triệu đồng/năm trong 5 năm), kết hợp trồng xen cây lương thực ngắn ngày (khoai mì) ở đường ranh cản lửa và chăn nuôi bò.
  • Đề xuất mô hình kinh tế nuôi cá nước ngọt: Xây dựng dự toán kinh tế kỹ thuật chi tiết cho ao nuôi 500 m² thả ghép (mè vinh, trắm cỏ, rô phi, chép), vốn đầu tư xây dựng cơ bản 9,6 triệu đồng (khấu hao 640 ngàn đồng/vụ), tổng chi phí 3,26 triệu đồng/vụ, tạo ra 300 kg cá thương phẩm, mang lại doanh thu 4,5 triệu đồng và thu nhập 3,04 triệu đồng/vụ, đạt tỷ suất thu nhập trên chi phí là 0,93 lần.
  • Hoàn thiện chính sách đất đai và tín dụng: Đẩy nhanh việc hợp thức hóa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo Quyết định 42/2005/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Phước và chương trình hỗ trợ đất sản xuất theo Quyết định 134/TTg; đơn giản hóa thủ tục vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn.
  • Phát triển hạ tầng và văn hóa - giáo dục: Nâng cấp 40 km đường giao thông liên thôn; mở rộng lưới điện cho 18 hộ vùng sâu; miễn giảm học phí trọn gói và vận động trẻ em gái đến trường; tăng thời lượng phát sóng truyền thanh bằng tiếng Stiêng trên hệ thống đài huyện và đài tỉnh.

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp bộ dữ liệu điều tra thực nghiệm chi tiết và toàn diện về thực trạng kinh tế nông hộ, điều kiện sống và sinh kế của dân tộc Stiêng tại xã vùng biên giới ĐăkƠ sau các đợt biến động về đất đai năm 2006.
  • Đóng góp luận cứ thực tiễn chỉ ra bất cập trong việc thu hồi đất lâm nghiệp của người dân bản địa nhưng lại bàn giao cho các nông lâm trường, công ty cao su quản lý, trong khi người dân thiếu đất sản xuất dẫn đến tái nghèo.
  • Xây dựng mô hình hạch toán chi phí - thu nhập cụ thể cho mô hình nuôi cá nước ngọt và mô hình giao khoán bảo vệ rừng có tính ứng dụng trực tiếp cho công tác khuyến nông tại huyện Phước Long.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được tác giả ghi nhận trong quá trình thực hiện:

  • Rào cản ngôn ngữ và tâm lý tiếp xúc: Do sự khác biệt về ngôn ngữ và rào cản tâm lý e ngại tiếp xúc với người lạ của đồng bào dân tộc thiểu số, người phỏng vấn phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự hỗ trợ dẫn đường của các trưởng thôn; một số người dân chưa diễn đạt hết ý kiến, suy nghĩ khi trả lời câu hỏi mở.
  • Điều kiện địa bàn và thời điểm khảo sát: Quá trình điều tra thực địa diễn ra vào tháng 4 và tháng 5 (trùng vào mùa vụ canh tác), đường sá hiểm trở, nhiều hộ sống phân tán rải rác trên nương rẫy xa trung tâm nên việc tiếp cận thu thập số liệu gặp nhiều khó khăn.
  • Phạm vi nghiên cứu mới tập trung khảo sát 60 hộ tại 3 thôn (Bù Bưng, Bù Ka, Thôn 3) thuộc một xã ĐăkƠ, chưa mở rộng so sánh với các cộng đồng người Stiêng tại các địa bàn khác trong tỉnh Bình Phước.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát liên địa bàn trên toàn huyện Phước Long và các huyện lân cận như Bình Long, Lộc Ninh, Đồng Phú để có cái nhìn tổng thể về sự chuyển dịch kinh tế - xã hội của dân tộc Stiêng dưới tác động của chính sách đất đai và các chương trình mục tiêu quốc gia.
  • Đánh giá sâu hơn về hiệu quả thực tế của việc chuyển giao kỹ thuật khuyến nông và các mô hình đa dạng hóa sinh kế (nông lâm kết hợp, chăn nuôi bán công nghiệp) khi được triển khai trên quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Khuyến nông, Kinh tế Nông nghiệp, Xã hội học Nông thôn và Dân tộc học: Cung cấp mẫu bảng hỏi điều tra nông hộ toàn diện (gồm các phần điều kiện sống, đất đai, tín dụng, khuyến nông, kế hoạch hóa gia đình, tập quán lễ hội) và phương pháp tính toán thu nhập, hạch toán chi phí mô hình sinh kế hộ gia đình.
  • Cán bộ làm công tác khuyến nông và xóa đói giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Tham khảo bảng định mức chi phí - doanh thu mô hình nuôi cá nước ngọt quy mô 500 m² và phương án tổ chức giao khoán quản lý bảo vệ rừng kết hợp sinh kế phụ.
  • Các nhà quản lý chính sách và chính quyền địa phương: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về những vướng mắc trong quản lý đất lâm nghiệp, vấn đề tái nghèo sau thu hồi đất và nhu cầu cấp thiết về vốn vay, thông tin truyền thanh bằng tiếng mẹ đẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phân bố hộ nghèo và mức thu nhập bình quân của đồng bào Stiêng trong mẫu khảo sát là bao nhiêu?

