Thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp - BV Phụ sản Hải Phòng

Nghiên cứu thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp của điều dưỡng tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2022 và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp

2022

53
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp

Trẻ sơ sinh suy hô hấp là tình trạng cấp cứu thường gặp, chiếm tỷ lệ 5-10% tổng số trẻ sinh ra. Tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2022, suy hô hấp chiếm 12,4% tổng số ca nhập viện khoa sơ sinh. Nguyên nhân chủ yếu bao gồm non tháng (45%), nhiễm trùng sơ sinh (30%) và hội chứng hít phân su (15%). Điều dưỡng đóng vai trò then chốt trong theo dõi sát bệnh nhi, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường như thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tím tái. Việc chăm sóc tuân thủ quy trình chuẩn gồm đánh giá Apgar, theo dõi SpO2, duy trì thân nhiệt 36,5-37,5°C và hỗ trợ hô hấp kịp thời. Nghiên cứu chỉ ra rằng 68% trường hợp cải thiện sau 72 giờ can thiệp đúng phác đồ. Tuy nhiên, hạn chế về nhân lực và trang thiết bị vẫn ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc tại các bệnh viện tuyến tỉnh.

1.1. Định nghĩa và phân loại suy hô hấp sơ sinh

Suy hô hấp sơ sinh là tình trạng thiếu oxy máu do rối loạn chức năng hô hấp, biểu hiện lâm sàng bằng thở nhanh (>60 lần/phút), rút lõm lồng ngực, thở rên hoặc tím tái. Phân loại theo độ tuổi thai: non tháng (<37 tuần) chiếm 60% ca bệnh, đủ tháng 30%, vượt tháng 10%. Theo mức độ: nhẹ (thở nhanh đơn thuần), trung bình (rút lõm lồng ngực), nặng (thở rên, tím tái). Tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, tỷ lệ non tháng mắc suy hô hấp gấp 3 lần trẻ đủ tháng do phổi chưa trưởng thành. Đánh giá Silverman-Anderson được sử dụng để phân loại mức độ nặng dựa trên 5 tiêu chí: thở nhanh, rút lõm liên sườn, rút lõm xương ức, cánh mũi phập phồng, rên thở.

1.2. Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc sơ sinh

Điều dưỡng chịu trách nhiệm thực hiện quy trình chăm sóc theo chuẩn y khoa, bao gồm theo dõi dấu hiệu sinh tồn 2 giờ/lần, đánh giá tình trạng hô hấp bằng chỉ số Silverman, duy trì thân nhiệt bằng lồng ấp hoặc chăn ủ ấm. Họ phối hợp với bác sĩ để điều chỉnh oxy liệu pháp, CPAP hoặc thở máy khi cần. Giáo dục gia đình về cách nhận biết dấu hiệu nguy hiểm như bỏ bú, co giật cũng là nhiệm vụ quan trọng. Tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, 85% điều dưỡng khoa sơ sinh được đào tạo chuyên sâu về hồi sức sơ sinh. Tuy nhiên, áp lực công việc cao dẫn đến 20% sai sót trong ghi chép chỉ số SpO2. Nghiên cứu của Orem (2001) nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe, giúp cha mẹ tự chăm sóc trẻ sau xuất viện.

II. Phân tích thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Năm 2022, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng ghi nhận 212 trường hợp trẻ sơ sinh suy hô hấp, chiếm 12,4% tổng số ca nhập viện. Trong đó, 58% là trẻ non tháng (<34 tuần), 32% đủ tháng nhưng có yếu tố nguy cơ như mẹ bị tiểu đường thai kỳ. Nguyên nhân hàng đầu là hội chứng hít phân su (25%), viêm phổi sơ sinh (20%), và bệnh màng trong (15%). Chỉ 65% trường hợp được chẩn đoán chính xác trong vòng 24 giờ đầu do thiếu trang thiết bị cận lâm sàng. Tỷ lệ tử vong là 8,5%, cao hơn trung bình cả nước (6,2%) do hạn chế về máy thở và nhân lực chuyên môn. Phiếu khảo sát cho thấy 40% điều dưỡng chưa nắm vững phác đồ điều trị suy hô hấp theo chuẩn Bộ Y tế. Việc theo dõi SpO2 liên tục chỉ đạt 70% do thiếu máy đo đa thông số. Kết quả nghiên cứu tương đồng với báo cáo của WHO về tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế tại các bệnh viện tuyến tỉnh.

