ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, cùng với tiến trình phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nƣớc ta đã quan tâm nhiều đến chính sách an sinh xã hội nhất là chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân. Có nhiều chính sách ƣu tiên nhằm nâng cao đời sống, sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa cũng nhƣ đẩy mạnh sự phát triển toàn diện của miền núi, hải đảo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội tại khu vực này vẫn còn thấp hơn nhiều so với các khu vực khác của cả nƣớc. Mức sống thấp, trình độ dân trí chƣa đƣợc nâng cao, giao thông đi lại khó khăn, điều kiện chăm sóc y tế và phúc lợi xã hội còn thiếu thốn, là những vấn đề bức xúc đang đòi hỏi sự quan tâm, đầu tƣ nhiều hơn nữa của chính phủ đối với những vùng khó khăn này [19].
Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em luôn đƣợc Nhà nƣớc Việt Nam xác định là một trong những nhiệm vụ ƣu tiên của công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tăng cƣờng chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em cả nƣớc nói chung, cho miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa nói riêng đang là một vấn đề ƣu tiên trong chiến lƣợc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Những nỗ lực trong việc triển khai các chiến lƣợc quốc gia cũng nhƣ các chƣơng trình y tế đã đem lại những cơ hội khả quan cho việc chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ. Tuy nhiên, trong thực tế, không diễn ra một sự phát triển đồng đều giữa các vùng: miền xuôi và miền núi [4].
Trong thời gian qua, ngành y tế đã nỗ lực phấn đấu để tăng cƣờng tiếp cận với dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản thông qua nhiều chƣơng trình khác nhau, đặc biệt ở khu vực miền núi và đồng bào dân tộc. Ở một số địa phƣơng có đồng bào dân tộc thiểu số, đã triển khai loại hình cô đỡ thôn bản nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc thai nghén, giáo dục sức khỏe, vận động đẻ tại cơ sở y tế, thực hiện đỡ đẻ tại nhà với những trƣờng hợp phụ nữ không đến sinh con tại cơ sở y tế, phát hiện và chuyển tuyến kịp thời các trƣờng hợp nguy cơ cao nhằm giảm tai biến sản khoa, giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh [4]. Tỉnh Đăk Nông nói chung và Huyện Tuy Đức nói riêng là một trong những nơi thuộc khu vực miền núi gặp khó khăn. Địa phƣơng có tỷ lệ ngƣời đồng bào dân 2 tộc thiểu số cao, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu và thói quen sinh đẻ tại nhà; kinh tế khó khăn, ngƣời dân bận việc mƣu sinh cuộc sống, ít quan tâm chăm sóc sức khỏe, ít tiếp cận các dịch vụ y tế.
Đặc biệt, là vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với phụ nữ ở vùng sâu vùng xa, thực trạng mức sinh cao và phong tục tập quán lạc hậu là những nguyên nhân gây lên tình trạng tử vong của sản phụ và trẻ sơ sinh làm ảnh hƣởng rất lớn đến sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em ở địa phƣơng [32]. Huyện Tuy Đức hiện chƣa có cuộc điều tra đánh giá hay đề tài qui mô nào về thực trạng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của huyện, mặc dù hàng tháng, hàng năm đều có đầy đủ những số liệu về chƣơng trình Chăm sóc sức khỏe sinh sản của các tuyến với những con số báo cáo qua quản lý hành chính. Để tìm hiểu thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các bà mẹ có con dƣới một tuổi ở địa phƣơng này nhƣ thế nào? Việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và những khó khăn gặp phải của các bà mẹ ra sao? Chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng sử dụng dịch vụ trước-trong-sau sinh và một số yếu tố liên quan ở các bà mẹ có con dưới một tuổi tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông, năm 2014”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dƣới một tuổi tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông năm 2014. Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh của các bà mẹ có con dƣới một tuổi tại huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông năm 2014. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, tiêu chuẩn và nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản: Sức khỏe sinh sản: là một trạng thái hoàn hảo về mặt thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật trong mọi vấn đề liên quan về hệ thống sinh sản và các chức năng cũng nhƣ quá trình sinh sản (WHO, 1994).
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cai rô năm 1994 đã nâng khái niệm BVSKBMTE và KHHGD trƣớc đây lên một bƣớc mới bằng định nghĩa sức khoẻ sinh sản là một phần của sức khoẻ nói chung là sự hoà hợp hoàn toàn về thể chất tinh thần và xã hội của mọi vấn đề liên quan đến sinh sản, Ngoài việc không có bệnh tật của hệ thống sinh sản khái niệm này còn có hàm ý là mọi ngƣời kể cả nam nữ đều có quyền đƣợc nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ y tế các biện pháp kế hoạch hoá gia đình an toàn và hiệu quả và chấp nhận đƣợc theo lựa chọn bảo đảm ngƣời phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo điều kiện tốt nhất cho các cặp vợ chồng sinh đƣợc đứa con lành mạnh, SKSS bao gồm một loạt dịch vụ KHHGĐ, chăm sóc thai nghén và làm mẹ an toàn, phòng ngừa và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục cả HIV/AIDS nạo phá thai an toàn dự phòng điều trị vô sinh. Dịch vụ CSSKSS: đƣợc hiểu là dịch vụ tuân theo quy trình kỹ thuật đƣợc quy định trong Chuẩn Quốc gia về các dịch vụ CSSKSS, đáp ứng đƣợc nhu cầu và mong đợi của khách hàng đồng thời giúp những ngƣời cung cấp dịch vụ đạt đƣợc kết quả và hiệu quả cao, đƣợc khách hàng tin tƣởng, vì thế động viên ngƣời cung cấp dịch vụ tích cực hơn để không ngừng nâng cao chất lƣợng cung cấp dịch vụ [9]. Chuẩn quốc gia về dịch vụ chăm sóc SKSS: Là tiêu chí cho cơ sở và ngƣời cung cấp dịch vụ tự phấn đấu vƣơn lên đạt những tiêu chuẩn về chuyên môn, kỹ thuật đảm bảo chất lƣợng dịch vụ cung cấp, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của nhân dân [11]. Làm mẹ an toàn: Là tất cả các phụ nữ đều đƣợc nhận sự chăm sóc cần thiết để đƣợc hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ, bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có tai biến xảy ra.