Trong tổng số 60 hộ điều tra (gồm 344 nhân khẩu, bình quân 5,7 người/hộ), có 23 hộ nghèo (chiếm 38,33%, trong đó có 8 hộ bị tái nghèo sau khi bị thu hồi đất sản xuất) và 37 hộ ngoài nghèo. Mức thu nhập bình quân đầu người đạt 237,39 ngàn đồng/tháng; có 27 hộ (chiếm 45,00% mẫu) có mức thu nhập nằm dưới ngưỡng sống (dưới 200.000 đồng/người/tháng theo chuẩn nghèo địa phương năm 2006).

2. Tình trạng đất đai và việc thu hồi đất đã ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của các hộ dân tộc Stiêng?

Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của 60 hộ là 44,7 ha (bình quân 0,745 ha/hộ), với 83,9% diện tích trồng cây lâu năm (chủ yếu là điều). Có 51,67% số hộ sở hữu dưới 0,5 ha đất và 13,33% số hộ hoàn toàn không có đất sản xuất. Khi thực hiện Quyết định số 788/QĐ-UBND ngày 26/06/2006 về thu hồi đất rừng lấn chiếm, có 16 hộ trong mẫu bị thu hồi đất (68,75% số hộ bị thu hồi diện tích dưới 0,5 ha), dẫn đến việc 8 hộ bị mất tư liệu sản xuất và rơi vào tình trạng tái nghèo.

3. Hiệu quả tiếp cận và ứng dụng kỹ thuật khuyến nông của người dân đạt mức độ nào?

Trong 60 hộ điều tra, có 40 hộ từng được mời và tham dự các lớp tập huấn kỹ thuật khuyến nông. Tuy nhiên, chỉ có 23 hộ thực tế áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào canh tác (đạt tỷ lệ 57,5% trên tổng số hộ được tập huấn). Rào cản chính khiến người dân chưa áp dụng là do tập quán canh tác truyền thống dùng công cụ thô sơ ("lấy công làm lời"), trình độ học vấn thấp (21,67% chủ hộ mù chữ) và không có đủ tiền để mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay máy bơm, bình xịt.

4. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá nước ngọt 500 m² được tác giả hạch toán ra sao?

Theo tính toán của tác giả, một ao nuôi 500 m² thả ghép mè vinh, trắm cỏ, rô phi, chép có tổng chi phí xây dựng cơ bản 9,6 triệu đồng (khấu hao 640 ngàn đồng/vụ trong 10 năm). Tổng chi phí cho 1 vụ nuôi (7 - 8 tháng) là 3,26 triệu đồng (gồm chi phí vật chất 1,46 triệu đồng và chi phí công lao động gia đình 1,8 triệu đồng). Sau thu hoạch đạt sản lượng 300 kg cá thương phẩm, với giá bán 15.000 đồng/kg thu được doanh thu 4,5 triệu đồng, mang lại lợi nhuận 1,24 triệu đồng và tổng thu nhập thực tế cho hộ gia đình là 3,04 triệu đồng/vụ. Tỷ suất thu nhập trên chi phí đạt 0,93 lần.

5. Thực trạng nhà ở và điều kiện vệ sinh môi trường của các hộ Stiêng khảo sát như thế nào?

Toàn mẫu có 14 hộ ở nhà kiên cố (23,33%), 23 hộ ở nhà bán kiên cố (38,33%), 13 hộ ở nhà đơn sơ (21,67%) và 10 hộ ở nhà tạm bợ (16,67%); riêng nhóm hộ nghèo có đến 69,56% phải sống trong nhà đơn sơ và tạm bợ. Về vệ sinh môi trường, có 39 hộ có nhà vệ sinh (65,00%, đa số làm tạm bằng tre nứa và bạt cũ), 21 hộ không có nhà vệ sinh (35,00%, riêng nhóm hộ nghèo tỷ lệ không có nhà vệ sinh là 60,87%). Đa số hộ vẫn giữ thói quen chăn nuôi heo, trâu, bò thả rong quanh nhà gây mất vệ sinh.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hồ Thị Bình đã phản ánh toàn diện thực trạng đời sống kinh tế - xã hội nhiều khó khăn của đồng bào dân tộc Stiêng tại xã biên giới ĐăkƠ, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2004 - 2006. Nghiên cứu chỉ ra các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng nghèo đói và tái nghèo gồm sự thiếu hụt đất sản xuất sau thu hồi đất lâm nghiệp, tỷ lệ mù chữ cao, hạn chế trong ứng dụng khuyến nông và thiếu thốn cơ sở hạ tầng thiết yếu. Trên cơ sở phân tích thực nghiệm từ 60 hộ điều tra, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao, tiêu biểu là phương án giao khoán quản lý 14.000 ha rừng kết hợp chăn nuôi và mô hình nuôi cá nước ngọt quy mô 500 m² giúp tăng thu nhập nông hộ. Đây là tài liệu nghiên cứu thực địa có giá trị thực tiễn đối với công tác quy hoạch phát triển nông thôn và thực thi chính sách dân tộc tại địa phương.