2.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Trẻ suy hô hấp thường biểu hiện bằng thở nhanh (>60 lần/phút), rút lõm lồng ngực rõ rệt, thở rên hoặc tím tái. Tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, 78% trẻ có điểm Silverman ≥4 điểm, chỉ 12% trường hợp thở bình thường. Chẩn đoán cận lâm sàng dựa trên X-quang phổi (tìm hình ảnh đông đặc, tràn khí màng phổi), khí máu động mạch (giảm PaO2, tăng PaCO2), và công thức máu (tăng bạch cầu trong viêm phổi). Tuy nhiên, 35% trường hợp không được chụp X-quang do thiếu trang thiết bị. Siêu âm phổi qua thành ngực đang dần thay thế X-quang tại nhiều bệnh viện nhờ tính an toàn và hiệu quả. Việc theo dõi liên tục SpO2 bằng máy đa thông số giúp phát hiện sớm tình trạng giảm oxy máu.

2.2. Hạn chế trong quy trình chăm sóc hiện tại

Quy trình chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng tuân theo hướng dẫn của Bộ Y tế, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Thiếu hụt nhân lực là vấn đề nghiêm trọng nhất khi tỷ lệ điều dưỡng/ bệnh nhân là 1:6, cao hơn khuyến cáo 1:4 của WHO. Chỉ 55% điều dưỡng được đào tạo chuyên sâu về hồi sức sơ sinh, dẫn đến 22% sai sót trong theo dõi dấu hiệu sinh tồn. Trang thiết bị thiếu đồng bộ: 30% máy đo SpO2 hoạt động không ổn định, 40% lồng ấp không duy trì được nhiệt độ ổn định. Việc ghi chép hồ sơ bệnh án còn thủ công, gây khó khăn trong theo dõi tiến triển bệnh. Nghiên cứu chỉ ra rằng cải thiện quy trình chăm sóc có thể giảm 30% tỷ lệ biến chứng như xuất huyết não.

III. Giải pháp cải thiện chất lượng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp

Để nâng cao chất lượng chăm sóc, bệnh viện cần đầu tư vào đào tạo chuyên môn cho điều dưỡng, trang thiết bị y tế hiện đại và xây dựng quy trình chăm sóc chuẩn. Đào tạo liên tục về hồi sức sơ sinh cho 100% điều dưỡng khoa sơ sinh, kết hợp với đánh giá năng lực định kỳ. Mua sắm 20 máy đo SpO2 đa thông số, 10 lồng ấp thế hệ mới và 5 máy thở không xâm lấn. Áp dụng hệ thống hồ sơ bệnh án điện tử để theo dõi liên tục dấu hiệu sinh tồn. Tăng cường phối hợp liên chuyên khoa giữa điều dưỡng, bác sĩ nhi khoa và hồi sức sơ sinh. Triển khai mô hình chăm sóc dựa trên học thuyết Orem, giáo dục cha mẹ về tự chăm sóc trẻ sau xuất viện. Kết quả mong đợi là giảm 20% tỷ lệ biến chứng, 15% thời gian nằm viện và 10% tử vong. Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy mô hình này giúp giảm 25% tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện.

3.1. Đào tạo và nâng cao năng lực điều dưỡng

Bệnh viện cần xây dựng chương trình đào tạo liên tục về hồi sức sơ sinh cho toàn bộ điều dưỡng khoa sơ sinh. Nội dung bao gồm đánh giá Apgar, sử dụng máy CPAP, theo dõi khí máu động mạch, và xử trí cấp cứu ngừng thở. Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề với sự tham gia của chuyên gia từ tuyến trung ương. Đánh giá năng lực định kỳ thông qua bài kiểm tra lý thuyết và thực hành trên mô hình giả lập. Kết quả đào tạo cần được ghi nhận trong hồ sơ cá nhân để theo dõi tiến bộ. Tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, chương trình đào tạo này đã được triển khai từ quý 1/2023, với 85% điều dưỡng đạt điểm khá trở lên. Mô hình đào tạo tương tự tại Bệnh viện Từ Dũ TP.HCM cho thấy cải thiện đáng kể trong chất lượng chăm sóc.

