CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BẢO HIỂM CHĂM SÓC SỨC KHỎE PVI CARE 1. Một số khái niệm chung. Khái niệm về chiến lược. Chiến lược (strategy) hay chiến lược kinh doanh (business strategy) là từ được các chủ doanh nghiệp nhắc đến rất nhiều ở các diễn đàn kinh doanh.
Đưa ra những chiến lược kinh doanh sáng suốt là kỹ năng mặc nhiên các chủ doanh nghiệp phải có để đưa doanh nghiệp của mình đến với thành công. Quinn (1980), “Chiến lược là sự tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và các chuổi hoạt động của doanh nghiệp thành một tổng thể” [5] Như vậy, có thể hiểu chiến lược: là tập hợp các quyết định của mỗi cấp quản lý tương ứng về mục tiêu trong một thời gian nhất định nhằm đưa ra các biện pháp, cách thức, con đường thực hiện kế hoạch nhằm hoàn thành mục tiêu với hiệu quả cao nhất. Vai trò của chiến lược Vai trò của chiến lược thể hiện ở những mặt sau: i. Định hướng tầm nhìn.
Chiến lược giúp DN định hướng dài hạn, là cơ sở vững chắc cho triển khai hoạt động trong tác nghiệp. Thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược không được thiết lập rõ ràng, có luận cứ sẽ làm cho hoạt động mất hướng, chỉ thấy trước mắt không thấy được trong dài hạn, chỉ thấy cái cục bộ mà không thấy cái toàn thể. Hoạt động kinh doanh của DN chịu tác động, ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài, bên trong. Thông qua hoạt động quản trị chiến lược, doanh nghiệp có thể định hướng tầm nhìn chiến lược, sứ mệnh, nhiệm vụ và mục tiêu của họ.
Các hệ thống cập nhật tình hình thị trường kinh doanh giúp các nhà quản trị có thể dự báo xu hướng, đồng thời xác định hướng đi mà doanh nghiệp hướng tới trong tương lai, những việc cần làm để đạt được mục tiêu. 5 Khi biết được đích đến để hướng tới và mục tiêu trong tương lai, các nhà quản trị và đội ngũ nhân viên có thể hiểu rõ được những việc mà mình cần làm để đạt được mục tiêu cũng như gắn kết bền chặt hơn. Thích nghi với môi trường biến động liên tục Có chiến lược tốt sẽ giúp DN có các phương án tốt nhất để thích ứng với biến động, thay đổi của thị trường. Chiến lược hình thành dựa trên những thông tin ở trong, ngoài doanh nghiệp, chính vì vậy nó mang tính khách quan, khoa học, định hướng giúp DN có thể đạt mục tiêu dài hạn.
Thông qua đó, các nhà lãnh đạo có thể giám sát chặt chẽ những biến động thị trường, có những điều chỉnh nếu cần thiết. Điều này đặc biệt quan trọng trong một môi trường thay đổi phức tạp, cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội, ngăn chặn rủi ro Chiến lược cũng giúp doanh nghiệp đưa ra những quyết định tận dụng cơ hội và ngăn chặn những rủi ro trên thị trường, phát huy điểm mạnh và hạn chế tối đa yếu điểm trong những hoạt động nội bộ. Tạo cơ sở cho các doanh nghiệp chủ động phát triển các hướng kinh doanh phù hợp với môi trường trên cơ sở tận dụng các cơ hội, tránh được các rủi ro, phát huy các lợi thế của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Công cụ cạnh tranh hiệu quả Chiến lược kinh doanh là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hưởng và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Chính quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Ngoài những yếu tố cạnh tranh như: giá cả, chất lượng, quảng cáo, marketing, các doanh nghiệp còn sử dụng chiến lược kinh doanh như một công cụ cạnh tranh có hiệu quả.
Đặc điểm của chiến lược i. Tính hệ thống Tính hệ thống của chiến lược liên quan đến việc xem xét các vấn đề tổng quát và ý nghĩa cốt lõi đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện và một kế hoạch tổng thể để đảm bảo sự liên kết và sự nhất quán với các hoạt động của tổ chức. Tính bao quát 6 Một chiến lược hiệu quả phải có khả năng bao quát các vấn đề dài hạn và đồng thời đáp ứng một cách linh hoạt các vấn đề ngắn hạn.
Nó cần kết hợp sự khéo léo giữa việc định hình quy mô lớn và tập trung vào quy mô vừa và nhỏ. Điều này tạo ra một sức mạnh lớn về sự liên kết nội bộ, đồng thời cung cấp một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.Tính linh hoạt Sự linh hoạt trong chiến lược cho phép doanh nghiệp thay đổi và thích ứng với các tình huống khác nhau. Điều này đảm bảo rằng doanh nghiệp có khả năng nhanh chóng đưa ra các phản ứng và điều chỉnh để tận dụng cơ hội mới và đối phó với các thách thức. Tính cụ thể và lượng hóa Tính cụ thể và khả năng đo lường là đặc tính quan trọng của một chiến lược.