Làm mẹ an toàn là một lĩnh 5 vực ƣu tiên trong CSSK của các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc phát triển [5]. Phụ nữ đƣợc quản lý thai: là những phụ nữ đẻ mà khi có thai đƣợc cán bộ y tế khám thai lần đầu, đƣợc ghi tên vào sổ khám thai và lập phiếu khám thai [9]. Phụ nữ đẻ đƣợc khám thai đầy đủ 3 lần: là số phụ nữ đẻ đƣợc cán bộ y tế khám 1 lần trở lên trong mỗi kỳ của 3 kỳ thai (3 tháng đầu, 3 tháng giữa, 3 tháng cuối) của lần đẻ này (chỉ tính cho những lần đến khám vì lý do thai sản, không tính lần đến khám khi đã chuyển dạ đẻ hoặc khám bệnh thông thƣờng khác) [9]. Phụ nữ đẻ đƣợc cán bộ y tế chăm sóc: là số phụ nữ đẻ (kể cả tại nhà) do cán bộ y tế đã đƣợc đào tạo về chăm sóc thai sản đỡ [9].
Phụ nữ đẻ và trẻ sơ sinh đƣợc chăm sóc sau sinh: là số bà mẹ và trẻ sơ sinh đƣợc cán bộ y tế thăm khám trong vòng 42 ngày sau khi sinh (kể cả đẻ tại nhà) [9]. Một số tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe sinh sản: 1. Tiêu chuẩn chăm sóc trƣớc sinh: Tất cả các phụ nữ mang thai đƣợc khám thai ít nhất một lần trong đó tỷ lệ đƣợc khám thai từ 3 lần trở lên đúng lịch ở mức trung bình đạt trên 70% đối vùng 1, trên 60% đối với vùng 2 và trên 50% đối với vùng 3 [15]. Tỷ lệ phụ nữ có thai đƣợc tiêm phòng uốn ván đủ liều trƣớc sinh ở mức trung bình đạt trên 80% đối vùng 1, trên 70% đối với vùng 2 và trên 60% vùng 3 [15].
Tiêu chuẩn chăm sóc khi sinh: Tỷ lệ phụ nữ sinh con có nhân viên y tế đƣợc đào tạo chuyên đỡ đẻ ở mức trung bình đạt trên 90% đối vùng 1, trên 85% đối với vùng 2 và trên 70% đối với vùng 3 [15]. Tiêu chuẩn chăm sóc sau sinh: Tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh đƣợc nhân viên y tế khám, từ khi sinh ra đến 42 ngày sau đẻ đạt ở mức trung bình đạt trên 80% đối vùng 1, trên 70% đối với vùng 2 và trên 50% đối với vùng 3. Một số nội dung chăm sóc bà mẹ trƣớc, trong và sau sinh: 1. Chăm sóc phụ nữ trƣớc sinh: Phụ nữ khi mang thai, cần phải đƣợc khám thai ít nhất 3 lần để đƣợc theo dõi sức khoẻ và tƣ vấn.
Đây là một trong những nội dung bắt buộc trong tiêu chí chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em [15]. Các nội dung chăm sóc bao gồm: theo dõi cân nặng, trong thời gian mang thai bà mẹ tăng trung bình từ 10 đến 12 Kg là bình thƣờng. Tiêm phòng uốn ván đầy đủ theo hƣớng dẫn của cán bộ y tế để phòng bệnh uốn ván sơ sinh. Uống viên sắt/ viên đa vi chất đều đặn từ khi có thai đến sau sinh 1 tháng để phòng chống thiếu máu thiếu sắt.
Ăn nhiều loại thức ăn bổ dƣỡng nhƣ thịt, cá trứng sữa, rau quả tƣơi… và ăn nhiều hơn bình thƣờng. Ngoài ra một số nội dung khác về ăn uống cần lƣu ý đó là: Dùng muối Iốt hàng ngày, làm việc nhẹ nhàng và nghỉ ngơi nhiều hơn, giữ cho tinh thần luôn thoải mái, giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ, đặc biệt là vệ sinh phụ nữ hàng ngày. Không dùng các chất kích thích, không tiếp xúc với thuốc trừ sâu và hoá chất độc, chỉ dùng thuốc khi có chỉ dẫn của cán bộ y tế. Sinh đẻ tại cơ sở y tế.