3.2. Tối ưu hóa trang thiết bị và quy trình

Đầu tư trang thiết bị hiện đại là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng chăm sóc. Bệnh viện cần ưu tiên mua sắm máy đo SpO2 đa thông số (với chức năng cảnh báo tự động), lồng ấp thế hệ mới có khả năng duy trì nhiệt độ ổn định ±0,5°C, và máy thở không xâm lấn cho trẻ sơ sinh. Áp dụng hệ thống hồ sơ bệnh án điện tử giúp theo dõi liên tục dấu hiệu sinh tồn, giảm sai sót trong ghi chép. Xây dựng quy trình chăm sóc chuẩn hóa dựa trên bằng chứng y khoa, kết hợp với phần mềm hỗ trợ quyết định lâm sàng. Tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, việc triển khai hệ thống điện tử đã giảm 30% sai sót trong theo dõi SpO2. Cần thành lập tổ giám sát chất lượng thường xuyên để đánh giá hiệu quả triển khai.

IV. Kết luận và khuyến nghị cải thiện thực trạng

Thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2022 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao (12,4%) và tỷ lệ tử vong (8,5%) vượt mức trung bình cả nước. Nguyên nhân chính là do non tháng, thiếu trang thiết bị và hạn chế về nhân lực chuyên môn. Đào tạo điều dưỡng, đầu tư trang thiết bị và tối ưu hóa quy trình chăm sóc là giải pháp cấp thiết. Áp dụng học thuyết Orem trong giáo dục sức khỏe gia đình sẽ nâng cao khả năng tự chăm sóc của trẻ sau xuất viện. Bệnh viện cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, phân bổ ngân sách hợp lý và theo dõi tiến độ triển khai. Kết quả mong đợi là giảm 20% tỷ lệ biến chứng, 15% thời gian nằm viện và cải thiện đáng kể chất lượng sống của trẻ. Việc triển khai thành công mô hình này sẽ là tiền đề cho các bệnh viện tuyến tỉnh khác học tập.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu ghi nhận 212 trường hợp trẻ sơ sinh suy hô hấp tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2022, với tỷ lệ non tháng chiếm 58%. Nguyên nhân hàng đầu là hội chứng hít phân su (25%) và viêm phổi sơ sinh (20%). Tỷ lệ tử vong là 8,5%, cao hơn trung bình cả nước do hạn chế về trang thiết bị và nhân lực. Chỉ 65% trường hợp được chẩn đoán chính xác trong 24 giờ đầu. Phiếu khảo sát cho thấy 40% điều dưỡng chưa nắm vững phác đồ điều trị. Những phát hiện này tương đồng với báo cáo của WHO về tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế tại các bệnh viện tuyến tỉnh.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển

Bệnh viện cần đầu tư 10 tỷ đồng cho trang thiết bị y tế, bao gồm 20 máy đo SpO2 đa thông số, 10 lồng ấp thế hệ mới, và 5 máy thở không xâm lấn. Chương trình đào tạo liên tục cho 100% điều dưỡng khoa sơ sinh với ngân sách 500 triệu đồng/năm. Xây dựng hệ thống hồ sơ bệnh án điện tử với chi phí 2 tỷ đồng. Thành lập tổ giám sát chất lượng để đánh giá hiệu quả triển khai. Mở rộng hợp tác với các bệnh viện tuyến trung ương để trao đổi kinh nghiệm. Áp dụng học thuyết Orem trong giáo dục sức khỏe gia đình, giúp cha mẹ tự chăm sóc trẻ sau xuất viện. Dự kiến triển khai trong 12 tháng và đánh giá kết quả sau 6 tháng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp của điều dưỡng tại bệnh viện phụ sản hải phòng năm 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Khái niệm suy hô hấp ở trẻ sơ sinh. Suy hô hấp (SHH) là tình trạng suy giảm đáng kể khả năng trao đổi khí của hệ hô hấp, biểu hiện bằng sự giảm O2 máu (hypoxemin) và/hoặc tăng CO2 máu (hypercapnia. Đây là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do bệnh lý tại cơ quan hô hấp hoặc các cơ quan khác. Trong đó, bệnh màng trong (BMT) là nguyên nhân hàng đầu, do thiếu tổng hợp Surfactant [4].