Việc cụ thể hóa và mô tả chi tiết các bước thực hiện giúp đo lường hiệu quả và chính xác hơn. Tính lượng hóa trong chiến lược đòi hỏi việc xác định mục tiêu tổng quát và dự báo các chỉ tiêu cụ thể. Điều này cung cấp một cơ sở chắc chắn cho việc theo dõi và có những tinh chỉnh phù hợp trong chiến lược. Tính dài hạn Sự lựa chọn giữa chiến lược ngắn hạn và dài hạn phụ thuộc vào mục tiêu và tình huống cụ thể của doanh nghiệp.
Trong những trường hợp mà vấn đề đòi hỏi sự tiếp cận toàn diện, như đối mặt với thay đổi cấu trúc công ty, mở rộng quy mô hoặc thâm nhập vào các thị trường mới, thì chiến lược dài hạn có vai trò quan trọng. Nó cho phép doanh nghiệp định hướng và đầu tư nguồn lực một cách cân nhắc để đạt được mục tiêu lâu dài. Một số loại hình chiến lược Hiện nay, có một số loại hình chiến lược phổ biến sau: i. Chiến lược chi phí Đây là chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp bằng cách thiết kế ra các sản phẩm - dịch vụ có giá thành rẻ và mức độ giá phù hợp hơn so với các đối thủ.
Điều này giúp DN chiếm được thị phần lớn trên thị trường chung. Chiến lược chi phí (cost leadership strategy) là chiến lược marketing tập trungvào việc mở rộng quy mô cung cấp các sản phẩm - dịch vụ ở mức giá thấp nhưng vẫn đảm bảo chất lượng để chiếm được nhiều thị phần tại thị trường mục tiêu. 7 Chiến lược này thường bỏ qua các đoạn thị trường khác nhau và chỉ quan tâm đến thị trường tại phạm vi lớn hơn. Thực tế, mục đích của việc doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm có giá thành thấp hơn các đối thủ cạnh tranh của mình là để hấp dẫn khách hàng và giành khách hàng từ tay đối thủ.
Chiến lược dẫn đầu về chi phí được xem là giải pháp hiệu quả giúp nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp so với các đối thủ khác cùng một lĩnh vực dựa trên nhữnglợi thế về chi phí. Chiến lược khác biệt hóa Chiến lược khác biệt hoá yêu cầu doanh nghiệp phân tích và lựa chọn một đặc tính thương hiệu quan trọng mà khách hàng mục tiêu mong muốn, sau đó định vị thương hiệu và sử dụng chiến lược truyền thông nhằm thông báo mình là thương hiệu duy nhất giải quyết được vấn đề hoặc nhu cầu đó. Chiến lược khác biệt hóa giúp DN dễ gây dấu ấn trong lòng khách hàng. DN có thể được sử dụng chiến lược khác biệt hóa nhằm định hướng kinh doanh, thương hiệu và marketing.
Mục tiêu là trở thành “thương hiệu độc tôn” trong lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động. Chiến lược tập trung Chiến lược tập trung trong tiếng Anh là Concentration strategy. Chiến lược tập trung là chiến lược cạnh tranh chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của một vài nhóm khách hàng, một vài phân khúc thị trường. Nếu DN của bạn có cơ sở khách hàng lớn thì chiến lược tập trung là sự lựa chọn khôn ngoan, nhằm tạo ra một sản phẩm thu hút nhóm đối tượng cụ thể nào đó.
DN sở hữu được những ưu thế vượt trội hơn đối thủ đó có thể là vị trí địa lý, hạng khách hàng hay một phân khúc đặc thù có ưu thế, chiến lược này sẽ phục vụ một ngách thị trường nhất định, đáp ứng nhu cầu cho một đoạn thị trường hay một nhóm hữu hạn người tiêu dùng. Chiến lược chất lượng Đôi khi điều có thể khiến mặt hàng của bạn trở nên khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh có thể là sản phẩm và thương hiệu đằng sau nó. Chiến lược chất lượng tập trung vào những khách hàng đang tìm kiếm sản phẩm chất lượng cao nhất trên thị trường. Khái niệm về phát triển Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [10] thì “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới.
Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ chưa tốt đến hoàn hảo về mọi mặt. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
Quá trình phát triển có thể diễn ra từ từ hoặc diễn ra nhanh chóng (hay còn gọi là nhảy vọt) để sinh ra những sự vật, hiện tượng mới thay thế cho những sự vật, hiện tượng cũ. Sự phát triển là quá trình vận động, thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất. Chu kỳ này diễn ra theo hình xoắn ốc, nghĩa là đi hết một chu kỳ thì quá trình phát triển sẽ quay lại mức ban đầu và tiếp tục vấn động để có sự thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất (nhưng ở một cấp độ cao hơn chu kỳ ban đầu). Tựu chung lại, phát triển là sự vận động có khuynh hướng tạo ra cái mới hợp quy luật.
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận của sự phát triển, một quan điểm khoa học trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Nội dung cơ bản của quan điểm phát triển như sau: Khi xem xét bất cứ một sự vật, hiện tượng nào, cần đặt chúng vào sự vận động, phát triển và sự chuyển hóa, biên đổi của chúng.