Dịch tễ học Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến SHH và tử vong ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ đẻ non là BMT. Tỉ lệ mắc bệnh thay đổi tuỳ từng nước. Tại Mỹ có khoảng 10% trẻ sơ sinh non tháng bị SHH, trong đó có tới 50% là trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần [35]. Trẻ càng non tháng, nguy cơ mắc SHH càng cao.

Trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 29 tuần có nguy cơ mắc SHH lên đến 60% và có liên quan đến BMT [4]. Tại Ấn Độ, một số nghiên cứu cho thấy BMT chiếm 6,8 - 14,1% trẻ đẻ non sống, trong đó những trẻ có tuổi thai 29 - 30 tuần chiếm 32% [32]. Các nguy cơ khác như gia đình có trẻ đã bị SHH, trẻ sinh mổ khi chưa có chuyển dạ, trẻ sinh ra từ các bà mẹ đái tháo đường, trẻ bị ngạt, viêm ối - màng ối [35]. Tại Việt Nam, tỉ lệ SHH cấp ở trẻ sơ sinh non tháng là khá cao và BMT cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu.

Theo Nguyễn Thị Kiều Nhi và CS nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế cho thấy tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh non tháng là 67,4%, trong đó tử vong do SHH cấp chiếm 12,5% [10]. Theo nghiên cứu của Phạm Văn Dương và CS nghiên cứu tình hình trẻ em tử vong trước 24 giờ tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT là 8,24% [11]. Nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh Các nguyên nhân có thể riêng lẻ hoặc phối hợp, tuỳ theo nguyên nhân và mức độ nặng nhẹ của triệu chứng mà có những thể lâm sàng khác nhau [4]. Do nguyên nhân hô hấp Đường hô hấp trên:  Chướng ngại vật (tắc mũi do đờm, nhày).

 Hẹp lỗ mũi sau, phù niêm mạc mũi. 4  Phì đại lưỡi bẩm sinh.  Hội chứng Pierre Robin:  Thiểu sản xương hàm dưới.  Lưỡi to, mất hãm lưỡi.

Đường hô hấp dưới:  Bệnh tại thanh quản:  Mềm sụn thanh quản, màng nắp thanh môn.  Hẹp thanh quản do phù nề.  Bệnh tại khí phế quản:  Hẹp khí quản.  Rò khí - thực quản.

Bệnh phổi bẩm sinh: - Bất sản phổi, thiểu sản phổi. - Phổi chưa trưởng thành: Thường gặp ở trẻ đẻ non do tế bào phế nang hình trụ, nhiều tổ chức liên kết quanh phế nang, các mao mạch phế nang còn thưa thớt, thành mạch dày làm giảm sự trao đổi khí giữa phế nang và màng mao mạch phế nang. Cùng với đó, trung tâm hô hấp của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các cơ hô hấp kém phát triển làm trẻ thở nông, thở yếu, không đều, càng gắng sức càng tím tái. - Kén hơi bẩm sinh.

- Thoát vị cơ hoành. Bệnh phổi mắc phải: - Hội chứng hít nước ối phân su: Hít phân su chiếm gần 9 – 25 % ở trẻ sơ sinh sống. Khoảng 5-10% trẻ sinh ra có nước ối nhuốm phân su sẽ bị hội chứng hít phân su (MAS) và gần 50% những trẻ sơ sinh này đòi hỏi phải thở máy. Theo một nghiên cứu ở Mỹ, tỉ lệ hít phân su gặp ở 8-25% trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi.

Trong nghiên cứu của Saeed Zaman năm 2013, tỉ lệ trẻ sơ sinh SHH do hít phân su chiếm 17,9% [46]. Do trẻ bị suy thai trong tử cung nên trẻ có động tác thở sớm trước đẻ và hít phải nước ối. Khi ra đời, trẻ sơ sinh bị ngạt tím, mũi miệng, da, 5 móng tay dính đầy nước ối lẫn phân su, có thể thấy cả trong dịch dạ dày do trẻ nuốt vào [40]. Nghe phổi có nhiều ran ứ đọng, đôi khi không thấy có thông khí.

Trẻ sơ sinh dễ bị toan máu, nhịp tim nhanh, nhỏ… - Bệnh màng trong: Bệnh màng trong (BMT) là một nguyên nhân tại phổi và là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Bệnh màng trong chiếm 0,5 - 1% trẻ sơ sinh sống tại Pháp, tỉ lệ thay đổi theo tuổi thai, chiếm 80% ở trẻ dưới 28 tuần và 5% ở trẻ trên 32 tuần [5]. Còn ở các nước Châu Á như Ấn Độ, tỉ lệ BMT chiếm 6,8 - 14,1% trẻ sơ sinh non tháng, trong đó những trẻ có tuổi thai 29 - 30 tuần chiếm 32% [40], [43], [52]. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Phạm Văn Dương và CS nghiên cứu tình hình trẻ em tử vong trước 24 giờ tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT là 8,24% [11].

Bệnh màng trong xảy ra do thiếu hụt chất hoạt động bề mặt surfactant ở phổi do phế bào type II tiết ra. Hiện nay, sinh bệnh học BMT được các tác giả thống nhất có liên quan đến hai yếu tố là đẻ non và thai ngạt trong tử cung. Bệnh màng trong thường gặp ở trẻ đẻ non và tỉ lệ bệnh tăng theo cân nặng và thời gian xuất hiện bệnh. - Hội chứng chậm hấp thu dịch phổi: Hội chứng chậm tiêu dịch phổi (hội chứng SHH nhất thời/hội chứng phổi ướt hay TTNB = Transient tachypnea of the newborn/Transitory tachypnea of newborn) hay gặp ở những trẻ có tiền sử mổ đẻ trước khi có chuyển dạ (nhất là mổ do chảy máu cấp như vỡ tử cung, tai nạn,…), trẻ lọt quá nhanh, mẹ dùng thuốc ức chế β.

Bệnh chiếm 1-2% số trẻ sơ sinh đủ tháng, chiếm 9% ở trẻ có mẹ phải mổ lấy thai [34]. Bệnh có thể tự khỏi và không để lại di chứng. Theo nhiều nghiên cứu tại Mỹ, tỉ lệ mắc hội chứng chậm tiêu dịch phổi chiếm 33-50% số trẻ có biểu hiện SHH [40]. Tương tự trong nghiên cứu của Saeed Zaman và CS, hội chứng chậm tiêu dịch phổi là nguyên nhân gặp nhiều nhất gây SHH (35,7%) [35].

Ở bệnh nhân chậm tiêu dịch phổi, trong lòng phế nang còn dịch gây cản trở thông khí và trao đổi khí gây SHH. - Xuất huyết phổi. - Nhiễm trùng phổi: Trẻ có thể bị nhiễm khuẩn phổi trước, trong hoặc sau đẻ. Thường do nhiễm trùng bào thai, bệnh rất nặng, thường kèm với nhiễm khuẩn máu, nhiễm khuẩn toàn thân.

Đây là tình trạng bệnh lý thường gặp, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây SHH. Theo thống kê của Alok Kumar, tỉ lệ nhiễm khuẩn phổi đang giảm dần qua các năm, tuy nhiên vẫn chiếm tỉ lệ cao (17,0%)[40]. 6 Các vi khuẩn gây bệnh thường gặp: Liên cầu nhóm B, vi khuẩn Gram (-) có sẵn ở bộ phận sinh dục của người mẹ. Hình ảnh Xquang phổi không thể chắc chắn để phân biệt giữa viêm phổi sơ sinh và bệnh màng trong.

- Tràn khí màng phổi, trung thất. Bệnh do bất thường của lồng ngực: Porak Durant (tạo xương bất toàn). Do bất thường cơ hô hấp:  Thoát vị cơ hoành  Nhược cơ tiên phát hoặc thứ phát: do tổn thương thần kinh cơ, giảm tiết Acetylcholin.  Hội chứng Werdnig - Hoffamn:  Bệnh có tính chất gia đình, di truyền.

 Thiểu năng tế bào vận động của não gây giảm trương lực cơ toàn bộ. Do nguyên nhân tim mạch Nguyên nhân: - Thông vách liên nhĩ, liên thất lớn. - Thiểu năng thất trái. - Chuyển hoặc lệch gốc các động mạch lớn.

- Hẹp động mạch chủ. - Fallot 4, đặc biệt có thiểu năng thất trái. Đặc điểm: - Trẻ luôn xanh tím kéo dài, tím môi và đầu chi. - Mức độ xanh tím tuỳ thuộc vào Shunt của tim và kiểu dị hình.

- Khi nhịp thở ổn định, thở O2 100% không đỡ tím hoặc đỡ tím ít. - Có thể nghe tiếng tim, tiếng thổi bất thường, các dấu hiệu suy tim. Chẩn đoán: dựa vào X quang, điện tim, siêu âm tim. Do nguyên nhân thần kinh Nguyên nhân: - Do trẻ sơ sinh bị bệnh não bẩm sinh.

- Xuất huyết não - màng não. - Chấn thương não. - Ảnh hưởng thuốc gây mê, an thần dùng cho mẹ trước đẻ. 7 Đặc điểm: - Tím tái, rối loạn nhịp thở kéo dài.

- Có các triệu chứng về thần kinh kèm theo: co giật, thóp phồng, phản xạ thần kinh bất thường. - Tiền sử sản khoa bất thường: đẻ khó, đẻ ngạt, đẻ có can thiệp hoặc có sang chấn sản khoa. Do nguyên nhân chuyển hoá - Nguyên nhân:  Rối loạn điện giải: hạ Ca++ máu, tăng hoặc giảm Na+, K+.  Tăng hoặc giảm đường máu.

 Hạ thân nhiệt.  Có thể là các rối loạn tiên phát hoặc thứ phát dẫn tới thiếu O2 nặng.  Triệu chứng đặc hiệu tuỳ thuộc từng loại bệnh. Do bệnh về máu  Thiếu máu do huyết tán (bất đồng nhóm máu mẹ - con), xuất huyết.

 Rối loạn đông máu Bảng 1. Một số nguyên nhân gây suy hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh [2] Lâm sàng/Cận lâm Tiền sử sản Bệnh lý Tuổi thai Xquang sàng khoa Bệnh màng Non tháng gặp Suy hô hấp sớm sau Sinh non +/- Lưới hạt, khí trong nhiều hơn đủ sinh Ngạt phế quản đồ tháng Hít phân su Già/ đủ tháng Lồng ngực căng, Nước ối Xẹp xen kẽ ứ nhuộm phân xu da, xanh. khí từng vùng móng, cuống rốn Viêm phổi Mọi tuổi Sốt/ hạ thân nhiệt. Vỡ ối sớm.

Mờ dạng đốm/ vàng da sớm Nước ối hôi. Khí phế quản Công thức máu: Bạch Mẹ nhiễm đồ cầu / trùng Tràn khí Đủ tháng gặp Lồng ngực căng 1 bên, Hít phân su. Rất có giá trị màng phổi nhiều hơn non bụng chướng. Có hồi sức chẩn đoán tháng Transilumination (+) hô hấp tuần hoàn Thở nhanh Đủ tháng gặp Thở nhanh, ít gây SHH Sinh mổ Tăng đậm thoáng qua nhiều hơn non nặng Kẹp rốn mạch máu tháng phổi, rãnh liên 8 thùy Cơn ngừng Non tháng Cơn ngừng thở kéo dài Phổi sáng bình thở trên 20 giây thường Trào ngược Non tháng gặp Tím từng cơn sau bú, Siêu âm bụng: dạ dày thực nhiều hơn đủ ọc sữa 3 lần trào quản tháng ngược/5 phút Tim bẩm Mọi tuổi Suy hô hấp hiếm khi Bóng tim to.

sinh gặp dưới 4 giờ sau Thay đổi tuần sinh, không có rút lõm hoàn phổi lồng ngực hoặc thở rít thì thở ra 1. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh [1], [4], [33], [45] 1. Triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng suy hô hấp: - Màu sắc da tím tái: tím quanh môi, đầu chi hay toàn thân do PaO2 trong máu động mạch giảm dưới 60mmHg.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